Báo cáo Tìm hiểu về kiểm toán quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà

Trong những năm gần đây, hoà chung với xu thế hội nhập và mở cửa của nền kinh tế, ngành công nghiệp xây dựng đã vươn lên phát triển về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về xây dựng của các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp cũng như các hộ dân cư trong cả nước. Sự phát triển mạnh mẽ này đòi hỏi việc quản lý công nghiệp xây dựng phải đồng bộ và ngày càng đạt hiệu quả cao. Hơn thế, do tính chất đặc thù của ngành và của sản phẩm xây dựng nên quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi có sự kết hợp của nhiều bên khác nhau như chủ đầu tư, cơ quan thiết kế, đơn vị tổ chức thi công, các đơn vị cung cấp vật tư thiết bị, cơ quan quản lý Nhà nước,…do đó các nhà quản lý không những phải nâng cao trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm thực tế mà phải có sự hiểu biết trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Một trong những hoạt động quản lý đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu quả và rất mới mẻ ở nước ta là hoạt động kiểm toán. Hoạt động này không những rất phát triển trong các khu vực kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập, mà nó còn phát huy được sức mạnh quản lý của mình trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ. Trong quá trình thực tập tại phòng Kiểm toán nội bộ của Tổng công ty Sông Đà, em đã được tìm hiểu về quá trình kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản. Đây là một lĩnh vực kiểm toán mang tính đặc thù, diễn ra thường xuyên trong hoạt động kiểm toán tại Tổng công ty Sông Đà và hoạt động này đã cung cấp nhiều thông tin, nhiều ý kiến cho Ban lãnh đạo Tổng công ty với mục tiêu kiểm tra tính chính xác, trung thực của báo cáo, giám sát việc tuân thủ những quy tắc, quy định do nhà nước cũng như do Tổng công ty ban hành từ đó góp phần ngăn chặn những hiện tượng gian lận, tiêu cực, phục vụ cho lợi ích của toàn công ty và giúp công ty có thể phát triển vững bền. Nội dung chuyên đề bao gồm các phần chính sau: Chương I: Cơ sở lý luận của việc kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản. Chương II: Thực trạng kiểm toán nội bộ Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà Chương III: Hoàn thiện quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà.

doc150 trang | Chia sẻ: dansaran | Ngày: 13/12/2012 | Lượt xem: 1593 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Tìm hiểu về kiểm toán quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục Mục lục 1 Lời nói đầu 4 CHƯƠNG I: 6 Cơ sở lý luận của việc kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản trong kiểm toán nội bộ 6 1.1.Khái quát chung về kiểm toán 6 1.2. Kiểm toán nội bộ Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản 10 1.2.1. Kiểm toán nội bộ trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. 10 1.2.2. Mục tiêu, yêu cầu, đối tượng của kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư XDCB do kiểm toán nội bộ thực hiện. 15 1.2.3. Quy trình kiểm toán 17 Chương II: 25 Thực trạng kiểm toán nội bộ Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà 25 2.1. Tình hình sản xuất kinh doanh và hoạt động kiểm toán tại Tổng công ty Sông Đà 25 2.1.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty Sông Đà 25 2.1.2. Quá trình hoạt động của bộ máy kiểm toán nội bộ tại Tổng công ty Sông Đà. 29 2.2. Thực trạng kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản do kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà thực hiện. 31 2.2.1. Lập kế hoạch kiểm toán. 32 2.2.2. Thực hiện kiểm toán. 49 2.2.3. Kết thúc kiểm toán. 65 2.3. Nhận xét về quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản do kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà tiến hành. 68 Chương III 76 Phương hướng hoàn thiện kiểm toán nội bộ Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản qua thực tiễn hoạt động của phòng kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà 76 3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản đối với kiểm toán nội bộ Tổng công ty Sông Đà. 76 3.2. Một số kiến nghị nhằm khắc phục khó khăn và hoàn thiện kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản. 79 Kết luận 87 Tài liệu tham khảo 89 Danh mục sơ đồ, bảng biểu Sơ đồ, bảng