Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động trong xí nghiệp tại Xí nghiệp máy bay A76

Phần I: Tìm hiểu khái quát chung về xí nghiệp. I. Quá trình hình thành và phát triển. Ngày 15/1/1956 Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị định số 666/TTG thành lập Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam. Đây là mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời và phát triển của hàng không dân dụng Việt Nam. Ngày 24/1/1959 Cục không quân thuộc Bộ quốc phòng được thành lập, hoạt động của hàng không dân dụng Việt Nam do Cục không quân quản lý. Ngày 1/5/1959 tại sân bay Gia Lâm Cục hàng không tổ chức lễ ra mắt đơn vị không quân vận tải đầu tiên đó là Trung đoàn 919 là nòng cốt của hàng không quốc gia và Tổng Công ty hàng không Việt Nam ngày nay. Căn cứ vào nghị quyết của ủy ban thường vụ quốc hội. Ngày 11/2/1976 Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số 27/CP thành lập Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam trực thuộc Hội đồng chính phủ. Tổng cục hàng không dân dụng được đặt được dưới sự chỉ đạo lãnh đạo của quận ủy Trung ương và bộ Quốc phòng. Tổng cục hàng không đã nhanh chóng tổ chức bộ máy, cơ quan giúp việc theo nề nếp một đơn vị quân đội có cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị sản xuất kinh doanh như: Đơn vị bay 919 ,hệ thống các sân bay, quản lý điều hành bay,các xưởng sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, cơ sở huấn luyện đào tạo. Ngày 14/7/1976 thông qua Quyết định số 147/QĐ - TC Tổng cục trưởng Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam đã thành lập xưởng sửa chữa máy bay A76. Quá trình hình thành và phát triển gần 30 năm qua của xí nghiệp đã trải qua từng thời kỳ theo cơ cấu phát triển của ngành hàng không Việt Nam. Từ năm 1975 - 1990. Đây là thời kỳ mà xí nghiệp máy bay A76 đảm nhận công tác kỹ thuật với số lượng máy bay chủ yếu do Liên Xô chế tạo. Lực lượng lao động chính lúc này là cán bộ công nhân viên kỹ thuật được rút ra từ đoàn bay 919 và A33 thuộc binh chủng không quân điều động về đa số đã trải qua chiến đấu số lượng kỹ sư, thợ kỹ thuật và trang thiết bị còn ít,đội máy bay chủ yếu là:AH2, IL2, IL4, IL18, AH24, JAK40, TY134. Trong thời gian này xí nghiệp máy bay A76 chủ yếu bảo đảm được những phần công việc sửa chữa phục vụ ngoài trường máy bay trước và sau khi bay,định kỳ bảo dưỡng, sửa chữa hỏng hóc vừa và nhỏ. Do nhu cầu vận chuyển hành khách hàng hóa ngày càng tăng đòi hỏi công tác kỹ thuật luôn đảm bảo có đầu máy bay tốt để sẵn sàng làm nhiệm vụ. Quán triệt được tình hình trên xí nghiệp đã có kế hoạch xây dựng nơi ăn ở làm việc ổn định tại khu đông sân bay Gia Lâm xây dựng khu nhà hiệu nghiệm, mua thêm và lắp đặt máy móc hiệu nghiệm phục vụ kịp thời công tác bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa bảo dưỡng cho các loại máy xí nghiệp được giao. Kéo dài niên hạn sử dụng cho máy bay IL 18, TY - 134 A & B, IAK 40. Chỉ từ năm 1990 - 1995 hiệu nghiệm sửa chữa 15762 khối máy làm lợi và tiết kiệm được nhiều ngoại tệ cho ngành hàng không Việt Nam. Đã từ sản xuất được thiết bị kiểm tra máy móc phục vụ bay như: ép lốp, làm lốp, xe nạp dầu nhờn. Thời kỳ 1991 - 1998, đây là thời kỳ mà phần lớn các máy bay thế hệ cũ đã hết niên hạn sử dụng. Ngành Hàng không dân dụng Việt Nam có chủ trương mua sắm và thuê lại cả các loại máy bay hiện đại do các nước phương tây sản xuất như : Loại A320 và ATR - 72 do AIRBUS của cộng hòa Pháp sản xuất, loại B767 do hãng BOING của Mỹ sản xuất mới đáp ứng được nhu cần chuyên chở hành khách. Một mặt xí nghiệp đào tạo bồi dưỡng đội ngũ thợ kỹ thuật để thành thạo sửa chữa và bảo dưỡng phục vụ một số loại máy bay của Liên Xô, một mặt chú trọng tuyển chọn kỹ sư, cán bộ và thợ kỹ thuật có tay nghề cao, ngoại ngữ khá đưa đi học tập chuyển loại kỹ thuật máy bay mới để làm nòng cốt cho xí nghiệp sau này. Sửa chữa cho loại máy bay A320, đầu kéo máy bay B767, thang nạp dầu máy bay B767, bàn kiểm tra động cơ máy bay A320, xây dựng trạm sửa chữa bảo hành xe đặc chủng, thuê chuyên gia A320. Xí nghiệp cố gắng gấp rút hoàn thành để đến tháng 5/1996 tiếp nhận đưa vào sử dụng 10 chiếc máy bay A320 và ngày 10/7/1996 chiếc máy bay đầu tiên đã được giao cho Tổng Công ty hàng không Việt Nam tại sân bay quốc tế Nội Bài. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vận chuyển hành khách và hàng hóa hiện nay xí nghiệp đang tiến hành xây dựng và mở rộng nhà sửa chữa các loại máy bay lớn và hiện đại. + Từ năm 1998 đến nay; xí nghiệp đã không ngừng tìm mọi biện pháp để nâng cao trình độ của cán bộ quản lý cũng như công nhân viên và công nhân trong xí nghiệp ,tăng trang thiết bị phục vụ cho khâu sản xuất được tốt hơn và chất lượng ngày càng cao hơn. Tính đến tháng 05/2002 Tổng công ty Hàng Không Việt Nam đang đưa vào khai thác 26 máy bay ,gồm:5 chiếc B767,10 chiếc A320,7 chiếc ATR72 ,2 chiếc A321 và 2 chiếc Fokker vậy nên nhu cầu về bảo dưỡng và sửa chữa máy bay của Tổng công ty là ngày càng cao . Tổng Công ty hàng không Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước có quyền tự chủ trong sản xuất cũng như trong kinh doanh, tuy nhiên với tư cách là một đơn vị hoạch toán phụ thuộc của Tổng công ty hàng không nên xí nghiệp máy bay A76 chỉ có quyền tự chủ về mặt kỹ thuật còn về mặt tài chính thì hoàn toàn phụ thuộc Tổng Công ty hàng không Việt Nam. Từ năm 1989 xí nghiệp phải tự lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh tự tiếp cận thị trường, đặc biệt là thị trường đầu vào đảm bảo sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, đảm bảo giờ bay tốt cho các máy bay nhằm tăng doanh thu cho tổng công ty đồng thời cho chính doanh nghiệp tuy còn bỡ ngỡ trước cơ chế thị trường và gặp nhiều khó khăn vướng mắc song xí nghiệp đã khẳng định chỗ đứng của mình và không ngừng phát triển là một bộ phận không thể thiếu được trong ngành Hàng không dân dụng Việt Nam. Nhiệm vụ của xí nghiệp là sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ và phục vụ bay song là một đơn vị hạch toán phụ thuộc trong Tổng Công ty HK Việt Nam nên nhiệm vụ đó được thực hiện theo kế hoạch ngoài giờ bay do Tổng Công ty giao. Điều đó có nghĩa là các công việc của xí nghiệp được quy đổi ra gì bay để xây dựng đơn giá thanh toán nội bộ trong đó có đơn giá tiền lương. Trong đó đơn giá tiền lương đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện công tác tổ chức lao động trong xí nghiệp. Đó chính là kết tinh lao động được thể hiện bằng tiền của tập thể cán bộ công nhân viên xí nghiệp theo giờ bay và theo sự an toàn của từng chuyến bay.

