Đề tài Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng việt (so sánh với thành ngữ Tiếng Anh)

Thành ngữ tiếng Việt từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học và những liên ngành khác trên các bình diện như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng- ngữ nghĩa và tu từ học. Các hướng nghiên cứu chủ yếu được triển khai theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống, tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc, chức năng và ngữ dụng của thành ngữ, trong số đó có một số công trình nghiên cứu thành ngữ được đặt trong mối tương quan với các chuyên ngành xã hội khác (xem Hoàng Văn Hành [22, 23], Nguyễn Công Đức [15], Hoàng Diệu Minh [35], Nguyễn Thị Tân [39], Phạm Minh Tiến [48], v.v). Trong những năm gần đây, thành ngữ tiếng Việt cũng là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận, một ngành ngôn ngữ học ra đời từ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ XX và được xem là một “trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó” [42, tr.16]. Một số công trình tiên phong nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận có thể kể đến là các chuyên khảo của Lý Toàn Thắng [41, 42], Trần Văn Cơ [5] và một số luận án của Nguyễn Ngọc Vũ [55], Phan Thế Hưng [27], Võ Kim Hà [20].

pdf322 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 25/07/2018 | Lượt xem: 551 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng việt (so sánh với thành ngữ Tiếng Anh), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------- TRẦN THẾ PHI ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ TIẾNG ANH) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------- TRẦN THẾ PHI ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ TIẾNG ANH) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học So sánh-Đối chiếu Mã số: 62.22.01.10 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Cán bộ hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Nguyễn Văn Huệ 2. PGS. TS. Nguyễn Thị Hai Phản biện độc lập: 1. PGS. TS. Trịnh Sâm 2. PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Trang Phản biện: 1. PGS. TS. Trịnh Sâm 2. PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Trang 3. PGS. TS. Phạm Văn Tình THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ với tiêu đề “Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác. Tác giả luận án Trần Thế Phi MỘT SỐ QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 1. Các ví dụ ngữ liệu minh họa in bằng chữ in nghiêng và được đánh số thứ tự trong ngoặc đơn không theo đề mục mà theo thứ tự liên tục từ nhỏ đến lớn trong toàn bộ luận án. 2. Trong khi trình bày phần ngữ liệu thành ngữ tiếng Anh biểu thị cảm xúc của chương 2, các thành ngữ tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt với nghĩa nguyên văn và nghĩa thành ngữ, trong đó phần dịch nghĩa nguyên văn là phần dịch sát ý, được sử dụng cho mục đích đối chiếu, chứ không phải là phần dịch đúng nghĩa. i MỤC LỤC Trang DẪN NHẬP 1 0.1. Lý do chọn đề tài 1 0.2. Lịch sử vấn đề 2 0.2.1. Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh 2 0.2.2. Từ ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Việt và tiếng Anh 8 0.2.2.1. Tình hình nghiên cứu từ ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Việt 8 0.2.2.2 Tình hình nghiên cứu từ ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Anh 12 0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 14 0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15 0.5. Phương pháp nghiên cứu 17 0.6. Điểm mới của luận án 19 0.