Báo cáo Phát triển hệ thống GAP cho nhà sản xuất và xuất khẩu thanh long ở tỉnh Bình Thuận và Tiền Giang

Người nông dân sản xuất thanh long ởViệt Nam thấy rằng giá thanh long của họgiảm đến 60% vào năm 2000. Nó được cho là do một phần dựa vào tiêu thụnội địa hay chỉxuất sang những thịtrường ởcác nước láng giềng. Có khoảng 10 nhà xuất khẩu thanh long ởViệt nam nhưng phần lớn thanh long lại được sản xuất chủyếu từnhững nông dân sản xuất nhỏlẽ. Lợi tức từthanh long sẽ được cải thiện rõ nét nếu những hộsản xuất nhỏnày và nhà xuất khẩu có thểmởrộng ra thịtrường mới giá trịcao hơn ởChâu Âu và Bắc Mỹ. Nhưng kém may thay, những yêu cầu khắc khe và gần đây mối quan tâm của người tiêu thụlà thực phẩm phải an toàn và an toàn có nghĩa là nhà nông Việt nam có thểxuất khẩu thanh long sang thịtrường có giá trịcao nếu họsản xuất thanh long theo hướng an toàn (GAP). Dựán này sẽphát triển dựa trên nền tản thực hiện tiêu chuẩn EUREPGAP cho nhóm nông dân sản xuất thanh long và tiêu chuẩn BRC cho nhà đóng gói ởBình thuận nhằm giúp nông dân Việt Nam có thểxuất khẩu thanh long sang thịtrường đòi hỏi chất lượng cao ởChâu Âu. Thịtrường đòi hỏi chất lượng cao đã được xác định và được kiểm chứng qua việc chứng nhận cho nhóm sản xuất. Việc tập huấn nhân sựtrong dựán và các đơn vịtưnhân đã được thực hiện một cách hiệu quảvà phát triển ởmột tầm mức cao đảm bảo sẽtiếp tục phát triển, mởrộng mô hình và dần dần lan rộng mô hình mẫu trong sản xuất GAP cho những nông dân trồng thanh long khác

pdf30 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 15/08/2014 | Lượt xem: 1553 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Phát triển hệ thống GAP cho nhà sản xuất và xuất khẩu thanh long ở tỉnh Bình Thuận và Tiền Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phát triển hệ thống GAP cho nhà sản xuất và xuất khẩu thanh long ở tỉnh Bình Thuận và Tiền Giang Campbell, J., Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Hữu Hoàng Tháng 12 năm 2007 Báo cáo tổng kết cho Hassall và Tổ chức Quốc Tế liên quan (H.A.I) Số báo cáo của HortResearch: 17402 Số hợp đồng của HortResearch 20027 Văn Phòng HTQT của HortResearch 120 Mt Albert Road, Private Bag 92 169 Mt Albert, AUCKLAND, NZ Tel: +64-9-815 4200 Fax: +64-9-815 4201 Campbell, J HortResearch Nelson Old Mill Road, PO Box 220 MOTUEKA, NZ Tel: +64-3-528 9106 Fax: +64-3-528 7813 Ts. Nguyễn Văn Hòa Ths. Nguyễn Hữu Hoàng Viện NC CAQ Miền Nam Hộp thư 203 Mỹ Tho Long Định – Châu Thành Tiền Giang VIỆTNAM Tel: +84 73 834 699 SỰ KHÔNG THỪA NHẬN TRÁCH NHIỆM Viện nghiên cứu Rau Quả và Lương Thực của New Zealand có đủ kỹ năng, sự cẩn thận, cần mẫn trong việc chuẩn bị những thông tin được mô tả trong bảng báo cáo này, nhưng sẽ không chịu trách nhiệm pháp lý cho bất kỳ sự thể hiện của những sản phẩm hay sự thất thoát nào khi sử dụng những thông tin này trong thương mại. Bảng báo cáo này được chuẩn bị bởi Viện Nghiên Cứu Rau Quả và Lương Thực New Zealand (HortResearch), có trụ sở chính tại Trung Tâm Nghiên Cứu Mt Albert, Private Bag 92 169, Auckland. Bảng báo cáo này được phê chuẩn