doc36 trang | Chia sẻ: dansaran | Ngày: 20/12/2012 | Lượt xem: 1245 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động trong xí nghiệp tại Xí nghiệp máy bay A76, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần I: Tìm hiểu khái quát chung về xí nghiệp. I. Quá trình hình thành và phát triển. Ngày 15/1/1956 Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị định số 666/TTG thành lập Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam. Đây là mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời và phát triển của hàng không dân dụng Việt Nam. Ngày 24/1/1959 Cục không quân thuộc Bộ quốc phòng được thành lập, hoạt động của hàng không dân dụng Việt Nam do Cục không quân quản lý. Ngày 1/5/1959 tại sân bay Gia Lâm Cục hàng không tổ chức lễ ra mắt đơn vị không quân vận tải đầu tiên đó là Trung đoàn 919 là nòng cốt của hàng không quốc gia và Tổng Công ty hàng không Việt Nam ngày nay. Căn cứ vào nghị quyết của ủy ban thường vụ quốc hội. Ngày 11/2/1976 Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số 27/CP thành lập Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam trực thuộc Hội đồng chính phủ. Tổng cục hàng không dân dụng được đặt được dưới sự chỉ đạo lãnh đạo của quận ủy Trung ương và bộ Quốc phòng. Tổng cục hàng không đã nhanh chóng tổ chức bộ máy, cơ quan giúp việc theo nề nếp một đơn vị quân đội có cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị sản xuất kinh doanh như: Đơn vị bay 919 ,hệ thống các sân bay, quản lý điều hành bay,các xưởng sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, cơ sở huấn luyện đào tạo. Ngày 14/7/1976 thông qua Quyết định số 147/QĐ - TC Tổng cục trưởng Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam đã thành lập xưởng sửa chữa máy bay A76. Quá trình hình thành và phát triển gần 30 năm qua của xí nghiệp đã trải qua từng thời kỳ theo cơ cấu phát triển của ngành hàng không Việt Nam. Từ năm 1975 - 1990. Đây là thời kỳ mà xí nghiệp máy bay A76 đảm nhận công tác kỹ thuật với số lượng máy bay chủ yếu do Liên Xô chế tạo. Lực lượng lao động chính lúc này là cán bộ công nhân viên kỹ thuật được rút ra từ đoàn bay 919 và A33 thuộc binh chủng không quân điều động về đa số đã trải qua chiến đấu số lượng kỹ sư, thợ kỹ thuật và trang thiết bị còn ít,đội máy bay chủ yếu là:AH2, IL2, IL4, IL18, AH24, JAK40, TY134. Trong thời gian này xí nghiệp máy bay A76 chủ yếu bảo đảm được những phần công việc sửa chữa phục vụ ngoài trường máy bay trước và sau khi bay,định kỳ bảo dưỡng, sửa chữa hỏng hóc vừa và nhỏ. Do nhu cầu vận chuyển hành khách hàng hóa ngày càng tăng đòi hỏi công tác kỹ thuật luôn đảm bảo có đầu máy bay tốt để sẵn sàng làm nhiệm vụ. Quán triệt được tình hình trên xí nghiệp đã có kế hoạch xây dựng nơi ăn ở làm việc ổn định tại khu đông sân bay Gia Lâm xây dựng khu nhà hiệu nghiệm, mua thêm và lắp đặt máy móc hiệu nghiệm phục vụ kịp thời công tác bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa bảo dưỡng cho các loại máy xí nghiệp được giao. Kéo dài niên hạn sử dụng cho máy bay IL 18, TY - 134 A & B, IAK 40. Chỉ từ năm 1990 - 1995 hiệu nghiệm sửa chữa 15762 khối máy làm lợi và tiết kiệm được nhiều ngoại tệ cho ngành hàng không Việt Nam. Đã từ sản xuất được thiết bị kiểm tra máy móc phục vụ bay như: ép lốp, làm lốp, xe nạp dầu nhờn. Thời kỳ 1991 - 1998, đây là thời kỳ mà phần lớn các máy bay thế hệ cũ đã