Đề tài Các biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh cho ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Quỳnh Nhai

1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế hội nhập, để tăng sự cạnh tranh Ngân hàng đã nhận thấy được vai trò quan trọng của Marketing đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các Ngân hàng đang ra sức cơ cấu lại hoạt động và phát triển dịch vụ của mình, họ nhận thấy việc phát triển sản phẩm là con đường ngắn nhất đưa họ tới cầu nối hội nhập. Vì vậy, để phát triển được họ phải làm gì? phát triển thế nào? sử dụng công cụ, hinhg thức nào?. Đó là vấn đề vô cùng khó khăn, Chính vì thế tôi đã chọn đề tài: “Các biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh cho NHNo&PTNT huyện Quỳnh Nhai” làm để tài nghiên cứu của mình. 2. Giới hạn nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đánh giá các hoạt động khuyến mại quảng cáo trong Ngân hàng và các biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng các để tăng cạnh tranh. 2.2. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu hoạt động khuyến mại, quảng cáo trong Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Huyện Quỳnh Nhai. Phạm vi nghiên cứu: từ ngày 07/03 đến 14/05/2011. 3. Mục đích và đối tượng nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Đi sâu xem xét một cách có hệ thống thực trạng hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Huyện Quỳnh Nhai. Đồng thời đưa ra một số giải pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh trên phạm vi hoạt động của Ngân hàng. 3.2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề nhằm vận dụng kiến thức đã học nghiên cứu lĩnh vực khuyến mại, quảng cáo về mặt lý thuyết và trong thực tế, đưa ra các giải pháp để đem lại kết quả tốt nhất cho hoạt động khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh, thu được lợi nhuận cho Ngân hàng 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp trực quan Phương pháp trực quan là phương pháp quan sát, thu thập số liệu đưa ra nhận định của mình. Là phương pháp dùng lý lé, dẫn chứng để chứng minh những lập luận, lý luận của mình. 4.2. Phương pháp lý luận Là những phương pháp nghiên cứu dựa vào những nghiên cứu trước đó, có thể là một tờ báo, một cuốn sách hay một công trình nghiên cứu của ai đó dã từng nghiên cứu về vấn đề của mình nghiên cứu để tìm kiếm và tiến hàng nghiên cứu đề tài của mình. 4.3. Phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu thực tế Là phương pháp thống kê, phương pháp phân tích số liệu, tổng hợp kinh tế để chứng minh những con số thực tế, thu thập thông tin để tiến hành nghiên cứu cho đề tài mình. 5. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu trong 3 chương: Chương II: Tổng quan về hoạt động khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh Chương III: Phương pháp nghiên cứu Chương IV: Thực trạng và biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh cho ngân hàng 6. Tóm tắt nội dung Marketing được coi là hoạt động kinh doanh đối với các Doanh nghiệp,Ngân hàng. Khuyến mại, quảng cáo là một phần trong marketing. Để có thể đứng trên thị trường, Ngân hàng phải có những chiến lược riêng để thu hút khách hàng. Biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh cho NHNo&PTNT Huyện Quỳnh Nhai là mục đích của báo cáo. Những vấn đề trên đưa ra những hiểu biết cơ bản nhất về hoạt động Marketing, đặc biệt là hình thức khuyến mại, quảng cáo. Với mục đích cơ bản trên báo cáo giúp ta hiểu được những nội dung sau: Thứ 1: Đưa ra được lý do, mục đích, phương pháp nghiên cứu của đề tài. Thứ 2: Nêu lên những khái niệm về marketing, về khuyến mại, quảng cáo và Tầm quan trọng của hoạt động khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh. Tìm hiểu những khía cạnh khác nhau của vấn đề qua các tác phẩm. Thứ 3: Đề tài đã được trình bày qua những phương pháp nghiên cứu nào, kế hoạch, cách thức ra sao? Thứ 4: Giới thiệu về NHNo & PTNT Huyện Quỳnh Nhai đồng thời nêu được thực trạng, giải pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh trong ngân hàng. Thứ 5: Đưa ra nhận xét và kiến nghị định hướng mới cho sự phát triển của đơn vị.

doc44 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 09/03/2013 | Lượt xem: 2481 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Các biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh cho ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Quỳnh Nhai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN A: LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế hội nhập, để tăng sự cạnh tranh Ngân hàng đã nhận thấy được vai trò quan trọng của Marketing đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các Ngân hàng đang ra sức cơ cấu lại hoạt động và phát triển dịch vụ của mình, họ nhận thấy việc phát triển sản phẩm là con đường ngắn nhất đưa họ tới cầu nối hội nhập. Vì vậy, để phát triển được họ phải làm gì? phát triển thế nào? sử dụng công cụ, hinhg thức nào?. Đó là vấn đề vô cùng khó khăn, Chính vì thế tôi đã chọn đề tài: “Các biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh cho NHNo&PTNT huyện Quỳnh Nhai” làm để tài nghiên cứu của mình. 2. Giới hạn nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đánh giá các hoạt động khuyến mại quảng cáo trong Ngân hàng và các biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng các để tăng cạnh tranh. 2.2. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu hoạt động khuyến mại, quảng cáo trong Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Huyện Quỳnh Nhai. Phạm vi nghiên cứu: từ ngày 07/03 đến 14/05/2011. 3. Mục đích và đối tượng nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Đi sâu xem xét một cách có hệ thống thực trạng hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Huyện Quỳnh Nhai. Đồng thời đưa ra một số giải pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh trên phạm vi hoạt động của Ngân hàng. 3.2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề nhằm vận dụng kiến thức đã học nghiên cứu lĩnh vực khuyến mại, quảng cáo về mặt lý thuyết và trong thực tế, đưa ra các giải pháp để đem lại kết quả tốt nhất cho hoạt động khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh, thu được lợi nhuận cho Ngân hàng 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp trực quan Phương pháp trực quan là phương pháp quan sát, thu thập số liệu đưa ra nhận định của mình. Là phương pháp dùng lý lé, dẫn chứng để chứng minh những lập luận, lý luận của mình. 4.2. Phương pháp lý luận Là những phương pháp nghiên cứu dựa vào những nghiên cứu trước đó, có thể là một tờ báo, một cuốn sách hay một công trình nghiên cứu của ai đó dã từng nghiên cứu về vấn đề của mình nghiên cứu để tìm kiếm và tiến hàng nghiên cứu đề tài của mình. 4.3. Phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu thực tế Là phương pháp thống kê, phương pháp phân tích số liệu, tổng hợp kinh tế để chứng minh những con số thực tế, thu thập thông tin để tiến hành nghiên cứu cho đề tài mình. 5. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu trong 3 chương: Chương II: Tổng quan về hoạt động khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh Chương III: Phương pháp nghiên cứu Chương IV: Thực trạng và biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh cho ngân hàng 6. Tóm tắt nội dung Marketing được coi là hoạt động kinh doanh đối với các Doanh nghiệp,Ngân hàng. Khuyến mại, quảng cáo là một phần trong marketing. Để có thể đứng trên thị trường, Ngân hàng phải có những chiến lược riêng để thu hút khách hàng. Biện pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh cho NHNo&PTNT Huyện Quỳnh Nhai là mục đích của báo cáo. Những vấn đề trên đưa ra những hiểu biết cơ bản nhất về hoạt động Marketing, đặc biệt là hình thức khuyến mại, quảng cáo. Với mục đích cơ bản trên báo cáo giúp ta hiểu được những nội dung sau: Thứ 1: Đưa ra được lý do, mục đích, phương pháp nghiên cứu của đề tài. Thứ 2: Nêu lên những khái niệm về marketing, về khuyến mại, quảng cáo và Tầm quan trọng của hoạt động khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh. Tìm hiểu những khía cạnh khác nhau của vấn đề qua các tác phẩm. Thứ 3: Đề tài đã được trình bày qua những phương pháp nghiên cứu nào, kế hoạch, cách thức ra sao? Thứ 4: Giới thiệu về NHNo & PTNT Huyện Quỳnh Nhai đồng thời nêu được thực trạng, giải pháp sử dụng khuyến mại, quảng cáo để tăng cạnh tranh trong ngân hàng. Thứ 5: Đưa ra nhận xét và kiến nghị định hướng mới cho sự phát triển của đơn vị. PHẦN B: NỘI DUNG CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI, QUẢNG CÁO ĐỂ TĂNG CẠNH TRANH 1.Một sô khái niệm và tầm quan trọng của khuyến mại, quảng cáo trong Ngân hàng 1.1 Quảng cáo là gì ? 1.1.1 Khái niệm Quảng cáo Quảng cáo một hoạt động không thể thiếu được của một doanh nghiệp, là công cụ quan trọng để khai thác thị trường. Quảng cáo sẽ góp phần để bán hàng được nhanh hơn, nhiều hơn và do đó sẽ tăng hiệu quả của kinh doanh. Con đường tốt nhất để đạt được một thị trường rộng lớn là thông qua phương tiện thông tin đại chúng và quảng cáo là một trong những phương tiện thông tin đại chúng như vậy. Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA) đã đưa ra định nghĩa về quảng cáo như sau: Quảng cáo là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hoá, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người ta phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo. Quảng cáo có thể là bất cứ hình thức truyền đạt thông tin gián tiếp nào về sản phẩm thông qua phương tiện truyền thông đại chúng do một nhà tài trợ chi trả. Nó có thể là một dấu hiệu, biểu tượng, phác họa hay một thông điệp quảng cáo trong một tạp chí hay một tờ báo, một chương trình thương mại trên đài, tivi, một phiếu quảng cáo gửi qua bưu điện hay một ap phích, panô quảng cáo ở ngoài đường phố mà người quảng cáo tưởng tượng sẽ thoả mãn những đòi hỏi của quảng cáo. 1.1.2. Phân loại quảng cáo Có nhiều cách phân loại quảng cáo. Căn cứ vào bản chất việc bán hàng cần phải thực hiện, người ta chia quảng cáo ra ba loại: quảng cáo quốc gia, quảng cáo bán lẻ, quảng cáo kinh doanh. Quảng cáo quốc gia là quảng cáo được thực hiện bởi các nhà sản xuất hàng hoá phổ thông bán trong phạm vi toàn quốc. Trong khi đó quảng cáo bán lẻ lại do các nhà bán lẻ thực hiện. Những hàng hoá có nhãn hiệu chính toà có thể bán trong cả nước thường được quảng cáo quốc gia. Một hãng sản xuất mới ra đời muốn lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm của họ trên thị trường khu vực cần quảng cáo quốc gia Quảng cáo bán lẻ được