bởi: __________________________________________________________________ Nghiên cứu viên Trưởng nhóm, Phòng trừ sinh học Ngày: Ngày: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ___________________________________________________________________ Báo cáo tổng kết 037/04VIE Phát triển hệ thống GAP cho nhà sản xuất và xuất khẩu thanh long ở tỉnh Bình Thuận và Tiền Giang Tháng 12 năm 2007 Mục lục 1 Thông tin về đơn vị 3 2 Trích lược Dự án 4 3 Báo cáo tóm tắt 4 4 Giới thiệu và bối cảnh 5 Tiến độ cho đến thời điểm báo cáo 5 5.1 Những điểm đáng chú ý 5 5.2 Lợi ích cho đối tượng quy mô nhỏ 5 5.3 Tăng cường năng lực 5 5.4 Thông tin đại chúng 5.5 Quản lý dự án 5 6 Báo cáo về các vấn đề đan chéo 6.1 Môi trường 6.2 Các vấn đề giới tính và xã hội 7 Các vấn đề về thực hiện và tính bền vững 7.1 Những khó khăn và trở ngại 7.2 Giải pháp 7.3 Tính bền vững 8 Các bước quan trọng tiếp theo 9 Kết luận 10 Cam kết/tuyên bố 11 Phụ lục 1: Chứng nhận tập huấn 12 Phụ lục 2: QNEWZ, Tháng 10 năm 2007 Những chữ viết tắt: BRC British Retailers Consortium: Global Standard – FOOD Giao ước của những nhà buôn bán lẽ tại Anh: Tiêu chuẩn toàn cầu – Lương thực CARD Collaboration for Agriculture and Rural Development Hợp tác về Nông nghiệp và Phát triển nông thôn DARD Department of Agriculture and Rural Development Sở Nông nghiệp và PTNT DGP Dragon fruit GAP Project Dự án sản xuất thanh long theo GAP EUREPGAP Euro-Retailer Produce Working Group; Good Agricultural Practice 1 Nhóm những nhà buôn bán lẽ ở Châu Âu; Sản xuất nông nghiệp theo hướng tiên tiến GAP FAQ Frequently Asked Questions Những câu hỏi thường gặp GAP Good Agricultural Practice Sản xuất nông nghiệp theo hướng tiên tiến GPS Global Positioning System Hệ thống phân bố toàn cầu IMO Institute for Marketecology Viện nghiên cứu thị trường MARD Ministry of Agriculture and Rural Development Bộ Nông nghiệp và PTNT MOU Memorandum of Understanding Bảng ghi nhớ NZOQ New Zealand Organisation for Quality Tổ chức chất lượng New Zealand QDPI&F Queensland Government Department of Primary Industries & Fisheries - Bộ Công nghệ Cơ bản và Ngư nghiệp của Chính Phủ bang Queensland. SGS Société Générale de Surveillance SIPPO Swiss Import Promotion Programme Chương trình xúc tiến nhập khẩu Thụy Sĩ SOFRI Southern Fruit Research Institute Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam VINAFRUIT Việt Nam Fruit Association Hiệp Hội Trái Cây Việt Nam VNCI Vietnam Competitiveness Initiative Tăng Cường Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2 1. Thông tin về đơn vị Tên dự án Phát triển hệ thống GAP cho nhà sản xuất và xuất khẩu thanh long ở tỉnh Bình Thuận và Tiền Giang Đơn vị VN Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam Giám đốc Dự án phía VN Nguyễn Văn Hòa Giám đốc vận hành Dự án Nguyễn Hữu Hoàng Đơn vị Úc Viện Nghiên Cứu Rau Quả và Lương Thực, New Zealand Nhân sự Úc John Campbell, Leonie Osborne Ngày bắt đầu 30 tháng 6 năm 2005 Ngày kết thúc (theo dự kiến ban đầu) Tháng 9 năm 2007 Ngày kết thúc (đã thay đổi) Chu kỳ báo cáo Báo cáo tổng kết Dự án Cán bộ liên lạc Ở Úc: Trưởng dự án Tên: John Campbell Telephone: + 64 3 5289106 Chức vụ: Trưởng dự án Fax: + 64 3 5287813 Tổ chức HortResearch Email: JCampbell@hortresearch.co.nz Ở Úc: Đầu mối liên hệ hành chính Tên: Bà Leonie Osborne Telephone: + 64 9 815 8819 Chức vụ: P.Trưởng nhóm phòng trừ sinh học Fax: + 64 9 815 4202 Tổ chức HortResearch Email: losborne@hortresearh.co.nz Ở Việt Nam Tên: Ts. Nguyễn Minh Châu Telephone: + 84 73 893 129 Chức vụ: Project Champion Fax: + 84 73 893 122 Tổ chức Viện NC CAQ Miền Nam Email: mch@hcm.vnn.vn 3 2. Trích lược dự án Người nông dân sản xuất thanh long ở Việt Nam thấy rằng giá thanh long của họ giảm đến 60% vào năm 2000. Nó được cho là do một phần dựa vào tiêu thụ nội địa hay chỉ xuất sang những thị trường ở các nước láng giềng. Có khoảng 10 nhà xuất khẩu thanh long ở Việt nam nhưng phần lớn thanh long lại được sản xuất chủ yếu từ những nông dân sản xuất nhỏ lẽ. Lợi tức từ thanh long sẽ được cải thiện rõ nét nếu những hộ sản xuất nhỏ này và nhà xuất khẩu có thể mở rộng ra thị trường mới giá trị cao hơn ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Nhưng kém may thay, những yêu cầu khắc khe và gần đây mối quan tâm của người tiêu thụ là thực phẩm phải an toàn và an toàn có nghĩa là nhà nông Việt nam có thể xuất khẩu thanh long sang thị trường có giá trị cao nếu họ sản xuất thanh long theo hướng an toàn (GAP). Dự án này sẽ phát triển dựa trên nền tản thực hiện tiêu chuẩn EUREPGAP cho nhóm nông dân sản xuất thanh long và tiêu chuẩn BRC cho nhà đóng gói ở Bình thuận nhằm giúp nông dân Việt Nam có thể xuất khẩu thanh long sang thị trường đòi hỏi chất lượng cao ở Châu Âu. Thị trường đòi hỏi chất lượng cao đã được xác định và được kiểm chứng qua việc chứng nhận cho nhóm sản xuất. Việc tập huấn nhân sự trong dự án và các đơn vị tư nhân đã được thực hiện một cách hiệu quả và phát triển ở một tầm mức cao đảm bảo sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng mô hình và dần dần lan rộng mô hình mẫu trong sản xuất GAP cho những nông dân trồng thanh long khác. 3. Báo cáo tóm tắt Đây là báo cáo tiến độ thực hiện thứ tư cho chương trình Hợp Tác Nông Nghiệp và PTNT (CARD) Dự án 037/04VIE và nó bao gồm cả giai đoạn từ ngày 1 tháng 3 năm 2007 đến tháng 12 năm 2007. Báo cáo này bao gồm những thông tin hoặc không có trong các báo cáo tiến độ hoặc do có những thay đổi trong quá trình thực hiện dự án. Truởng dự án phía HortResearch đã thực hiện 2 chuyến làm việc tại Việt Nam trong suốt thời gian báo cáo này: Từ ngày 6 - 18 tháng 5 và từ ngày 19 tháng 8 đến ngày 7 tháng 9 năm 2007. Không có sự thay đổi trong vấn đề nhân sự của dự án trong suốt giai đoạn báo cáo này. Nhóm thực hiện dự án phía Việt Nam quản lý, thực hiện tốt dự án. Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam (SOFRI), Bộ Nông Nghiệp và PTNT (MARD), Sở NN & PTNT (DARD) và nhân sự về thương mại đã được tập huấn, chuyển giao về tất cả các khía cạnh thực hiện sản xuất an toàn (GAP) ở những mức độ khác nhau. Tăng cường năng lực lên cấp quốc gia và cơ sở hạ tầng đang được chú trọng để tạo sự bền vững. Khoá tập huấn về “ Giới thiệu nội dung tập huấn về thanh tra viên nội bộ” được thực hiện cho nhân sự của SOFRI và nhân sự chính ở nhà đóng gói và đặc biệt là kỹ năng của Ông Nguyễn Hữu Hòang được học từ New Zealand được ứng dụng tốt, giúp cho các đối tác hiểu về hệ thống chất lượng tốt hơn, nhất là trong việc thanh tra nội bộ trước khi tiến hành thanh tra chính thức của Tổ chức chứng nhận về tiêu chuẩn EUREPGAP và BRC. Khảo sát trên đồng với phiếu điều tra hộ nông dân sản xuất thanh long được hoàn tất trong giai đoạn làm báo cáo đầu tiên. Số liệu đã được dịch sang tiếng Anh và nhập vào trang Web cơ sở dữ liệu và đã được phân tích. Bảng báo cáo về kết quả điều tra đã được chuẩn bị bởi 4 nhân sự của HortResearch và được trưởng dự án trình bày lại cho nông dân, Bộ NN & PTNT và Sở NN&PTNT Bình Thuận và Viện NC CAQ Miền Nam trong suốt thời gian làm việc ở Việt Nam trong tháng 3/tháng 4 năm 2006. Chọn nhà đóng gói/xuất khẩu và nhóm nông dân để nhận được sự hỗ trợ của dự án và kiểm chứng trong chuyến làm việc vào tháng 9 năm 2006, đã và đang được thực hiện. Việc tập huấn cho nhà đóng gói/xuất khẩu để cải thiện sản xuất theo hướng cung cấp sản phẩm cho Nhóm buôn bán lẽ của Anh (British Retailers Consortium: Global Standard – Food (BRC)) và đối với nông dân thì tập huấn sản xuất theo hướng EUREPGAP (Euro-Retailer Produce Working Group; Good Agricultural Practice) đang được tiếp tục, nhằm giúp họ đạt được yêu cầu. Khóa tập huấn bao gồm hệ thống chất lượng, sức khoẻ và an toàn, kỹ thuật, truy nguyên nguồn gốc và các vấn đề môi trường. Một hợp phần trong các chuyến làm việc trên đồng bởi trưởng dự án là quan sát hiện trạng canh tác thanh long của nông dân cũng như nhà đóng gói. Những thông tin này là những điều cơ bản để nâng chất lượng quyển cẩm nang sản xuất thanh long theo hướng EUREPGAP. Quyển cẩm nang về chất lượng trái thanh long cho nông dân và nhà đóng gói đang được xây dựng: phải gần gủi với thực tế sản xuất, bao gồm những cải tiến để nông dân và nhà đóng gói đạt được những tiêu chuẩn EUREPGAP và BRC và phải an toàn cho môi trường. Quyển cẩm nang đã được dịch sang tiếng Việt và được phân phối đến nhà tài trợ HAI/CARD, nông dân tham gia mô hình (Phần C của Cẩm nang) và nhà đóng gói, v.v. Thông tin từ cẩm nang cho từng đối tượng như nhà đóng gói và nông dân thực hiện mô hình GAP được chính là hệ thống chất lượng cho mô hình và nó được sử dụng như công cụ tập huấn để việc thực hiện mô hình đạt tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn thực hiện cho tất cả các khâu đã được định rõ trong phần mục tiêu của Dự án. Tuy nhiên, những hộ nông dân sản xuất nhỏ ngay cả trong trường hợp tập huấn liên tục trong suốt quá trình thực hiện dự án cũng không giúp họ đạt được yêu cầu. Những thách thức trong việc tham gia mô hình của hộ nông dân sản xuất nhỏ đã được xác định trong quá trình thực hiện dự án và trong tương lai những thách thức này sẽ được vượt qua trong quá trình phát triển của dự án. Thách thức cũng dịu bớt đi đối với các mô hình trong tương lai đối với cây thanh long và những