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 19 0.8. Cấu trúc của luận án 20 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 22 1.1. Một số vấn đề về ngữ nghĩa học tri nhận 22 1.1.1. Bốn nguyên lý chủ đạo của ngữ nghĩa học tri nhận 23 1.1.2. Các thành phần cấu tạo nên ẩn dụ tri nhận 27 1.1.3. Nền tảng cơ bản của lý thuyết ẩn dụ ý niệm 29 1.2. Những vấn đề liên quan đến cảm xúc 34 1.2.1. Phân loại cảm xúc 34 1.2.2. Các đường hướng nghiên cứu về cảm xúc 38 1.2.3. Tính phổ niệm của cảm xúc trong các nền văn hóa 41 1.2.4. Mối quan hệ giữa cảm xúc với ngôn ngữ 42 1.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc 43 1.3.1. Phân loại ẩn dụ ý niệm cảm xúc 44 1.3.2. Hệ thống ẩn dụ ý niệm cảm xúc và các mô hình ẩn dụ ý niệm hữu quan 48 ii 1.3.2.1. Hệ thống ẩn dụ ý niệm cảm xúc 48 1.3.2.2. Các mô hình ẩn dụ ý niệm hữu quan 56 1.3.3. Sự tương tác giữa ẩn dụ và hoán dụ trong phạm trù cảm xúc 60 1.4. Những vấn đề cơ bản về thành ngữ 62 1.4.1. Quan điểm về thành ngữ trong tiếng Việt 62 1.4.2. Quan điểm về thành ngữ trong tiếng Anh 65 1.4.3. Quan điểm về thành ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận 67 1.5. Tiểu kết 71 CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC TRONG 72 THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 2.1. Tiểu dẫn 72 2.2. Ẩn dụ ý niệm về cảm xúc vui trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh 72 2.2.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc vui với miền nguồn VẬT CHỨA 73 2.2.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc vui với miền nguồn PHƯƠNG HƯỚNG 82 2.2.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc vui với miền nguồn LỰC TÁC ĐỘNG 85 2.2.4. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc vui với miền nguồn ÁNH SÁNG 88 2.2.5. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc vui với miền nguồn VẬT SỞ HỮU 89 2.3. Ẩn dụ ý niệm về cảm xúc buồn trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh 91 2.3.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn VẬT CHỨA 91 2.3.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn PHƯƠNG HƯỚNG 95 2.3.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn LỰC TÁC ĐỘNG 97 2.3.4. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn GÁNH NẶNG 101 2.3.5. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn THIẾU SINH KHÍ 102 2.4. Ẩn dụ ý niệm về cảm xúc giận trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh 104 2.4.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc giận với miền nguồn VẬT CHỨA 104 2.4.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc giận với miền nguồn PHƯƠNG HƯỚNG 108 2.4.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc giận với miền nguồn LỰC TÁC ĐỘNG 112 2.4.4. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc giận với miền nguồn LỬA 113 2.4.5. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc giận với miền nguồn MÀU SẮC 115 iii 2.4.6. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc giận với miền nguồn SỰ KHÓ CHỊU CỦA CƠ THỂ 118 2.4.7. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc giận với miền nguồn SỰ XÂM PHẠM 120 2.5. Ẩn dụ ý niệm về cảm xúc sợ trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh 121 2.5.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn VẬT CHỨA 121 2.5.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn PHƯƠNG HƯỚNG 123 2.5.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn LỰC TÁC ĐỘNG 124 2.5.4. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn MÀU SẮC 126 2.5.5. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn KẺ THÙ ẨN NẤP 127 2.5.6. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn THỰC THỂ SIÊU NHIÊN 128 2.5.7. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn BỆNH TẬT 131 2.6. Ẩn dụ ý niệm về cảm xúc yêu trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh 132 2.6.