thực hiện ở các cửa hàng, quầy bán lẻ. Trong quảng cáo quốc gia người sản xuất có thể quảng cáo cho một nhãn hàng trên và nhãn này có thể được bán ở bất kỳ cửa hàng nào trên cả nước. Trong quảng cáo bán lẻ điều nhấn mạnh là hãy mua sản phẩm có nhãn hiệu đó ở cửa hàng bán lẻ này chẳng hạn. Không phải tất cả các nhãn hàng được quảng cáo bán lẻ là được bán trên cả nước. Trong quảng cáo bán lẻ người ta bị giới hạn trong một khu vực hẹp hơn quảng cáo quốc gia. Quảng cáo quốc gia hướng vào mục tiêu lâu dài còn quảng cáo bán lẻ định hướng vào phản ánh tức thì vì thế hay tập trung vào giá. Quảng cáo kinh doanh lại được chia thành: quảng cáo thương mại, quảng cáo công nghiệp, quảng cáo chuyên nghiệp. Theo đối tượng quảng cáo người ta có thể chia quảng cáo thành: quảng cáo sản phẩm, quảng cáo dịch vụ và quảng cáo các tổ chức cơ quan. 1.1.3.Các phương tiện quảng cáo 1.1.3.1. Quảng cáo thông qua các ấn phẩm: tờ rơi, tờ gấp, báo, tạp chí, bưu phẩm trực tiếp Quảng cáo qua tờ rơi, tờ gấp: Quảng cáo qua tờ rơi, tờ gấp là một trong những phương tiện quảng cáo được nhiều nhà kinh doanh tin dùng hiện nay, vì nó có thể thông tin đến từng khách hàng một cách đầy đủ và chính xác về sản phẩm cũng như hoạt động của doanh nghiệp. Hơn nữa thông điệp quảng cáo qua tờ rơi, tờ gấp có thời gian sống lâu. Tờ rơi, tờ gấp thường được thiết kế theo kiểu gấp 2 họăc gấp 3 và thường có chiều dài gấp đôi chiều rộng. Trên tờ rơi, tờ gấp ngôn ngữ có thể sử dụng nhiều nhất ba thứ tiếng hoặc hai ngôn ngữ Các thông tin trên tờ rơi, tờ gấp được thiết kế đơn giản, ngắn gọn sao cho người đọc dễ nhớ và dễ hiểu, màu sắc hài hoà, bắt mắt để gây ấn tượng cho người đọc. Những khách hàng được phát tờ rơi, tờ gấp thường là những khách hàng đã được lựa chọn, có thể theo khu vực địa lý, có thể theo lứa tuổi, cũng có thể theo nghề nghiệp… Quảng cáo trực tiếp qua các bưu phẩm: Đây là hình thức ấn phẩm của quảng cáo. Bưu phẩm không phải là phương tiện đại chúng mà được gửi trực tiếp tới khách hàng. Mặc dù không có mối giao tiếp giữa người quảng cáo và khác hàng, hình thức này vẫn được coi là quảng cáo trực tiếp qua bưu phẩm. Các ấn phẩm gửi trực tiếp tạo cho khách hàng tiếp xúc trực tiếp với quảng cáo ấn phẩm gửi trực tiếp là sự hoà hợp của quảng cáo trực tiếp và quảng cáo gián tiếp. Quảng cáo trực tiếp có giới hạn khách hàng và dùng cho những khách hàng đã lựa chọn kỹ để gửi bưu phẩm. Chúng thoả mãn nhu cầu cá nhân và mang tính cá nhân. Các ấn phẩm gửi trực tiếp bao gồm: thư từ, thông báo, hồ sơ tài liệu, sách giới thiệu và quảng cáo in rời. Bưu phẩm được lựa chọn từ các sách hướng dẫn, các báo cáo của doanh nghiệp, các kinh nghiệm, các khách hàng... Chúng phải được gửi đều đặn và có lựa chọn. Quảng cáo qua báo chí: Báo chí có rất nhiều thể loại: báo hàng ngày, hàng tuần, báo chủ nhật, các chuyên san… Báo cũng có thể được phân theo tiêu thức địa lý: báo quốc gia, báo khu vực, báo địa phương… ở nhiều nước còn có các báo của cộng đồng mang tính chất địa phương và cung cấp những thông tin cho các thành viên của cộng đồng và những vấn đề liên quan đến họ và đến cộng đồng. Báo được phân loại theo số lượng báo lưu thông trong một vùng địa lý tức là phân loại theo số lần và số lượng phát hành trên vùng địa lý. Quảng cáo trên tạp chí: Tạp chí được xuất bản định kì hàng tuần hoặc hàng tháng. Tạp chí khác với báo chí về nhiều mặt. Nếu như báo có độc giả là tất cả các tầng lớp ở một vùng nhất định thì tạp chí có độc giả là một số tầng lớp có quan tâm ở tất cả các vùng quảng cáo