cây trồng khác, mô hình chất lượng hơn sẽ được thiết lập trong tương lai. Trong chuyến làm việc tại Việt nam vào tháng 12 năm 2006 và tháng 5 năm 2007 của Trưởng dự án, nhiều đợt tập huấn được thực hiện cho thành viên chủ chốt của nhà đóng gói, nông dân để họ có thể có những thay đổi thật sự về vận hành, thiết bị và thiết lập hệ thống chất lượng, tập huấn cho nhân sự, thông tin về việc chứng nhận và yêu cầu thanh tra nội bộ như đã nêu trong quyển cẩm nang đề giúp mô hình đạt được các tiêu chuẩn BRC cho nhà đóng gói và EUREPGAP cho nhóm nông dân sản xuất ngoài đồng. Nhiều đợt tập huấn cho nhân sự được tiến triển tốt bao gồm cả tập huấn về thanh tra nội bộ cho mô hình để xác định những vấn đề chưa đạt và đòi hỏi phải có hành động khắc phục cụ thể và để trình bày tiến trình “kiểm soát” và sự bền vững của mô hình. Đợt thanh tra nội bộ cuối cùng được thực hiện vào tháng 8-9 năm 2007 để kiểm chứng là nó đã sẵn sàng cho việc thanh tra chính thức. Thanh tra chính thức đã được hoàn tất vào tháng 9 bởi tổ chức SGS Việt Nam. Hành động khắc phục cho những vấn đề chưa đạt đã hoàn tất và theo sau đó là việc hoàn tất thanh tra vào ngày 8 tháng 11 năm 2007 đã thể hiện đạt được yêu cầu theo tiêu chuẩn EUREPGAP. Việc thanh tra BRC được dự định thực hiệnvào cuối năm 2007. Những thị trường đòi hỏi chất lượng cao đang được xác định và đánh giá cho việc xuất khẩu thanh long Việt Nam, cho cả trái cây khi được xác nhận đạt tiêu chuẩn và cho những trái cây 5 được cải thiện cho những thị trường xuất khẩu trong giai đoạn chờ đợi để được xác nhận. Một phần kinh phí để khích lệ nông dân sản xuất trong giai đoạn chuyển tiếp này được trả bởi nhà đóng gói. Thị trường Utopia của Anh Quốc, nơi nhập trái cây vào nước Anh cho siêu thị TESCO đã thể hiện mong muốn mua sản phẩm thanh long từ mô hình sản xuất thanh long đạt tiêu chuẩn GAP. Họ đã thực hiện thanh tra thông qua đối tác thứ 3 đối với mô hình và cho thấy rằng họ sẽ hỗ trợ nhóm thực hiện dự án việc phân tích chuỗi giá trị và gặt hái được giá cao cho sản phẩm an toàn, hợp pháp và chất lượng cao cho xuất khẩu từ mô hình. Đầu tư cho năm thứ nhất đã được mua như trong tài liệu dự án yêu cầu và thể hiện trong báo cáo tiến độ lần thứ hai vào tháng 2 năm 2006. Dự án CARD trên thanh long đang được đăng trên nhiều báo địa phương và báo mang tính quốc gia và cả trên thông tin đại chúng như TV trong thời gian làm báo cáo này. Những thành tựu của dự án đang được sự quan tâm rất lớn của nhà đầu tư, Bộ Nông nghiệp và những đơn vị tư nhân. HAI/CARD đã yêu cầu dự án nộp đề xuất xin mở rộng dự án thêm 2 năm để mở rộng, ứng dụng kết quả ban đầu này. Trong thời gian Trưởng Dự án sang làm việc vào tháng 5 năm 2007, các đối tác của dự án đã tổ chức cuộc họp và Bản đề xuất dự án đã được soạn thảo và nộp cho văn phòng CARD. Bảng đề xuất mở rộng dự án thanh long được nằm trong danh mục của CARD sau khi Họp Hội đồng xét duyệt vào ngày 11 tháng 7 năm 2007. Tiếp theo đó thuyết minh đề xuất dự án mới đã được nộp đến Tổ chức HAI tại Hà Nội vào ngày 27 tháng 8 năm 2007 và sau đó được chọn để