biểu  Tên sơ đồ. bảng biểu   Sơ đồ số 1  Nộ dung kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư   Sơ đồ số 2  Tổ chức bộ máy kế toán Tổng công ty Sông Đà   Sơ đồ số 3  Đối chiếu quy trình kiểm toán hoạt động và kiểm toán báo cáo tài chính   Bảng số 1  Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động của Tổng công ty Sông Đà   Bảng số 2  Quyết định phê duyệt kế hoạch kiểm toán   Bảng số 3  Bảng phân công công tác   Bảng số 4  Mẫu đề cương kiểm toán   Bảng số 5  Đề cương kiểm toán nguồn vốn   Bảng số 6  Đề cương kiểm toán chi phí xây dựng và lắp đặt   Bảng số 7  Đề cương kiểm toán chi phí mua sắm trang thiết bị   Bảng số 8  Đề cương kiểm toán chi phí kiến thiết cơ bản khác   Bảng số 9  Đề cương kiểm toán Tài khoản tiền   Bảng số 10  Đề cương kiểm toán vật tư   Bảng số 11  Đề cương kiểm toán tài sản cố định   Bảng số 12  Đề cương kiểm toán thanh toán   Bảng số 13  Tổng hợp dự án đầu tư nhà G10   Bảng số 14  Chênh lệch giữa dự toán và quyết toán   Bảng số 15  Bảng kê giảm giá trị công trình   Bảng số 16  Mục tiêu và các thủ tục kiểm toán các khoản phải thu   Bảng số 17  Biên bản kiểm toán   Danh mục chữ viết tắt KTCB : Kiến thiết cơ bản XDCB : Xây dựng cơ bản HĐQT : Hội đồng quản trị Lời nói đầu Trong những năm gần đây, hoà chung với xu thế hội nhập và mở cửa của nền kinh tế, ngành công nghiệp xây dựng đã vươn lên phát triển về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về xây dựng của các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp cũng như các hộ dân cư trong cả nước. Sự phát triển mạnh mẽ này đòi hỏi việc quản lý công nghiệp xây dựng phải đồng bộ và ngày càng đạt hiệu quả cao. Hơn thế, do tính chất đặc thù của ngành và của sản phẩm xây dựng nên quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi có sự kết hợp của nhiều bên khác nhau như chủ đầu tư, cơ quan thiết kế, đơn vị tổ chức thi công, các đơn vị cung cấp vật tư thiết bị, cơ quan quản lý Nhà nước,…do đó các nhà quản lý không những phải nâng cao trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm thực tế mà phải có sự hiểu biết trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Một trong những hoạt động quản lý đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu quả và rất mới mẻ ở nước ta là hoạt động kiểm toán. Hoạt động này không những rất phát triển trong các khu vực kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập, mà nó còn phát huy được sức mạnh quản lý của mình trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ. Trong quá trình thực tập tại phòng Kiểm toán nội bộ của Tổng công ty Sông Đà, em đã được tìm hiểu về quá trình kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản. Đây là một lĩnh vực kiểm toán mang tính đặc thù, diễn ra thường xuyên trong hoạt động kiểm toán tại Tổng công ty Sông Đà và hoạt động này đã cung cấp nhiều thông tin, nhiều ý kiến cho Ban lãnh đạo Tổng công ty với mục tiêu kiểm tra tính chính xác, trung thực của báo cáo, giám sát việc tuân thủ những quy tắc, quy định do nhà nước cũng như do Tổng công ty ban hành từ đó góp phần ngăn chặn những hiện tượng gian lận, tiêu cực, phục vụ cho lợi ích của toàn công ty và giúp công ty có thể phát triển vững bền. Nhận thức được sự mới mẻ về lý luận và những yêu cầu thiết yếu trong thực tế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, chuyên đề tốt nghiệp của em sẽ đề cập đến vấn đề: “Tìm hiểu về kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà”. Trong đó chuyên đề sẽ đề cập đến những lý luận cơ bản về vấn đề kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản trong kiểm toán nội bộ, tìm hiểu thực tế kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà và đưa ra những ý kiến về việc vận dụng lý luận nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà. Nội dung chuyên đề bao gồm các phần chính sau: Chương I: Cơ sở lý luận của việc kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản. Chương II: Thực trạng kiểm toán nội bộ Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà Chương III: Hoàn thiện quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng công ty Sông Đà. CHƯƠNG I CƠ Sở Lý LUậN CủA VIệC kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản trong kiểm toán nội bộ 1.1.Khái quát chung về kiểm toán Kiểm toán là một hoạt động tuy mới xuất hiện ở nước ta khoảng 10 năm nay nhưng đã có những bước phát triển lớn và ngày càng khẳng định rõ vai trò của mình trong việc xác minh và bày tỏ ý kiến, tạo niềm tin cho những người quan tâm, củng cố nền nếp hoạt động tài chính và góp phần nâng cao hiệu quả, năng lực quản lý. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều quan niệm về kiểm toán, các quan niệm đó không hoàn toàn đối lập nhau mà phản ánh quá trình phát triển của cả thực tiễn và lý luận kiểm toán đồng thời nêu lên bản chất của kiểm toán đó là việc xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực. Như vậy, kiểm toán có chức năng cơ bản là xác minh và bày tỏ ý kiến của mình về những lĩnh vực được kiểm toán với mục đích là tạo niềm tin cho những người quan tâm về tính trung thực của thông tin, tính quy tắc trong việc thực hiện các nghiệp vụ, tính hiệu quả, tính hiệu năng của hoạt động. Nội dung trực tiếp của kiểm toán là thực trạng hoạt động tài chính. Thực trạng này một phần được phản ánh trên các bảng khai tài chính hay những tài liệu kế toán nói chung và một phần không thể hiện trên các tài liệu kế toán hay các tài liệu khác. Để thực hiện tốt chức năng của mình, kiểm toán phải hình thành một hệ thống phương pháp kỹ thuật hoàn chỉnh khoa học bao gồm các phương pháp kiểm toán chứng từ và các phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ. Phân hệ phương pháp kiểm toán chứng từ bao gồm: - Kiểm toán các cân đối kế toán: là phương pháp dựa trên các cân đối kế toán và các cân đối khác để kiểm toán các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành cân đối đó. - Đối chiếu trực tiếp: là đối chiếu một chỉ tiêu trên các nguồn tài liệu khác nhau với nhau. - Đối chiếu logic: là việc nghiên cứu các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu có quan hệ với nhau. Phân hệ phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ bao gồm: - Kiểm kê: là việc kiểm tra tại chỗ các đối tượng kiểm toán. - Điều tra:là dùng các cách khác nhau để tiếp cận và đánh giá đối tượng kiểm toán. - Trắc nghiệm : là việc tái diễn các hoạt động, nghiệp vụ để xác minh lại kết quả của một quá trình, một sự việc đi qua. Một cuộc kiểm toán phải được thực hiện bởi những kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu về kế toán và kiểm toán đồng thời phải có những hiểu biết nhất định về lĩnh vực mà mình kiểm toán. Khách thể kiểm toán được xác định là một cá nhân hay một đơn vị, tổ chức cần được kiểm toán. Trong quá trình hình thành và phát triển, ngành kiểm toán không chỉ dừng lại ở việc kiểm toán bảng khai tài chính hay tài liệu kế toán mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy theo quan điểm hiện đại, phạm vi kiểm toán rất rộng bao gồm các lĩnh vực chủ yếu sau: Kiểm toán thông tin (information audit): hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán. Kiểm toán tính quy tắc (regularity audit): hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các thể lệ, chế độ, luật pháp của đơn vị được kiểm toán trong quá trình hoạt động. Kiểm toán hiệu quả (efficiency audit): hướng vào mối quan hệ giữa một bên là các sản phẩm dịch vụ làm ra với một bên là các nguồn lực đã tạo ra chúng với yêu cầu có kết quả tối đa và chi phí về nguồn lực tối thiểu. Kiểm toán hiệu năng (effect audit): hướng vào mối quan hệ giữa mục tiêu và kết quả cụ thể của một chương trình. Kiểm toán là một hoạt động phát sinh từ yêu cầu quản lý và phục vụ cho yêu cầu quản lý. Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm như các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, cơ quan Nhà nước,... Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt động tài chính kế toán nói chung và hoạt động của đơn vị được kiểm toán nói riêng. Đồng thời kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh, chưa có các chuyên gia giỏi, giàu kinh nghiệm về quản lý, để duy trì kỷ cương và bảo đảm phát triển đúng hướng thì việc xây dựng đồng bộ và tổ chức thực hiện tốt kiểm toán trên mọi lĩnh vực là việc làm rất cần thiết và có vai trò, ý nghĩa lớn trong hệ thống quản lý. Hiện nay, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế, kiểm toán đóng vai trò to lớn. Hoạt động này là thực sự cần thiết đối với các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế. Hình thức tổ chức bộ máy kiểm toán theo đó cũng được phân thành 3 loại hình: kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ. Kiểm toán nhà nước Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán tài sản của Nhà nước. ở nước ta, kiểm toán Nhà nước được chính thức thành lập theo Nghị định 70/CP và có chức năng “xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp”( trích điều 1 của Nghị định 70/CP) Theo điều 2 của Nghị định 70/CP “kiểm toán Nhà nước có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch kiểm toán hàng năm. Qua kiểm toán, cung cấp kết quả cho chính phủ và góp ý kiến với đơn vị được kiểm toán củng cố nền tài chính kế toán và kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý những vi phạm…” Kiểm toán độc lập Kiểm toán độc lập là hình thức tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng do các kiểm toán viên độc lập thực hiện. Chức năng của kiểm toán độc lập là xác minh và đưa ra ý kiến về tính trung thực, hợp lý của các thông tin tài chính tại đơn vị được kiểm toán với tạo sự tin cậy cho những người quan tâm tới các thông tin đó . Kiểm toán nội bộ Theo các chuẩn mực Hành nghề kiểm toán nội bộ ban hành tháng 5 năm 1978, “ Kiểm toán nội bộ là bộ máy thực hiện chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó”(Modern internal auditing_ appraising operationand control – Victor Z.Brink and Herbert Witt). Như vậy, kiểm toán nội bộ là bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi đơn vị, phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị. Do mục tiêu được giới hạn ở phạm vi nội bộ đơn vị nên bộ máy này thường chỉ bao gồm các kiểm toán viên nội bộ. Về nội dung kiểm toán, kiểm toán nội bộ không chỉ kiểm tra chất lượng thông tin kế toán, tài chính mà còn thực hiện kiểm toán hiệu quả, kiểm toán hiệu năng, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán thông tin nhằm phục vụ các yêu cầu khác nhau của quản lý. ở các nước phát triển như Mĩ và Pháp, kiểm toán nội bộ đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp phức tạp đòi hỏi cả sự nghên cứu, đào tạo và tổ chức tương ứng với chức năng và lĩnh vực hoạt động trong từng thời kỳ, từ lĩnh vực xử lý thông tin đến hiệu quả kinh doanh và năng lực quản lý. ở nước ta, kiểm toán nội bộ gắn liền với hoạt động kế toán và quản lý, chưa tách ra thành một hệ thống pháp quy riêng với những quy trình và phương pháp kỹ thuật riêng đồng thời đội ngũ kiểm toán viên nội bộ cũng chưa được quan tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ đúng mức. Để đáp ứng các yêu cầu trong quản lý, Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước kèm theo Quyết định số 832 TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997. Theo điều 3 của quy chế này “doanh nghiệp phải thường xuyên tổ chức kiểm toán nội bộ nhằm đánh giá về chất lượng và độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính; về bảo vệ an toàn tài sản của doanh nghiệp; về chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ của nhà nước, cũng như các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban giám đốc doanh nghiệp đối với hoạt động của doanh nghiệp (kể cả đối với công ty cổ phần, liên doanh mà số vốn góp của doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 50%)”. Quy chế này là căn cứ để doanh nghiệp xây dựng và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp và có hiệu quả ở doanh nghiệp và các đơn vị thành viên. Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ là các lĩnh vực: Kiểm toán các báo cáo tài chính, các báo cáo quản trị của doanh nghiệp và của các đơn vị thành viên; Kiểm toán tuân thủ; Kiểm toán hoạt động. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán nội bộ phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. - Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính phản ánh trên báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi trình ký duyệt. - Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban giám đốc doanh nghiệp. - Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh. 1.2. Kiểm toán nội bộ Báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản 1.2.1. Kiểm toán nội bộ trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản – một lĩnh vực phức tạp, khó khăn do đặc thù riêng của ngành lại càng đặc biệt khó khăn phức tạp hơn trong cơ chế thị trường hiện nay. Đứng trước những thử thách đó ngành kiểm toán lại càng khẳng định vị trí, vai trò