Báo cáo thực tập tại công ty cổ phần sợi Trà Lý

Công ty cổ phần sợi Trà Lý được thành lập theo quyết định của UBND tỉnh Thái Bình năm 1978, và trực thuộc tổng công ty dệt may Việt Nam- bộ công nghiệp.Toàn bộ nguồn vốn xây dựng và mua sắm thiết bị đều do NSNN cấp. Tháng 5/1980 công ty bắt đầu đi hoạt động với tên gọi “Nhà máy sợi đay thảm Thái Bình”. Tháng 7/1995 theo quyết định của Bộ công nghiệp công ty chính thức lấy tên là “công ty cổ phần sợi Trà Lý”. Tháng 7/2005 công ty đã chính thức chuyển đổi hình thức chử sở hữu vốn từ công ty nhà nước trở thành công ty cổ phần với 51% vốn nhà nước. Công ty chính thức đổi tên thành “công ty cổ phần sợi Trà Lý “. Công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm các loại sợi đay, bao đay, sợi cotton, sợi PE, Từ khi đi vào hoạt động, năm 1890-1990 nước ta và Liên Xô cũ ký kết hiệp định kinh tế về xuất khẩu thảm đay nên nhiệm vụ chính của công ty ở giai đoạn này là kéo đay tơ thành sợi để làm thảm xuất khẩu, ngoài ra còn xuất sợi đay làm nguyên liệu dệt bao phục vụ nhu cầu trong xã hội. Tháng 5/1990, do tình hình kinh tế chính trị của Liên Xô có sự thay đổi làm hiệp định kinh tế kí kết giữa Việt Nam và Liên Xô về xuất khẩu thảm đay bị cắt bỏ. Sản phẩm làm ra bị ứ đọng với số lượng lớn không tiêu thụ được, tổ chức sản xuất lúc này chỉ mang tính duy trì và bắt buộc. Trước tình hình đó công ty phải tìm ra một hướng đi mới, công ty quyết định chuyển sản xuất thảm đay sang sản xuất sợi đay để dệt bao phục vụ cho xuất khẩu gạo và các mặt hàng nông sản khác và nó trở thành nhiệm vụ chính của công ty từ đó tới nay.

doc31 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 24/03/2013 | Lượt xem: 2871 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo thực tập tại công ty cổ phần sợi Trà Lý, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SỢI TRÀ LÝ 1 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty sợi Trà Lý 1 1.1.1. Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sợi Trà Lý 1 1.1.2.Đặc điểm về cơ chế tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây. 4 1.2. Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý và hệ thống sản xuất kinh doanh của công ty sợi Trà Lý 6 1.2.1. Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý tại công ty sợi Trà Lý 6 1.2.2 Đặc điểm về hệ thống sản xuất kinh doanh của công ty sợi Trà Lý 10 II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỢI TRÀ LÝ 14 2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cổ phần sợi Trà Lý 14 2.2 Đặc điểm tổ chức hình thức sổ kế toán 23 III. NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SỢI TRÀ LÝ 29 Báo cáo thực tập tại công ty cổ phần sợi Trà Lý I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SỢI TRÀ LÝ 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty sợi Trà Lý 1.1.1. Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sợi Trà Lý Công ty cổ phần sợi Trà Lý được thành lập theo quyết định của UBND tỉnh Thái Bình năm 1978, và trực thuộc tổng công ty dệt may Việt Nam- bộ công nghiệp.Toàn bộ nguồn vốn xây dựng và mua sắm thiết bị đều do NSNN cấp. Tháng 5/1980 công ty bắt đầu đi hoạt động với tên gọi “Nhà máy sợi đay thảm Thái Bình”. Tháng 7/1995 theo quyết định của Bộ công nghiệp công ty chính thức lấy tên là “công ty cổ phần sợi Trà Lý”. Tháng 7/2005 công ty đã chính thức chuyển đổi hình thức chử sở hữu vốn từ công ty nhà nước trở thành công ty cổ phần với 51% vốn nhà nước. Công ty chính thức đổi tên thành “công ty cổ phần sợi Trà Lý “. Công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm các loại sợi đay, bao đay, sợi cotton, sợi PE,… Từ khi đi vào hoạt động, năm 