đầu tư tiếp. 4. Giới thiệu và bối cảnh Mục tiêu 1: Tăng cường khả năng cạnh tranh của các hộ sản xuất nhỏ để đạt khả năng cung cấp thanh long cho thị trường quốc tế với đòi hỏi cao, giới thiệu khái niệm về an toàn thực phẩm, môi trường sạch, sản xuất bền vững và an toàn cho người sản xuất trong việc sản xuất cuả họ. Mục tiêu 2: Cung cấp sự hỗ trợ về kỹ thuật và tập huấn cho khuyến nông viên/nhà nghiên cứu Việt Nam để cải thiện khả năng của họ trong việc tập huấn nhóm các thủ tục, các bước thực hiện GAP trên thanh long. Đầu ra cần phải bao gồm những kỹ thuật mới mà nó được yêu cầu để có thể thâm nhập được vào thị trường Châu Âu và giúp nông dân sản xuất nhỏ có thể vượt qua nhằm cải thiện việc cung cấp sản phẩm của mình. Nhân sự phía Việt Nam như cán bộ SOFRI, Sở Nông Nghiệp và PTNT và những đơn vị tư nhân sẽ được tập huấn trên đồng và 2 thành viên của Viện NC CAQ Miền Nam sẽ được tham gia đợt tham quan học tập về GAP trên cây ăn quả ở New Zealand. Với ý định phát triển nhân sự cả của nhà nước và đơn vị tư nhân sẽ thông qua các bước áp dụng thực tiển bao gồm. - Xác định thực tiển sản xuất thanh long ở Việt nam và so sánh với các tiêu chuẩn của EUREPGAP thông qua điều tra diện rộng. 6 - Cải thiện kiến thức về sản xuất thanh long cho cán bộ SOFRI và thiết lập hệ thống để cải thiện sản xuất bền vững và giải quyết các vấn đề trong sản xuất. - Phát triển mô hình mẫu theo tiêu chuẩn EUREPGAP cho nhà xuất khẩu/đóng gói/nhóm nông dân ở điều kiện thực tiển. - Phát thảo quyển cẩm nang, mã số và phát triển các tài liệu tập huấn thích hợp, an toàn cho môi trường, được thực hiện bởi khuyến nông viên Việt nam và thích hợp để mô hình mẫu trên thanh long được áp dụng cho các trường hợp khác và cây trồng khác. - Thiết lập hệ thống chất lượng đạt yêu cầu cho ngành sản xuất thanh long để áp dụng và được xem như cốt lõi cho hệ thống vững mạnh giúp đạt tiêu chuẩn EUREPGAP cho mô hình mẫu. - Tối đa hoá hiệu quả của những bước đầu tiên thực hiện GAP trên thanh long thông qua sự tham gia đầy đủ trong dự án GAP trên thanh long. 5. Tiến độ cho đến thời điểm báo cáo 5.1. Những điểm đáng chú ý 5.1.1. Kết quả điều tra hiện trạng sản xuất Phần thực hiện trên đồng là điều tra hiện trạng sản xuất thanh long đã được cán bộ Viện NC CAQ Miền Nam hoàn tất vào tháng 7 năm 2005. Khoảng 124 nông dân ở Bình Thuận và 30 nông dân ở tỉnh Tiền Giang được phỏng vấn. Nhóm cán bộ của SOFRI đã ghi nhận thông tin từ nông dân theo phiếu điều tra về EUREPGAP (Trong báo cáo đầu tiên: tháng 8 năm 2005, phụ lục 2) và cũng ghi nhận những thông tin về hiện trạng nông học và kỹ thuật liên quan đến quá trình sản xuất thanh long. Số liệu điều tra được phân tích tại HortResearch bởi Ts. Jim Walker và Patrick Connolly đã chuẩn bị bảng báo cáo bằng Power point (Phụ lục 1 và 2 của báo cáo 6 tháng lần thứ 3 vào tháng 8 năm 2006) để báo cáo trong chuyến đến làm việc vào tháng 3 năm 2006. Kế hoạch này được hoạch định cho Ts. Walker đến Việt Nam trình bày, tuy nhiên có một số lý do trong công việc nên Ông ta không đến trình bày được. Tiếp sau đó, bài báo cáo