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn VẬT CHỨA 134 2.6.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn PHƯƠNG HƯỚNG 136 2.6.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn LỰC TÁC ĐỘNG 138 2.6.4. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn SỰ HỢP NHẤT 139 2.6.5. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn PHÉP THUẬT 140 2.6.6. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn THỨC ĂN 141 2.7. Tiểu kết 142 CHƯƠNG 3: VIỆC SỬ DỤNG ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC TRONG 145 DỊCH THÀNH NGỮ TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 3.1. Tiểu dẫn 145 3.2. Một số vấn đề liên quan đến lý thuyết dịch thành ngữ và dịch ẩn dụ 146 3.2.1. Các vấn đề về lý thuyết dịch thành ngữ 146 3.2.2. Các vấn đề về lý thuyết dịch ẩn dụ 149 3.3. Khảo sát việc sử dụng ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt 155 3.3.1. Phương pháp và ngữ liệu khảo sát 155 3.3.2. Kết quả khảo sát dịch thành ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt ở các từ điển thành ngữ song ngữ Anh-Việt 157 iv 3.3.2.1. Khảo sát phương thức dịch thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh 157 sang tiếng Việt sử dụng cùng ẩn dụ ý niệm cảm xúc và cùng biểu thức ngôn ngữ 3.3.2.2. Khảo sát phương thức dịch thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh 160 sang tiếng Việt sử dụng cùng ẩn dụ ý niệm cảm xúc nhưng khác biểu thức ngôn ngữ 3.3.2.3. Khảo sát phương thức dịch thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh 166 sang tiếng Việt sử dụng khác ẩn dụ ý niệm cảm xúc nhưng cùng biểu thức ngôn ngữ 3.3.2.4. Khảo sát phương thức dịch thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh 166 sang tiếng Việt sử dụng khác ẩn dụ ý niệm cảm xúc và khác biểu thức ngôn ngữ 3.3.2.5. Khảo sát phương thức dịch thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh 175 sang tiếng Việt theo phương pháp dịch diễn giải 3.4. Những đề xuất cho việc dịch thành ngữ biểu thị ẩn dụ ý niệm cảm xúc tiếng Anh sang tiếng Việt 177 3.4.1. Một vài đề xuất cụ thể qua cuộc khảo sát 177 3.4.2. Một số đề xuất về việc ứng dụng ẩn dụ ý niệm cảm xúc vào quy trình dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt 180 3.5. Tiểu kết 183 KẾT LUẬN 185 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 190 TÀI LIỆU THAM KHẢO 191 PHỤ LỤC 1: Bảng đối chiếu thuật ngữ Việt - Anh 203 PHỤ LỤC 2: Bảng đối chiếu thuật ngữ Anh - Việt 207 PHỤ LỤC 3: Bảng liệt kê thành ngữ tiếng Việt biểu thị năm loại cảm xúc: Vui, Buồn, Giận, Sợ, Yêu 211 PHỤ LỤC 4: Bảng liệt kê thành ngữ tiếng Anh biểu thị năm loại cảm xúc: Vui, Buồn, Giận, Sợ, Yêu 252 PHỤ LỤC 5: Bảng liệt kê cách dịch các thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh sang tiếng Việt tham khảo trong sáu quyển từ điển thành ngữ song ngữ Anh-Việt 283 1 DẪN NHẬP 0.1. Lý do chọn đề tài Thành ngữ tiếng Việt từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học và những liên ngành khác trên các bình diện như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng- ngữ nghĩa và tu từ học. Các hướng nghiên cứu chủ yếu được triển khai theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống, tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc, chức năng và ngữ dụng của thành ngữ, trong số đó có một số công trình nghiên cứu thành ngữ được đặt trong mối tương quan với các chuyên ngành xã hội khác (xem Hoàng Văn Hành [22, 23], Nguyễn Công Đức [15], Hoàng Diệu Minh [35], Nguyễn Thị Tân [39], Phạm Minh Tiến [48], v.v). Trong những năm gần đây, thành ngữ tiếng Việt cũng là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận, một ngành ngôn ngữ học ra đời từ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ XX và được xem là một “trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó” [42, tr.16]. Một số công trình tiên phong nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận có thể kể đến là các chuyên khảo của Lý Toàn Thắng [41, 42], Trần Văn Cơ [5] và một số luận án của Nguyễn Ngọc Vũ [55], Phan Thế Hưng [27], Võ Kim Hà [20]. Đặc biệt hơn, ngữ nghĩa học tri nhận, một chuyên ngành của ngôn ngữ học tri nhận, là một khuynh hướng lý thuyết vừa có sự kế thừa ngữ nghĩa học truyền thống vừa thể hiện những nét mới của ngữ nghĩa học biểu hiện tinh thần cuối thế kỉ XX. Lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận thường được xây dựng dựa trên lập luận rằng nghĩa từ vựng có tính ý niệm. Theo đó, ý nghĩa của một vị từ không tham chiếu đến các thực thể hoặc các mối quan hệ trong “thế giới thực” mà vị từ đó đề cập đến, mà nó tham chiếu đến một ý niệm trong tâm trí dựa trên kinh nghiệm luận có được với các thực thể hoặc các mối quan hệ. Một số nhà ngôn ngữ đi đầu trong nghiên cứu và phát triển ngữ nghĩa học tri nhận trên thế giới có thể được kể đến là George Lakoff 2 [111], Dirk Geeraerts [77], Leonard Talmy [146], v.v. Ở Việt Nam, theo chúng tôi tìm hiểu, thì hiện nay vẫn chưa có một khảo cứu chuyên sâu nào về khả năng ứng dụng của ngữ nghĩa học tri nhận trên mô hình ẩn dụ ý niệm cảm xúc của đối tượng thành ngữ, một đơn vị ngôn ngữ chứa nhiều giá trị văn hóa truyền thống của một dân tộc. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với đề tài “Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh tương ứng)”. Đây có thể được xem là một công việc cần thiết, giúp làm giàu nguồn ngữ liệu cho công tác biên soạn giáo trình giảng dạy tiếng Việt, tiếng Anh và phục vụ nghiên cứu ngôn ngữ-văn hoá, dịch thuật và bảo tồn văn hóa dân tộc. 0.2. Lịch sử vấn đề Như đã nói, thành ngữ là đối tượng được nghiên cứu rất sâu rộng từ nhiều bình diện khác nhau trong tiếng Việt và tiếng Anh. Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi điểm lại những công trình nghiên cứu quan trọng về thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống và ngôn ngữ học tri nhận, tình hình nghiên cứu từ ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó nhằm đưa ra một bức tranh tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án này. 0.2.1. Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống, các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu thành ngữ từ bình diện cấu trúc và hình thức. Hoàng Văn Hành [23] đã khái quát đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt trên hai bình diện này, có tính đến đặc trưng tư duy văn hóa dân tộc. Trên bình diện ngôn ngữ và văn hóa, chuyên khảo “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” của Hoàng Văn Hành và cộng sự [22] đã tiến hành khảo sát trên 300 thành ngữ, tục ngữ cụ thể. Nhóm nhà khoa học này đã giải thích chúng dựa trên các điển tích, điển cố, phong tục tập quán, nghi lễ, tôn giáo, truyền thống văn hóa và tư tưởng dân tộc xuất hiện trong các thời kỳ văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Bên cạnh đó, một số luận án trong những năm gần đây cũng quan tâm nghiên cứu chuyên sâu về thành ngữ và bước đầu có những đóng góp quan trọng cho Việt ngữ học về mặt lý luận và thực tiễn. 3 Luận án “Bình diện cấu trúc hình thái-ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt” của Nguyễn Công Đức [15] chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại: thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thành ngữ thường. Hai đặc điểm quan trọng của thành ngữ đối là quan hệ đối ý và quan hệ đối lời. Thành ngữ đối được đặc trưng là ít nhất hai thành tố, tức mỗi vế là một thành tố, chẳng hạn nước mắt / mồ hôi; bốn thành tố, chẳng hạn chân lấm tay bùn, mẹ tròn con vuông. Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt được cấu tạo theo công thức tổng quát A như B, trong đó A là đối tượng so sánh, B là đối chứng so sánh, như là quan hệ so sánh. Trong mô thức này, đối tượng so sánh (A), quan hệ so sánh (như) có thể có mặt hoặc tiềm ẩn. Thành ngữ thường được cấu tạo bằng các đoản ngữ, chủ yếu là động ngữ, ví dụ gửi trứng cho ác, hoặc bằng các kết cấu chủ vị, ví dụ chó ngáp phải ruồi. Bởi phải dùng đến một dung lượng từ ngữ ở những mức độ cần thiết mới diễn đạt được nội dung ngữ nghĩa của nó, thành ngữ loại này có những giáp ranh nhất định với tục ngữ. Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là thành ngữ tiếng Việt nói chung, nên tác giả không thể khảo sát ngữ nghĩa của từng loại thành ngữ cụ thể mà chỉ khái quát cơ chế tạo nghĩa chung của thành ngữ mà thôi. Luận án “So sánh cấu trúc-chức năng của thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt” của Hoàng Diệu Minh [35] có mục đích miêu tả, so sánh và phân loại 2938 thành ngữ và 1668 tục ngữ trên phương diện cấu trúc-chức năng xuất phát từ chỗ có những đơn vị chưa xác định được là thành ngữ hay tục ngữ, tác giả muốn dựa vào lý thuyết ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học để làm sáng tỏ vấn đề. Khi bàn luận về thành ngữ, tác giả cho rằng việc phân loại thành ngữ có thể căn cứ trên tiêu chí cấu trúc-chức năng. Ngữ là đơn vị có chức năng cú pháp. Thành ngữ có cấu tạo của một ngữ. Vì thế thành ngữ cũng có thể có cấu tạo của một ngữ danh từ hoặc một ngữ vị từ. Các ngữ này cũng có thể được phân loại theo cách cấu trúc của một ngữ đẳng lập, ví dụ con mày con nuôi, bên trọng bên khinh, ba đầu sáu tay, hay một ngữ chính phụ hoặc một ngữ láy, ví dụ chân như ống sậy, chết nhăn răng, dai như đỉa, lẩu bẩu như chó hóc xương. Tuy nhiên, như mục đích của luận án đã nêu, tác giả chỉ quan tâm đến cấu trúc-chức năng của thành ngữ trong thế so sánh với tục 4 ngữ, xét trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, hay nói cách khác, dựa trên quan điểm ngôn ngữ học truyền thống. Luận án “Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt” của Nguyễn Thị Tân [39] đã chỉ ra sự biến đổi của các thành ngữ mượn tiếng Hán khi được sử dụng trong tiếng Việt dưới tác động của bối cảnh xã hội Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra sự hình thành các biến thể khác nhau của cùng thành ngữ Hán trong tiếng Việt. Cũng tương tự như luận án của Nguyễn Công Đức, phạm vi khảo sát của luận án này mang nét bao quát chung của thành ngữ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán. Tác giả chưa khai thác bình diện tri nhận của thành ngữ. Luận án “Đặc điểm thành ngữ so sánh tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt)” của Phạm Minh Tiến [48] lấy tiếng Hán làm tâm điểm nghiên cứu có đối chiếu với tiếng Việt. Tác giả khảo sát trường nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên thành ngữ so sánh và phác thảo nên hình ảnh văn hóa và nét tư duy của hai dân tộc. Luận án phát hiện cấu trúc so sánh tiếng Hán hoàn toàn trùng khớp với thành ngữ so sánh trong tiếng Việt. Tác giả cho rằng, cấu trúc mang tính tổng quát nhất của thành ngữ so sánh tiếng Hán và tiếng Việt là: A - (t) – R – B, trong đó A là yếu tố so sánh, (t) là yếu tố nét tương đồng, R là từ ngữ so sánh, và B là yếu tố tham chiếu. Tuy nhiên, luận án chỉ khảo sát trường nghĩa của lớp thành ngữ so sánh tiếng Hán và tiếng Việt nên kết quả nghiên cứu chưa quan tâm đúng mức đến các bình diện khác của thành ngữ. Về phương diện ngôn ngữ học tri nhận, gần đây có luận án “Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận” của Nguyễn