trên tạp chí có thời gian sống dài hơn so với báo chí. Độc giả của báo ở một vùng nhất định là tất cả thì độc giả của tạp chí chỉ là một số nhất định. Tạp chí cho người đọc biết thông tin và giúp họ giải trí. Có thể phân loại tạp chí theo nhiều tiêu thức khác nhau: phân loại theo độc giả ( tạp chí thương mại, tạp chí thể thao…); theo thời gian phát hành( tạp chí hàng tuần, hàng tháng…); theo chủ đề ( các tạp chí chuyên ngành: tạp chí giáo dục, nội trợ…); theo kích cỡ ( cỡ tiêu chuẩn, cỡ nhỏ, cỡ lớn…) 1.1.3.2. Quảng cáo trên đài phát thanh và đài truyền hình Đối với quảng cáo qua đài phát thanh và đài truyền hình, người ta bán thời gian của chương trình cho người quảng cáo. Theo đà phát triển của nền kinh tế trong hệ thống tivi và radio ngày càng có vị trí quan trọng đối với nhà quảng cáo. Tivi có thể thay thế cho radio, tuy vậy quảng cáo qua radio vẫn có chỗ đứng riêng và vẫn tồn tại, nhưng thực tế là chi phí dành cho quảng cáo trên radio đang bị giảm dần nhường chỗ cho quảng cáo trên tivi. Trong thời gian gần đây, hệ thống tivi đã phát triển và mở rộng mạnh mẽ. Đối với nhiều nhà quảng cáo, đây là phương tiện rất lý tưởng. Tivi là một phương tiện có khả năng thâm nhập được tất cả các thị trường khác nhau. Chúng có thể gây sự chú ý đối với tất cả mọi người không kể giới tính, tuổi tác, trình độ văn hoá, mức thu thập và các nền văn hoá. Quảng cáo qua tivi có tác dụng rất lớn, do tivi kết hợp một cách hoàn chỉnh hình ảnh, âm thanh và hành động cùng với các mùa sắc phong phú.Khác với phương tiện khác, tivi đưa thông tin quảng cáo tới từng gia đình như một đơn vị thông tin riêng. Chính vì những lý do trên, phương tiện này đạt được số lượng khán giả rất lớn và do đó ít tốn kém. 1.1.3.3. Quảng cáo qua mạng Internet Cũng như các loại hình quảng cáo khác, quảng cáo trên mạng nhằm cung cấp thông tin đẩy nhanh tiến độ giao dịch giữa người mua và người bán. Nhưng quảng cáo trên Web khác hẳn với quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng khác, nó giúp cho người tiêu dùng có thể tương tác với quảng cáo. Khách hàng có thể nhấn vào quảng cáo để lấy thông tin hoặc mua sản phẩm cùng mẫu mã trên quảng cáo đó. Trên Web, mọi thứ đều có thể đưa vào quảng cáo , từ bố trí sản phẩm ( logo hoặc tên sản phẩm trong văn bản hoặc trên màn hình) tới thiết kế Wallpaper ( các ảnh nền phía sau nội dung quảng cáo ) làm cho logo bất cứ nhãn hiệu sản phẩm nào cũng trở nên nổi bật. Quảng cáo trên Web đã tạo cơ hội cho các nhà quảng cáo nhằm chính xác vào khách hàng của mình, và giúp họ tiến hành quảng cáo theo đúng với sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng. Các phươg tiện thông tin đại chúng khác cũng có khả năng chọn, nhưng chỉ có mạng Web mới có khă năng tuyệt vời. Ban đầu quảng cáo trên Internet được định nghĩa là sự tổng hợp của tất cả các ngành. Ngày nay người ta định nghĩa quảng cáo trên Internet là kết hợp quảng cáo truyền thông và tiếp thị trực tiếp. 1.1.3.4. Quảng cáo qua các hoạt động tài trợ Các doang nghiệp quảng cáo sản phẩm và hoạt động của mình thông qua các hoạt động tài trợ như tài trợ cho giải bóng đá, tài trợ kinh phí cho việc sản xuất phim, tài trợ cho quỹ vì người nghèo….Thông qua các hoạt động tài trợ này mà khách hàng biết đến doanh nghiệp và tạo niềm tin, sự yêu mến của khách hàng, qua đó thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp mình. 1.2.Khuyến mại là gì ? 