được chuẩn bị dưới dạng PowerPoint đã được trình bày bởi Trưởng Dự án trong chuyến làm việc vào tháng ba/tháng 4, 2006 tại SOFRI, cán bộ Sở NN & PTNT và một số doanh nghiệp của tỉnh Bình Thuận. Bài báo cáo này đã được sử dụng như một học cụ để tập huấn cho nông dân và nhà đóng gói trong khu vực. Trong quá trình trình bày, có sự chú ý đến hiện trạng sản xuất quan sát được trên thực tế so với những tiêu chuẩn đòi hỏi cao của thị trường, khách hàng như được mô tả trong Tiêu chuẩn EUREPGAP và BRC. Bài báo cáo Powerpoint và những thông tin khác có liên quan đến kết quả điều tra này được cán bộ Viện NC CAQ MN sử dụng trong nghiên cứu của họ. 5.1.2 Xây dựng Cẩm nang GAP: Việc xây dựng quyển cẩm nang đã kết thúc bằng tiếng Anh và đang được dịch sang tiếng Việt. Quyển cẩm nang này đã hoàn tất vào cuối tháng 3 năm 2006 (điểm mốc thứ 4) dưới dạng bản nháp nhưng nó bị trì hoãn do việc giới hạn thời gian và bản quyền. Quyển cẩm nang được phát triển trên nền tản đặc biệt đáp ứng cho nhu cầu hệ thống chất lượng của mô hình thực hiện dự án, đối với nông dân phải đạt tiêu chuẩn EUREPGAP và phần của nhà 7 đóng gói dựa trên nền tản của BRC (British Retailers Consortium, Global Standard: Food). Và một phần được xem là tài liệu sống (có thể bổ sung, hiệu chỉnh) cuối cùng cũng được hoàn tất. Trong tương lai, việc sử dụng tài liệu này cho nhà đóng gói/nhóm sản xuất khác (cây trồng khác) sẽ có nhiều thuận lợi vì nó là một tài liệu sống có thể cập nhật và ứng dụng cho bất kỳ nhà đóng gói hoặc trang trại. Báo cáo HACCP về chất lượng không được thể hiện trong cẩm nang này vì nó có các ứng dụng đặc biệt cho hệ thống chất lượng nhà đóng gói. Bảng báo cáo HACCP bằng tiếng Việt và tiếng Anh được cung cấp bằng bảng điện tử. Việc kiểm tra toàn diện độ thích hợp của quyển cẩm nang sản xuất thanh long để diễn tả các tiêu chuẩn riêng biệt của BRC và EUREPGAP và những đòi hỏi của người tiêu dùng, mô hình nhà đóng gói và nông dân thực hiện sẽ được kiểm chứng qua đơn vị chứng nhận độc lập, SGS Việt Nam. Đánh giá chứng nhận được dự kiến thực hiện bởi tổ chức chứng nhận vào tháng 12 năm 2006. Tuy nhiên, mồ hình chưa sẵn sàng và kế hoạch hiệu chỉnh, sửa đổi nhà đóng gói cũng được thực hiện để hoàn thiện hơn nhằm đạt các tiêu chuẩn. 5.1.3 Xây dựng kế hoạch thực hiện – Hoàn tất: Báo cáo đầu tiên. 5.1.4 Xây dựng chương trình thí điểm GAP cho một năm. Như trong tài liệu báo cáo tiến độ lần 2 tháng 2 năm 2006, nhà đóng gói của Ông Hiệp, Công Ty Thanh Long Hoàng Hậu, được xác định là mô hình nhà đóng gói thanh long của dự án. Tiếp theo đó, nhân sự của dự án liên hệ với Ông Hiệp để xác định mức độ công việc và sự hợp tác với dự án để phát triển nhà đóng gói của Ông đạt tiêu chuẩn BRC và đạt yêu cầu đặt ra của dự án. Trong chuyến làm việc vào tháng 6 năm 2006 của Trưởng dự án, bản hợp đồng giữa Viện NC CAQ MN và Công Ty Thanh Long Hoàng Hậu được Ông Hiệp và Ts. Châu phát thảo và ký kết. Thống nhất là việc với nhau về mô hình dựa vào bản ghi nhớ đã được thảo luận và mô tả trong báo cáo tháng 2 năm 2006. Thật sự có nhiề
Luận văn liên quan