1890-1990 nước ta và Liên Xô cũ ký kết hiệp định kinh tế về xuất khẩu thảm đay nên nhiệm vụ chính của công ty ở giai đoạn này là kéo đay tơ thành sợi để làm thảm xuất khẩu, ngoài ra còn xuất sợi đay làm nguyên liệu dệt bao phục vụ nhu cầu trong xã hội. Tháng 5/1990, do tình hình kinh tế chính trị của Liên Xô có sự thay đổi làm hiệp định kinh tế kí kết giữa Việt Nam và Liên Xô về xuất khẩu thảm đay bị cắt bỏ. Sản phẩm làm ra bị ứ đọng với số lượng lớn không tiêu thụ được, tổ chức sản xuất lúc này chỉ mang tính duy trì và bắt buộc. Trước tình hình đó công ty phải tìm ra một hướng đi mới, công ty quyết định chuyển sản xuất thảm đay sang sản xuất sợi đay để dệt bao phục vụ cho xuất khẩu gạo và các mặt hàng nông sản khác và nó trở thành nhiệm vụ chính của công ty từ đó tới nay. Trong quá trình hoạt động công ty đã có những đóng góp đáng kể cho NSNN, giải quyết được việc làm cho một lượng lớn lao động. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế của nước ta từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường, công ty đã gặp không ít những khó khăn. Nhưng với tinh thần đoàn kết gắn bó, chủ động sang tạo, cần cù lao động của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong đơn vị nói chung và của phòng tài vụ nói riêng đã từng bước khắc phục khó khăn, nắm bắt phát huy được những thuận lợi, ổn định tổ chức sản xuất. Trong giai đoạn từ năm 1993 – 1996, cùng với việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh, công ty đã đầu tư khoảng 1,2 -1,5 tỷ đồng bằng nguồn vốn vay ngân hàng và nguồn vốn đầu tư của khách hàng để mua máy móc thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất: máy dệt, máy kéo sợi,… Tháng 7/2003 công ty đã hoàn thành dự án đầu tư dây chuyền kéo sợi hai vạn cọc đưa vào sử dụng. Đây là dây chuyền kéo sợi tiên tiến nhất hiện nay với các máy móc thiết bị được nhập từ các nước có trình độ khoa học kĩ thuật phát triển cao như: Đức, Nhật Bản, Thụy Sĩ,…góp phần làm phong phú thêm các mặt hàng của công ty, giải quyết công việc làm cho một số lượng lớn lao động. Tháng 7/2005 cùng với xu thế phát triển đất nước, công ty sợi Trà Lý đã chính thức chuyển đổi hình thức chủ sở hữu vốn từ công ty nhà nước thành công ty cổ phần với 51% là vốn nhà nước, công ty tiếp tục đổi tên thành: “công ty cổ phần sợi Trà Lý”. Việc chuyển đổi hình thức chủ sở hữu này ban đầu khiến cho tập thể cán bộ công nhân viên lúng túng, công việc sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn do không còn sự giúp đỡ của nhà nước,sau một thời gian ban giám đốc công ty ngày càng năng động hơn trong việc tìm kiếm phương thức kinh doanh mới, bạn hàng mới, giúp doanh nghiệp chủ động trong sản xuất, đồng thời người lao động có ý thức hơn, nỗ lực hơn trong sản xuất. Điều này khiến cho công ty đạt được những thành tích cao trong những năm vừa qua. Sau khi tiến hành cổ phần hoá, theo phương án mở rộng và nâng cao quy trình công nghệ đã được đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất thông qua, công ty đã tập trung vào đầu tư nhà xưởng, mua sắm thiết bị, máy móc đồng bộ, điều kiện sản xuất hàng loạt đạt chất lượng cao. Tính đến nay mỗi phân xưởng của công ty đều được trang bị trên dưới 100 máy móc các loại. Vốn điều lệ của công ty là: 13500000000 (mười ba tỷ năm trăm triệu đồng chẵn). Sản phẩm sản xuất chủ yếu của công ty hiện nay là: + Sợi cotton, sợi pha, sợi PE dùng cho dệt kim và dệt thoi Sợi cotton được sản xuất chủ yếu từ nguyên liệu chính là bông sơ tự nhiên Sợi PE được sản xuất chủ yếu từ nguyên liệu bông xơ nhân tạo sợi pha được sản xuất từ nguyên liệu bông xơ nhân tạo và tự nhiên. + sợi đay và bao đay các loại: sợi đay được sản xuất từ đay tơ, bao đay được dệt từ sợi đay. Bên cạnh việc sản xuất các loại sợi và bao đay công ty còn kinh doanh một số hoạt động như: cho thuê văn phòng, cửa hàng, kiốt bán hàng,… Các sản phẩm của công ty sản xuất ra chủ yếu phục vụ cho các công ty sản xuất bao bì, các công ty dệt và phục vụ các tổ chức cá nhân có nhu cầu trong xã hội. Trong những năm gần đây nguồn vốn của công ty không ngừng tăng là do công ty đã tiến hành mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành giảm chi phí,…Công ty luôn làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước, các chế độ với người lao động luôn được đảm bảo, đời sống của cán bộ công nhân viên ngày càng được cải thiện. Điều này khuyến khích người lao động không ngừng phấn đấu nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm cho công ty. 1.1.2.Đặc điểm về cơ chế tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây. Trong những năm gần đây, cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật và sự cố gắng không ngừng, sự cần cù sáng tạo của tập thể cán bộ công nhân viên đã giúp cho công ty đạt được những thành tích cao trong sản xuất. Doanh số bán hàng ngày càng được nâng cao. Điều này được thể hiện qua bảng số liệu sau : Đơn vị tính: 1000đồng STT  CHỈ TIÊU  NĂM 2005  NĂM 2006  NĂM 2007   1  tổng giá trị tài sản  108536000  100176000  107530000   2  doanh thu thuần  110530000  145017000  163450000   3  Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh  445907  602471  702485   4  Lợi nhuận khác  (22769)  54713  76535   Bảng số 01: bảng so sánh kết quả kinh doanh từ năm 2005- 2007 Căn cứ vào số liệu trên chúng ta thấy doanh thu của Công ty năm sau cao hơn năm trước tương ứng với nó là sự tăng lên của lợi nhuận. Những năm vừa qua công ty luôn đảm bảo được việc làm cho 668 người lao động với mức lương ổn định và khá cao là 1250000. STT  Chỉ tiêu  Năm 2005  Năm 2006  Năm 2007   1  Tổng số lao động (người)  647  652  668   2  Thu nhập bình quân (Đ/Ng/Th)  745000  825000  1250000   Trình độ chuyên môn của công nhân viên ngày càng được nâng cao nhất là đội ngũ quản lí, nhiều người lao động còn được công ty cho đi học tập nâng cao tay nghề, tham quan các công ty sản xuất của nước bạn. Điều này cho thấy công ty đã chú trọng tới việc nâng cao tay nghề cho người lao động , nâng cao chất lượng sản phẩm, … Đối với lao động trực tiếp: công ty thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng tại chỗ để nâng cao trình độ tay nghề và sự hiểu biết của người lao động về ngành hàng. Công ty tiến hành đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao hiệu quả lao động của các lao động hiện có. Người lao động cũng luôn được khuyến khích và tạo điều kiện tham gia các lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn. Đối với lao động tại các phòng chuyên môn nghiệp vụ: công ty luôn tạo điều kiện cho tham gia các lớp đào tạo tập huấn chuyên ngành, các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về các chế độ chính sách của nhà nước…Những cán bộ công nhân viên do công ty cử đi học tập đều được công ty thanh toán chi phí học tập và hưởng lương trong quá trình học. Hiện nay công ty đang mở rộng quy mô sản xuất và mở rộng thị trường ra các nước trong khu vực. Đó là tín hiệu tốt đối với doanh nghiệp. 1.2. Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý và hệ thống sản xuất kinh doanh của công ty sợi Trà Lý 1.2.1. Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý tại công ty sợi Trà Lý Đặc điểm về hoạt động kinh doanh của công ty : Đại hội đồng cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan thẩm quyền cao nhất của công ty. Đại hội đồng cổ đông quyết định những vấn đề được luật pháp và điều lệ công ty quy định. Đặc biệt các cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của công ty và kế hoạch tài chính cho những năm tiếp theo. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát giám đốc điều hành và những người quản lý khác. Quyền và nghĩa vụ của hội đồng quản trị do luật pháp và điều lệ công ty, các quy chế nội bộ của công ty và nghị quyết đại hội dồng cổ đông quy định. Ban kiểm soát là cơ quan trực thuộc đại hội đồng cổ đông, do đại hội đồng cổ đông bầu ra. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của công ty. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Bộ máy quản lí của công ty được tổ chức theo mô hình tập trung như sau:  Sơ đồ số 03: tổ chức bộ máy quản lý tại công ty cổ phần sợi Trà Lý . Tổng số công nhân viên của công ty là 668 công nhân với mức lương bình quân là 1250000. Bộ máy của công ty được tổ chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của ban giám đốc, mỗi phòng ban có một chức năng riêng, nhiệm vụ riêng , hàng tháng đều có sự đánh giá và báo cáo lên ban giám đốc Ban giám đốc của công ty gồm 3 người : Giám đốc là người đứng đầu của công ty chịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty. Chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty. Quản lí và sử dụng có hiệu quả tài sản, vật tư, vốn, phân phối tiền lương lao động, tiền thưởng và các chế độ chính sách với nhà nước, công nhân viên. Phó giám đốc : tham mưu giúp giám đốc quản lí và điều hành sản xuất kinh doanh. Giám đốc phân công mỗi phó giám đốc phụ trách một lĩnh vực. Phó giám đốc ra chỉ thị cho các phòng ban theo giới hạn về quyền của mình. Các phòng ban trong công ty : phòng nghiệp vụ kinh doanh: đây là phòng chủ đạo của công ty trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Ngoài nhiệm vụ chính là là tạo ra các nguồn hàng sản xuất kinh doanh tại công ty, phòng còn có chức năng tư vấn, tham mưu cho ban giám đốc trong việc ra các văn bản lien quan tới sản xuất kinh doanh như điều chỉnh giá bán hàng, phương thức kinh doanh, củng cố và mở rộng thị trường,… phòng KCS : Chức năng chính của phòng là kiểm tra chất lượng sản phẩm khi hoàn thành. Phòng kế toán tài vụ: có chức năng giúp giám đốc trong bảo toàn vốn, cho nên bộ phận kế toán trong công ty ghi chép một cách chính xác, kịp thời, liên tục, có hệ thống tình hình hiện có và biến động trong công ty, có kế hoạch định hướng cung cấp thông tin trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giúp giám đốc hướng dẫn các bộ phận trong công ty thực hiện đầy đủ các chế độ ghi chép ban đầu, phục vụ cho việc điều hành hàng ngày mọi hoạt động kinh doanh của đơn vị. Ngoài ra, bộ máy kế toán còn tham gia công tác kiểm kê tài sản., tổ chức bảo quản lưu trữ hồ sơ tài liệu kế toán theo quy định. Phân xưởng sợi và dệt là hai phân xưởng sản xuất chính. Phân xưởng gồm các bộ phận sau: Quản đốc: quản lý và điều hành sản xuất ở các phân xưởng theo kế hoạch được giao đảm bảo tiến độ thời gian và chất lượng sản phẩm; quản lý chịu trách nhiệm về toàn bộ tài sản, máy móc thiết bị trong phân xưởng; tổng hợp và phản ánh kịp thời về năng lực sản xuất và chất lượng hàng hoá, tiến độ sản xuất tới các phòng ban có liên quan. Tổ trưởng sản xuất: trực tiếp quản lí và điều hành tổ sản xuất theo kế hoạch sản xuất của công ty và quản đốc phân xưởng, quản lý máy móc thiết bị, phát hiện và đề xuất với quản đốc phân xưởng kịp thời xử lý các hư hỏng mất mát tài sản, công cụ, nguyên phụ liệu. Phân công lao động theo dõi và tổng hợp kết quả lao động của từng công nhân trong tổ gửi lên phòng kế toán để