Ngọc Vũ [55]. Tác giả đã giới thiệu những luận điểm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận về cơ chế hình thành nghĩa của các tổ hợp ngữ cố định, đặc biệt là thành ngữ. Dựa trên cơ sở lý luận của ý niệm và miền ý niệm, tác giả khảo sát cấu trúc, cách thức hoạt động của ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm và các loại ẩn dụ, hoán dụ tương ứng. Qua đó, tác giả đã so sánh đối chiếu thành ngữ chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người tiếng Anh với thành ngữ tiếng Việt tương ứng để chỉ ra nhiều điểm tương đồng trong cách tri nhận về vị trí, vai trò và 5 chức năng của các bộ phận cơ thể và sự khác biệt ở yếu tố văn hóa và loại hình văn hóa. Tuy nhiên, tác giả luận án chỉ mới nghiên cứu lớp thành ngữ chứa yếu tố chỉ bộ phân cơ thể người mà chưa chú ý khai thác đến các mặt khác của thành ngữ, đặc biệt là về mặt biểu ý của thành ngữ. Luận án “Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt” của Phan Thế Hưng [27] đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của ẩn dụ ý niệm, trong đó đặc điểm nổi bật về chức năng của ẩn dụ đó là nhằm giúp con người hiểu rõ hơn các ý niệm, không chỉ là các phương thức tu từ của ngôn ngữ, mà còn là quy trình tự nhiên của nhận thức về tư duy. Ngoài ra, tác giả cũng nhấn mạnh rằng, trải nghiệm của cơ thể con người trong ẩn dụ hóa là những trải nghiệm mang tính phổ quát. Điểm đáng chú ý ở luận án này là tác giả đã đề cập sự tương tác giữa ẩn dụ và hoán dụ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận có xét đến yếu tố kinh nghiệm cơ thể phản ánh trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, tác giả chủ yếu tổng hợp kết quả nghiên cứu và luận điểm của các nhà ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới khi nghiên cứu tiếng Anh, không đi sâu vào các ẩn dụ cụ thể, mà dùng ngữ liệu trong tiếng Anh và một số ví dụ trong tiếng Việt để làm chứng cứ cho ẩn dụ ý niệm, nên những phát hiện mới trong tiếng Việt là chưa nhiều. Luận án gần đây nhất “Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so sánh với tiếng Anh và tiếng Pháp)” của Võ Kim Hà [20] khảo sát cấu trúc và tính hệ thống của ẩn dụ dựa trên các nguyên tắc phân loại của lý thuyết nguyên mẫu. Tác giả tập trung phân tích miền nguồn “Dòng chảy” và miền đích “Suy nghĩ” trong tiếng Việt vì cho rằng đây là những miền ý niệm thường được sử dụng trong tiếng Việt. Phần so sánh đối chiếu, tác giả chọn yếu tố tay trong tiếng Việt để so sánh với hand của tiếng Anh và main trong tiếng Pháp. Điểm đáng lưu ý của luận án này là tác giả đã vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận để phân tích và kiến giải khá chi tiết cơ chế tri nhận của một số ẩn dụ và hoán dụ. Tuy nhiên, như tác giả thừa nhận, luận án bao quát quá nhiều vấn đề nên kết quả của luận án mang tính chất chung chung, không chuyên sâu một vấn đề cụ thể. Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy một số công trình gần đây đã chú ý nghiên 6 cứu thành ngữ từ nhiều góc độ khác nhau nhưng chủ yếu vẫn theo quan điểm truyền thống. Còn các luận án nghiên cứu theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận đã nêu ở trên, tuy dựa trên nền lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, nhưng hướng phát triển dành cho tiếng Việt chưa có nhiều sự phát hiện mới mẻ. Luận án của chúng tôi tập trung nghiên cứu miền ẩn dụ ý niệm cảm xúc biểu thị trong thành ngữ tiếng Việt, có so sánh với thành ngữ tiếng Anh tương ứng, từ bình diện ngữ nghĩa học tri nhận, là hướng đi hoàn toàn mới, không trùng lặp với bất kỳ đề tài nghiên cứu nào trước đó mà chúng tôi biết. Đối với thành ngữ tiếng Anh, phần lớn các nhà ngôn ngữ học định nghĩa thành ng
Luận văn liên quan