hết niên hạn sử dụng. Ngành Hàng không dân dụng Việt Nam có chủ trương mua sắm và thuê lại cả các loại máy bay hiện đại do các nước phương tây sản xuất như : Loại A320 và ATR - 72 do AIRBUS của cộng hòa Pháp sản xuất, loại B767 do hãng BOING của Mỹ sản xuất mới đáp ứng được nhu cần chuyên chở hành khách. Một mặt xí nghiệp đào tạo bồi dưỡng đội ngũ thợ kỹ thuật để thành thạo sửa chữa và bảo dưỡng phục vụ một số loại máy bay của Liên Xô, một mặt chú trọng tuyển chọn kỹ sư, cán bộ và thợ kỹ thuật có tay nghề cao, ngoại ngữ khá đưa đi học tập chuyển loại kỹ thuật máy bay mới để làm nòng cốt cho xí nghiệp sau này. Sửa chữa cho loại máy bay A320, đầu kéo máy bay B767, thang nạp dầu máy bay B767, bàn kiểm tra động cơ máy bay A320, xây dựng trạm sửa chữa bảo hành xe đặc chủng, thuê chuyên gia A320. Xí nghiệp cố gắng gấp rút hoàn thành để đến tháng 5/1996 tiếp nhận đưa vào sử dụng 10 chiếc máy bay A320 và ngày 10/7/1996 chiếc máy bay đầu tiên đã được giao cho Tổng Công ty hàng không Việt Nam tại sân bay quốc tế Nội Bài. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vận chuyển hành khách và hàng hóa hiện nay xí nghiệp đang tiến hành xây dựng và mở rộng nhà sửa chữa các loại máy bay lớn và hiện đại. + Từ năm 1998 đến nay; xí nghiệp đã không ngừng tìm mọi biện pháp để nâng cao trình độ của cán bộ quản lý cũng như công nhân viên và công nhân trong xí nghiệp ,tăng trang thiết bị phục vụ cho khâu sản xuất được tốt hơn và chất lượng ngày càng cao hơn. Tính đến tháng 05/2002 Tổng công ty Hàng Không Việt Nam đang đưa vào khai thác 26 máy bay ,gồm:5 chiếc B767,10 chiếc A320,7 chiếc ATR72 ,2 chiếc A321 và 2 chiếc Fokker vậy nên nhu cầu về bảo dưỡng và sửa chữa máy bay của Tổng công ty là ngày càng cao . Tổng Công ty hàng không Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước có quyền tự chủ trong sản xuất cũng như trong kinh doanh, tuy nhiên với tư cách là một đơn vị hoạch toán phụ thuộc của Tổng công ty hàng không nên xí nghiệp máy bay A76 chỉ có quyền tự chủ về mặt kỹ thuật còn về mặt tài chính thì hoàn toàn phụ thuộc Tổng Công ty hàng không Việt Nam. Từ năm 1989 xí nghiệp phải tự lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh tự tiếp cận thị trường, đặc biệt là thị trường đầu vào đảm bảo sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, đảm bảo giờ bay tốt cho các máy bay nhằm tăng doanh thu cho tổng công ty đồng thời cho chính doanh nghiệp tuy còn bỡ ngỡ trước cơ chế thị trường và gặp nhiều khó khăn vướng mắc song xí nghiệp đã khẳng định chỗ đứng của mình và không ngừng phát triển là một bộ phận không thể thiếu được trong ngành Hàng không dân dụng Việt Nam. Nhiệm vụ của xí nghiệp là sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ và phục vụ bay song là một đơn vị hạch toán phụ thuộc trong Tổng Công ty HK Việt Nam nên nhiệm vụ đó được thực hiện theo kế hoạch ngoài giờ bay do Tổng Công ty giao. Điều đó có nghĩa là các công việc của xí nghiệp được quy đổi ra gì bay để xây dựng đơn giá thanh toán nội bộ trong đó có đơn giá tiền lương. Trong đó đơn giá tiền lương đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện công tác tổ chức lao động trong xí nghiệp. Đó chính là kết tinh lao động được thể hiện bằng tiền của tập thể cán bộ công nhân viên xí nghiệp theo giờ bay và theo sự an toàn của từng chuyến bay. II. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của xí nghiệp máy bay A76. II.1. Chức năng,nhiệm vụ. Căn cứ vào sự chỉ đạo của Tổng công ty hàng không để tổ chức sản xuất,khai thác bảo dưỡng và sửa chữa các loại máy bay nhằm đảm bảo an toàn cho các chuyến bay. Nhiệm vụ của xí nghiệp là sữa chữa, bảo dưỡng định kỳ các loại máy bay của viet nam airlines phục vụ trước khi bay, sau khi bay và giữa 2 lần bay cho các loại máy bay của viet nam airlines và các Hãng hàng không Quốc tế khác tại sân bay nội bài. 1.Bảo dưỡng, sửa chữa các máy bay của viet nam airlines bao gồm: Các loại máy bay đang đưa vào khai thác và các máy bay dừng bay. Quá trình bảo dưỡng và sữa chữa được tiến hành theo định kỳ như: Dayly Check, weekly check, a check, 2a check, 4a check, c check, 2c check,4C,5 NĂM. Dayly Check là tiến hành kiểm tra kỹ thuật và các yếu tố khác cho máy bay được diễn ra hàng ngày. weekly check là tiến hành kiểm tra kỹ thuật và các yếu tố khác cho máy bay được diễn ra hàng tuần. * A check là tiến hành bảo dưỡng sau khi máy bay đã khai thác 400 giờ bay. * 2a check là tiến hành bảo dưỡng sau khi máy bay đã khai thác 800 giờ bay. * 4a check là tiến hành bảo dưỡng sau khi máy bay đã khai thác 1600 giờ bay. * c check là tiến hành bảo dưỡng sau khi máy bay đã khai thác 15 tháng. * 2c check là tiến hành bảo dưỡng sau khi máy bay đã khai thác 30 tháng. *4C CHECH là tiến hành bảo dưỡng sau khi máy bay đã khai thác 60 tháng. *4C,5NĂM là tiến hành bảo dưỡng sau khi máy bay đã khai thác được 5 năm. 2. Phục vụ trước khi bay: Là kiểm tra các thông số kỹ thuật trước khi máy bay cất cánh để đảm bảo an toàn cho các chuyến bay. - Phục vụ sau khi bay: Kiểm tra kỹ thuật sau khi máy bay hạ cánh vào kéo dắt máy bay vào sân đỗ. - Phục vụ giữa 2 lần bay: Kiểm tra các thông số kỹ thuật khi máy bay của viet nam airlines hay bất kỳ máy bay của nước nào đó đỗ tại sân bay để tiếp dầu hay lấy trả khách. 3. Ngoài ra xí nghiệp còn gia công lắp đặt, sữa chữa các chi tiết, thiết bị khác cho một số đơn vị khác trong ngành. II.2. Tổ chức bộ máy của xí nghiệp. Là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng Công ty hàng không Việt Nam. Do vậy tổ chức bộ máy của xí nghiệp chịu sự quản lý theo ngành dọc của Tổng Công ty. Căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất thực tế của đơn vị cùng với tính chất của ngành bộ máy xí nghiệp máy bay A76 gồm có các phòng ban đơn vị sau: - Ban giám đốc. - Văn phòng Đảng Đoàn thể. - Phòng tổ chức - hành chính. - Phòng kỹ thuật - kế hoạch(-bộ phận hiệu chuẩn đo lường). - Phòng tài chính - kế toán. - Phòng đảm bảo chất lượng. - Phòng cung ứng vật tư. + Đội kho. - Phòng bảo dưỡng máy bay. + Trung tâm điều hành bảo dưỡng (MCC). + Đội bảo dưỡng máy bay A320. + Đội bảo dưỡng máy bay FOKKER 70. + Đội phục vụ bay các máy bay Quốc tế,ATR 72 và B767 - Phân xưởng điện tử. - Phân xưởng cơ giới tổng hợp. - Phân xưởng trang thiết bị mặt đất. - Phân xưởng phục vụ bảo dưỡng. Tổng số lao động của xí nghiệp tính đến ngày 31/12/2002 là 543 lao động . Sơ đồ 02: tổ chức kỹ thuật ngành KHVN Phần II: Phân tích hoạt động của xí nghiệp máy bay A76 I. Phân tích hoạt động sản xuất. I.1. Đặc điểm của quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất ở xí nghiệp máy bay A76 không như quá trình sản xuất ở các xí nghiệp