và hiệu quả của nó trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản nới chung và kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản nói riêng không chỉ đặt ra những câu hỏi khó cho kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập mà còn là một công việc có tính đặc thù và diễn ra thường xuyên đối với cả kiểm toán nội bộ tại những đơn vị có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản. Đặc điểm của ngành XDCB, đặc điểm quản lý đầu tư XDCB có ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình đầu tư XDCB. Đầu tư là việc bỏ vốn để thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Đầu tư xây dựng cơ bản là việc bỏ vốn trong lĩnh vực xây dựng cơ bản nhằm tạo ra sản phẩm là những công trình, hạng mục công trình và thu lợi ích kinh tế, xã hội từ các công trình, hạng mục công trình đó. Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất chịu tác động của điều kiện tự nhiên. Sản phẩm của ngành là những công trình, hạng mục công trình được tạo nên từ vật liệu xây dựng, thiết bị, lao động gắn liền với đất, khoảng không mặt nước, mặt biển và thềm lục địa. Các công trình, hạng mục công trình cũng là sản phẩm của công nghệ xây lắp nó được tạo ra nhằm sản xuất những sản phẩm cụ thể. Các công trình xây dựng cơ bản thường có giá trị lớn, thời gian thi công lâu, địa điểm thi công cố định, có dự toán và phương pháp thi công riêng. Công trình xây dựng cơ bản có nhiều loại: Nếu theo tính chất của công trình và theo quy mô đầu tư , công trình được chia ra thành ba loại: + Công trình là sản phẩm của dự án nhóm A + Công trình là sản phẩm của dự án nhóm B + Công trình là sản phẩm của dự án nhóm C Nếu phân loại công trình theo nguồn vốn chia ra: + Công trình được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp + Công trình được đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh + Công trình được đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước + Công trình được đầu tư bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước Nếu phân loại công trình theo yêu cầu phạm vi quản lý: + Công trình do trung ương quản lý + Công trình do địa phương quản lý Trên thế giới quá trình đầu tư xây dựng cơ bản thường tiến hành qua sáu bước: Bước 1: Nghiên cứu luận chứng và tính khả thi của dự án Bước 2: Thiết kế,lập dự toán và tính toán chi tiết các đặc điểm kinh tế kỹ thuật công trình Bước 3: Cung ứng dịch vụ, vật tư trang thiết bị, công nghệ Bước 4: Xây dựng (thực hiện đầu tư ) Bước 5: Vận hành thử và bổ sung Bước 6: Sử dụng công trình ở nước ta, trình tự tiến hành đầu tư được thực hiện qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư Giai đoạn 3: Kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng. Việc tổ chức quản lý các công trình thuộc các dự án có sự phân chia phù hợp giữa dự án với điều kiện của chủ đầu tư và hình thức quản lý; tuỳ theo quy mô tính chất của dự án và năng lực điều kiện của mình mà chủ đầu tư thực hiện quản lý dự án theo một trong các hình thức sau: - Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án - Chìa khoá trao tay - Chủ nhiệm điều hành dự án - Tự thực hiện dự án Như vậy, sản phẩm xây dựng cơ bản thường được xác định về giá thanh toán và đối tượng bán trước khi có sản phẩm, đồng thời nó lại được tiêu thụ tại chỗ. Chính đặc điểm này đã tác động và làm quá trình kiểm toán luôn được đi từ thiết kế, dự toán và đến hiện trường. Quá trình kiểm toán luôn luôn được tiến hành riêng biệt độc lập cho từng hạng mục công trình với những quy định đặc thù riêng có của nó về thiết kế, dự toán, địa điểm, đơn giá cùng các quy định của khu vực địa phương và môi trường sinh thái… Các sản phẩm xây dựng cơ bản tạo ra phải tuân theo một quy trình và quy định chặt chẽ về mọi mặt. Do vậy, việc kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản là một trường hợp đặc biệt của kiểm toán Báo cáo tài chính song thực chất lại đi sâu vào loại kiểm toán tuân thủ là chủ yếu. Tuy nhiên để đạt được yêu cầu của kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản, ở mỗi quốc gia và mỗi giai đoạn do trình độ và yêu cầu, nên khả năng đạt được mục tiêu cũng có sự khác nhau. Một đặc trưng nổi bật của sở hữu vốn đó là vốn đầu tư vào xây dựng cơ bản phải tuân thủ nghiêm ngặt về quy trình đầu tư xây dựng, xét duyệt, thẩm định, cấp phát, th
Luận văn liên quan