làm lương, thưởng, xếp loại lao động hàng tháng, đồng thời thực hiện sự phân công chỉ đạo của lãnh đạo công ty và quản đốc phân xưởng. Tổ phó sản xuất: giúp việc cho tổ trưởng tổ sản xuất trong việc hướng dẫn kĩ thuât, kiểm tra chất lượng từng công đoạn và toàn bộ sản phẩm trong dây chuyền sản xuất sản phẩm, thay thế tổ trưởng sản xuất khi tổ trưởng vắng mặt. Công nhân sản xuất: thực hiện sản xuất một hay một số công đoạn sản xuất theo sự phân công lao động của tổ, phân xưởng. Phối hợp với công nhân ở các công đoạn khác hoàn thành nhiệm vụ sản xuất của tổ, phân xưởng, thực hiện các yêu cầu khác của ban lãnh đạo công ty và quản đốc phân xưởng Ngoài các phòng ban chính và bộ phận sản xuất (phân xưởng sợi và phân xưởng dệt) còn có thêm một bộ phận phụ : bộ phận vận tải, bộ phận cơ điện, bộ phận nhà ăn. + Bộ phận vận tải có nhiệm vụ thực hiện tất cả các yêu cầu vận chuyển hàng hoá, nguyên vật liệu trong công ty. + Bộ phận nhà ăn : chủ yếu phục vụ bữa ăn cho công nhân viên trong công ty + Bộ phận cơ điện: đảm bảo an toàn và giải quyết các sự cố về điện năng phục vụ cho hoạt động sản xuất của công ty 1.2.2 Đặc điểm về hệ thống sản xuất kinh doanh của công ty sợi Trà Lý Bộ phận sản xuất chính của công ty gồm 2 phân xưởng chủ yếu là phân xưởng sợi và phân xưởng dệt. Công ty tổ chức sản xuất theo các phân xưởng tương ứng với từng giai đoạn chính của quy trình công nghệ, kết quả sản xuất của phân xưởng có thể được bán ra ngoài. Trong đó mỗi phân xưởng có chức năng nhiệm vụ riêng : Phân xưởng sợi có nhiệm vụ chế biến các loại sợi từ nguyên liệu chính là đay tơ thành sợi đơn, sợi se,… để bán ra ngoài hoặc chuyển vào kho gia công để phục vụ cho phân xưởng dệt. Phân xưởng dệt có nhiệm vụ dệt ra các loại bao có kích cỡ khác nhau theo yêu cầu kĩ thuật. Quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm của công ty sợi Trà Lý Thái Bình là quy trình công nghệ phức tạp kiểu chế biến liên tục, loại hình sản xuất khối lượng lớn, chu kì sản xuất ngắn và xen kẽ nhau.Mỗi phân xưởng có một quy trình công nghệ riêng tương đối phức tạp. Đối với phân xưởng sợi : Quy trình công nghệ ở phân xưởng sợi  Sơ đồ 04: Quy trình công nghệ ở phân xưởng sợi Từ nguyên liệu chính là đay tơ qua khâu chọn để phân loại thành các phẩm cấp khác nhau theo tiêu chuẩn kĩ thuật. Sau đó đưa qua bước công nghệ làm mềm( máy làm mềm ).Trong quá trình làm mềm phải sử dụng các loại vật liệu phụ như : dầu công nghiệp, nước, xút,…Tiếp đó đay được đưa vào các ngăn để ủ, thời gian ủ tuỳ thuộc vào nhiệt độ bên ngoài( ví dụ mùa hè ủ 3 ngày, mùa đông ủ 4-5 ngày) sau thời gian ủ đay tơ được đưa lên máy chải, chải 3 lần liên tiếp từ chải 1 đến chải 3 công suất nhỏ dần. Quá trình chải sẽ làm cho các đay tơ mượt mà và song song với nhau. Sau đó đay được đưa sang các máy ghép, cũng ghép 3 lần liên tục cuối cùng kéo thành sợi con. Sợi con được đánh ống qua máy sợi đơn và guồng thành cuộn để vận chuyển vào kho thành phẩm của phân xưởng sợi. Nếu có yêu cầu sợi con được đưa vào máy se để thành sợi se. Trong phân xưởng sợi, sản phẩm làm dở ở khâu này thường là sợi con chưa hoàn thành còn đang nằm trên máy chải, máy ghép hoặc sợi trên các búp (do tình hình sản xuất ổn định nên hầu như không có phẩm dở ở giai đoạn này). Như vậy kết quả sản xuất ở phân xưởng sợi là các loại sợi: sợi đơn, sợi se,… Hai loại sợi này cùng một loại chỉ khác nhau về thông số kỹ thuật. Có thể nhập kho thành phẩm nếu sợi được bán ra ngoài. Còn nếu sợi chuyển qua phân xưởng dệt gia công thì được coi là bán thành phẩm và được tập trung theo dõi ở kho gia công. Quy trình công nghệ ở phân xưởng dệt: Sơ đồ 05: quy trình công nghệ ở