khác. Vì xí nghiệp máy bay A76 mục đích không phải sản xuất ra sản phẩm mà nhiệm vụ hính của nó là bảo đảm kỹ thuật cho máy bay như: bảo dưỡng sửa chữa máy bay, phục vụ bay bên cạnh đó xí nghiệp cũng thiết kế chế tạo phụ tùng, một số chi tiết bộ phận máy bay, thiết bị dụng cụ chuyên dùng cho việc sửa chữa. Song để thực hiện một công việc thì đều phải trải qua 3 giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Chuẩn bị. Giai đoạn 2: Triển khai công việc. Giai đoạn 3: Đánh giá công việc. Nhưng mỗi một lĩnh vực hoạt động khác nhau thì chi tiết của quá trình hoạt động trong lĩnh vực đó cũng khác nhau. Quá trình sửa chữa và bảo dưỡng máy bay của xí nghiệp A76 được thể hiện qua sơ đồ sau: (Sơ đồ 03). Ghi chú: 1. Bao gồm tất cả những thông tin về máy bay như ngày sản xuất, nơi sản xuất, tên nhà chế tạo, số giờ bay và những hỏng hóc. 2. Nói lên phương án để bảo dưỡng và sửa chữa mà nhà chế tạo đưa ra khi chế tạo ra loại máy bay, thường thì có ít nhất từ 2 phương án trở lên. 3. Đó là việc lựa chọn một trong các phương án bảo dưỡng của nhà chế tạo cho phù hợp với tình hình thực tế. 4. Đó là tất cả những yêu cầu, và các phiếu công việc để phục vụ cho quá trình sửa chữa và bảo dưỡng. Xác định rõ nội dung bảo dưỡng và định kỳ bảo dưỡng như A.check, C.Check. 5. Sau khi đã hình thành lên các nội dung công việc bảo dưỡng thì thông qua hội đồng kỹ thuật xác định để phê chuẩn toàn bộ nội dung bảo dưỡng và sử chữa. 6. Sau khi nội dung công việc đã được phê chuẩn thì bắt đầu triển khai công việc. 7. Khi thực hiện công việc xong phải có sự phê chuẩn của nhà chức trách và phòng (ĐBCL) sau đó mới đưa máy bay vào khai thác. Sơ đồ 03: Quá trình bảo dưỡng và sửa chữa. Qua sơ đồ 03 ta thấy để hoàn thành được một công việc bảo dưỡng đòi hỏi phải chuẩn bị rất tốt ở cả 3 giai đoạn. Nếu ở giai đoạn nào đó không được chuẩn bị chu đáo thì cũng ảnh hưởng rất lớn đến cả quá trình do vậy cả 3 giai đoạn này đòi hỏi phải có sự phân công và hiệp tác lao động thật chặt chẽ. I.2. Những đặc điểm về máy móc thiết bị và công nghệ. Như chúng ta đã biết máy móc, thiết bị công nghệ là rất quan trọng trong bất kỳ quá trình sản xuất nào; nó làm cho hiệu quả sản xuất tăng, giảm . Vì vậy phải trang bị đầy đủ những máy móc công nghệ , phân bố đến từng phòng ban phân xưởng một cách hợp lý điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất . Chính vì vậy,xí nghiệp máy bay A76 cũng đã được Tổng Công ty hàng không cấp kinh phí để sắm máy móc, thiết bị cần thiết phục vụ cho quá trình bảo dưỡng và sửa chữa. Để đảm bảo độ an toàn cao cho các chuyến bay thì tất cả những máy móc thiết bị phục vụ bảo dưỡng và sửa chữa máy bay ở xí nghiệp đều phải thông qua nhà chức trách cho phép sử dụng và phù hợp với mục đích công việc. Cho nên những thiết bị dụng cụ máy móc này một phần nhỏ là thông dụng còn phần lớn là chuyên dụng trong lĩnh vực hàng không. Mỗi phòng ban phân xưởng đều được trang bị những loại máy móc công nghệ khác nhau để phù hợp với chức năng nhiệm vụ của mình. Hiện nay xí nghiệp có nhiều loại máy móc thiết bị phục vụ cho việc sửa chữa và bảo dưỡng ở dưới các phân xưởng ,tổ ,đội. Trong số các thiết bị máy móc này gồm có rất nhiều loại như: Máy nén, máy cưa, máy mài, máy hàn, máy cắt, máy kiểm tra, máy khoan, máy ghi âm... Tất cả đều được nhập từ các nước như: Đức, Mỹ, Pháp, Anh, Nhật... Ngoài ra để phục vụ cho quản lý công việc được dễ dàng xí nghiệp còn được trang bị nhiều loại máy văn phòng như: máy tính, máy phôtô, máy điều hòa... Phân bổ đến từng phòng ban đơn vị quản lý. Số lượng máy móc này cũng đều phải nhập ngoại đa số là của Mỹ và Nhật. Xí nghiệp đơn vị trang thiết bị mặt đất với các loại xe đặc chủng phục vụ cho quá trình sửa chữa và bảo dưỡng như: xe kéo, xe tạo áp suất, đầu thủy lực... Mặt khác do xí nghiệp có vị trí địa lý nằm xa trung tâm của thành phố nên việc đi lại của công nhân trong quá trình làm việc không được dễ dàng. Vì vậy xí nghiệp đã trang bị các phương tiện vận tải nhằm đưa đón công nhân đi làm giúp họ được thuận lợi một phần trong công việc. Hiện nay xí nghiệp có khoảng 30 chiếc xe bao gồm nhiều loại như: xe tải, xe du lịch, xe con, xe ca. Tất cả những điều này đều làm ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng công việc.Hiện nay ngành Hàng không đã chuyển sang khai thác các loại máy bay mới của các nước phương tây để thay thế hệ máy bay cũ của Liên Xô do vậy để đạt được hiệu quả cao trong quá trình bảo dưỡng thì xí nghiệp cần thiết phải trang bị thêm những máy móc mới phù hợp như :các máy hiệu chuẩn,các thiết bị máy bay giờ đã lỗi thời, các thiết bị chiếu sáng, nạp bình cứu hỏa... I.3. Tình hình hoạt động trong một số năm qua. Biểu 01: Tình hình thực hiện kế hoạch nhiệm vụ sản xuất một số năm của xí nghiệp máy bay A76. Chỉ tiêu  Định kỳ (lần chiếc)  Phục vụ bay (lần chuyến)  Sửa chữa (giờ)   Năm 1999      Kế hoạch  110  4600  4700   Thực hiện  115  4700  4850   Tỷ lệ  104.5%  102%  103.2221%   Năm 2000      Kế hoạch  120  4650  4200   Thực hiện  130  4800  4450   Tỷ lệ  108.3%  103.2%  105.9%   Năm 2001      Kế hoạch  132  6000  3500   Thực hiện  132  6100  3620   Tỷ lệ  100%  101.6%  103.4%   Qua các chỉ tiêu trên ta thấy: Năm 1999: Định kỳ sửa chữa máy bay vượt: Số tuyệt đối 5 lần chiếc Số tương đối 4.5% Phục vụ máy bay vượt: Số tuyệt đối 100 lần chiếc Số tương đối 3.1% Sửa chữa hỏng hóc đột xuất: Số tuyệt đối 150 giờ Số tương đối 3.1% Năm 2000: Định kỳ sửa chữa máy bay vượt: Số tuyệt đối 10 lần chiếc Số tương đối 8.3% Phục vụ máy bay vượt: Số tuyệt đối 150 lần chiếc Số tương đối 3.2% Sửa chữa hỏng hóc đột xuất: Số tuyệt đối 250 giờ Số tương đối 5.9% Năm 2001: Phục vụ máy bay vượt: Số tuyệt đối 100 lần chiếc Số tương đối 1.6% Sửa chữa hỏng hóc đột xuất: Số tuyệt đối 120 giờ Số tương đối 3.4% Qua phân tích một số chỉ tiêu cơ bản trên có thể nhận xét tổng quát. Xí nghiệp là một đơn vị làm ăn có hiệu quả luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch từ năm 1999-2001. II. Phân tích tình hình sử dụng lao động ở xí nghiệp. II.1. Phương pháp xây dựng kế hoạch lao động : Hàng năm căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh mà TCT giao cho đơn vị và thực tế tình hình sản xuất ở đơn vị để xây dựng kế hoạch lao động. Lao động tổng hợp phải được xác định dựa vào quy trình công nghệ, vào việc sử dụng hợp lý lao động và máy móc thiết bị hiện có. Lao động tổng hợp phải dựa trên các mức lao động chi tiết, các quy định về số lượng nhân viên quản lý gián tiếp, các chế độ về thời gian lao động. * Phương pháp tính : Công thức tổng quát : Lđb = Lyc + Lpv + Lbs + Lql Trong đó : Lđb : là lao động định biên của doanh nghiệp (Đvị : người) Lyc : là định biên lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh Lpv : là định biên lao động phụ trợ và phục vụ Lbs : là định biên lao động bổ sung Lql : là định biên lao động quản lý Doanh nghiệp không làm việc các ngày nghỉ, Lễ, Tết và ngày nghỉ cuối tuần. . Doanh nghiệp làm việc ngày Lễ, Tết và ngày nghỉ hàng tuần với định biên lao động bổ sung được tính như sau : (Số lao động định biên làm việc cả các ngày lễ và ngày nghỉ cuối tuần)*. II.2. Phân tích tình hình sử dụng lao động : Biểu02: Lao động ở các phòng, ban ,phân xưởng của xí nghiệp. STT  Đơn vị  Số lao động  Lao động trực tiếp  Lao động gián tiếp  Lao động nữ   1  Ban Giám đốc  02  00  02  00   2  P.Tài chính kế toán  11  00  11  04   3  P.Tổ chức hành chính  21  04  17  10    Tổ an ninh  24  24  00  00   4  VP Đảng Đoàn thể  04  00  04  02   5  P.Kỹ thuật kế hoạch  63  50  13  03   6  P.Bảo đảm chất lượng  22  20  02  02   7  P.Vật tư  19  15  04  02    Đội kho  19  19  00  01   8  P.Bảo dưỡng        Lãnh đạo  06  00  06  02    TT điều hành bảo dưỡng(MCC)  19  17  02  00    Đội bảo dưỡng MB A320  86  79  07  00    Đội bảo dưỡng MB F70  19  17  02  00    Đội bảo dưỡng MB Transit,ATR72,…  34  31  03  00   9  PX Điện tử  13  12  01  01   10  PX Cơ giới tổng hợp  63  62  01  05   11  PX Thiết bị mặt đất  64  62  02  01   12  PX Phục vụ bảo dưỡng  55  53  02  12   13  P.Hiệu chuẩn đo lường  -----  -----  -----  -----    Tổng số  543  464  79  45   Hiện tại đơn vị có 13 phòng ban phân xưởng với tổng số lao động 543 người, bộ phận hiệu chuẩn đo lường thuộc phòng Kỹ thuật Kế hoạch. Lao động nữ là 45 người chiếm 8% so với tổng số điều này phản ánh đúng tinh thần sản xuất của đơn vị, đó là đơn vị kỹ thuật, lao động làm việc trong điều kiện nặng nhọc và đặc biệt nặng nhọc độc hại nên phần lớn số người trong đơn vị là nam giới (92%). II.2.1. Cơ cấu cán bộ quản lý của xí nghiệp: Biểu 03: Cơ cấu cán bộ quản lý của xí nghiệp  T.số  Nữ  Trình độ  Độ tuổi      ĐH  CĐ  TC  SC  CNKT  CNK  <=40  41-50  >50   LĐQL  40  0  33  0  5  2  0  0  3  30  7   % (LĐQL)  100  0  82.5  0  12.5  5  0  0  7.5  75  17.5   Qua biểu trên ta thấy với só lao động quản lý là 40 người chiếm 5.9% trong tổng số lao động toàn xí nghiệp là tương đối phù hợp. Điều này chứng tỏ bộ máy quản lý trong xí nghiệp là gọn nhẹ và hợp lý. Về trình độ: Trong tổng số lao động quản lý ở xí nghiệp là 40 người trong đó có 33 người là có trình độ đại học chiếm 82.5% ,5 người có trình độ trung cấp chiếm 15%, 2 người có trình độ sơ cấp chiếm 2.35%. Trong số lao động quản lý không có nữ. Với trình độ quản lý trong xí nghiệp như hiện nay là tương đối tốt có thể đáp ứng và hoàn thành tốt công việc được giao. Nhưng xét về lâu dài thì trình độ quản lý như trên và tính chất công việc ngày càng phức tạp thì xí nghiệp cần có biện pháp để nang cao trình độ hơn nữa cho đội ngũ cán bộ quản lý. - Về độ tuổi. Tuổi đời trong số lao động quản lý là khá trẻ tập trung chủ yếu ở độ tuổi 41-50 điều này rất thuận tiện cho xí nghiệp tận dụng và phát huy nguồn lao động đang dồi dào cả về sức khỏe và trí tuệ. Mặt khác để hiểu rõ tình hình cơ cấu cũng như chất lượng lao động của xí nghiệp được phân bố từng phòng ban, phân xưởng ta có biểu sau: (trang sau) Biểu 04:Bảng tổng hợp chất lượng lao động trong các phòng ba
Luận văn liên quan