phân xưởng dệt Phân xưởng dệt lấy sợi từ kho gia công, tại đây sợi được đánh qua suốt nhỏ cho vừa con thoi để dệt thành các sợi ngang. Đồng thời cũng từ các sợi đay đánh thành các ống to để lên giàn (mắc) đưa vào máy dệt tạo thành các loại sợi dọc. Sau khi dệt thành mảnh bao, qua các khâu: cán, là, đo, gấp, cắt,…bước cuối cùng là khâu thành bao và đóng kiện. Như vậy kết quả sản xuất ở phân xưởng dệt là các loại bao với kích cỡ khác nhau. Mối quan hệ giữa phân xưởng sợi và phân xưởng dệt: Hai phân xưởng này có mối quan hệ mật thiết với nhau: phân xưởng sợi khi sản xuất ra sản phẩm là các loại sợi đơn, sợi se,… có thể nhập kho thành phẩm để bán hoặc chuyển đến phân xưởng dệt, là đầu vào của phân xưởng dệt. Khi chất lượng sản phẩm ở phân xưởng sợi không tốt có thể ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm bao dệt. II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỢI TRÀ LÝ Công tác hạch toán kế toán của đơn vị được áp dụng theo hình thức nhật kí chung. Hiện nay đơn vị đang áp dụng tài khoản kế toán và chế độ kế toán theo quyết định số 15 của Bộ Tài Chính ban hành. 2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cổ phần sợi Trà Lý Về cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty được khái quát theo sơ đồ sau: Phòng kế toán của công ty được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc. Đứng đầu là kế toán trưởng được phân công theo dõi và chỉ đạo trực tiếp các nhân viên kế toán trong công ty. Phòng kế toán tài vụ trong công ty có nhiệm vụ cụ thể: tổ chức mọi công tác kế toán để thực hiện đầy đủ, kịp thời các chứng từ kế toán của đơn vị giúp giám đốc hướng dẫn các bộ phận trong công ty thực hiện đầy đủ các ghi chép hàng ngày:...phục vụ cho việc điều hành hàng ngày mọi hoạt động kinh doanh của đơn vị Ngoài ra bộ phận kế toán còn tham gia công tác kiểm kê tài sản, tổ chức bảo quản và lưu trữ các hồ sơ, tài liệu kế toán như: kiểm kê hàng tồn kho, sản phẩm dở dang cuối kì ở các phân xưởng,… Phòng kế toán gồm 5 nhân viên. Bao gồm một kế toán trưởng và các kế toán phần hành. Mỗi nhân viên trong phòng tài vụ kế toán đều thực hiện những công việc nhiệm vụ riêng. Để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ kế toán, đảm bảo việc chỉ đạo tập trung thống nhất của kế toán trưởng về chuyên môn, phục vụ một cách tốt nhất cho giám đốc chỉ đạo sản xuất kinh doanh, đồng thời căn cứ vào yêu cầu và trình độ hạch toán bộ máy kế toán của công ty được tổ chức như sau Sơ đồ số 06: tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cổ phần sợi Trà Lý. Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty và để phù hợp với yêu cầu quản lý, trình độ của cán bộ kế toán, bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức tập trung. Theo hình thức này, phòng kế toán thực hiện toàn bộ công tác kế toán trong công ty. Ở các phân xưởng, các bộ phận trực thuộc không tổ chức bộ phận kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên hạch toán làm nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra hạch toán ban đầu, thu nhận chứng từ và ghi chép sổ sách kế toán một cách giản đơn để chuyển về phòng kế toán. Ngoài ra nhân viên kinh tế dưới phân xưởng trong một số trường hợp phải tổng hợp một số chỉ tiêu phục vụ yêu cầu chỉ đạo, điều hành của phòng kế toán. Số lượng nhân viên kinh tế bố trí ở mỗi phân xưởng tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất và khối lượng công việc giao cho nhân viên kinh tế đảm nhận. kế toán trưởng phụ trách chung toàn bộ công tác kế toán của công ty, chịu trách nhiệm về tập hợp chi phí, tính giá thành và xác định kết quả sản xuất kinh doanh của cô
Luận văn liên quan