1.2.1. Khái niệm về khuyến mại Luật Thương Mại Việt Nam quy định khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mai của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Cách thức thực hiện xúc tiến thương mại, tạo ra những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mạnh mẽ việc bán hàng và cung ứng dịch vụ là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. 1.2.2 Đặc điểm. Theo quy định của Luật Thương Mại 2005, khuyến mại có các đặc điểm cơ bản sau: Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân. Để tăng cường cơ hội thương mại, thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại, cũng có thể lựa chọn dịch vụ khuyến mại cho thương nhân khác để kinh doanh. Quan hệ dịch vụ này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ. Cách thức xúc tiến thương mại: Là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Tùy thuộc và mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái cạnh tranh, phản ứng của đối thủ cạnh tranh trên thị trường, tùy thuộc vào điều kiện kinh phí dành cho khuyến mại, lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là quà tặng, hàng mẫu để dùng thử, mua hàng giảm giá...hoặc là lợi ích phi vật chất khác. Khách hàng được khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc các trung gian phân phối. Ví dụ như: các đại lý bán hàng . Mục đích của khuyến mại là xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ. Để thực hiện mục đích này, các đợt khuyến mại có thể hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua...thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. 1.2.3. Các hình thức khuyến mại Có nhiều cách thức khác nhau để thương nhân dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Lợi ích mà khách hàng được hưởng có thể là lợi ích vật chất (tiền, hàng hóa) hay lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch vụ miễn phí). Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại phải là những hàng hóa dịch vụ được kinh doanh hợp pháp. Chúng ta có thể tìm hiều rõ hơn về các hình thức khuyến mại được pháp luật quy định rất cụ thể như: Mẫu hàng, Quà tặng, Xổ số trúng thưởng, phần thưởng cho khách hàng thường xuyên (theo giá trị mua: thẻ tín dụng mua hàng), Liên kết khuyến mãi và khuyến mãi chéo (nhiều nhãn hiệu trong công ty cùng hợp tác khuyến mãi, trưng bày hàng đẹp hơn; hay dùng một nhãn hiệu để quảng cáo nhãn hiệu khác không cạnh tranh) 1.3. Tầm quan trọng của quảng cáo, khuyến mại trong cạnh tranh giữa các Ngân hàng. 1.3.1. Khái niệm về cạnh tranh trong NHTM Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với thị trường, chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh là môi trường tạo động lực thúc đẩy kinh doanh phát triển và tăng cường năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là nhân tố quan trọng lam lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế, quyết định sự tồn tại và phát truển bèn vững của mỗi tổ chức. Vì vậy, các tổ chức đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược phù hợp để chiến thắng trong cạnh tranh 1.3.2. Các nhân tố tác động đến cạnh tranh của NHTM Nhóm nhân tố khách quan: có 4 lực lượng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM, gồm những nhân tố khác quan sau: Tác nhân từ phía NHTM mới tham gia thị trường Tác nhân là các đối thủ NHTM hiện tại Sức ép từ phía khách hàng Sự xuất hiện các dịch vụ mới Nhóm nhân tố chủ quan: cũng ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng gồm: Năng lực điều hành của Ban lãnh đạo của Ngân hàng Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng Chất lượng nhân viên Ngân hàng Cấu trúc tổ chức Danh tiếng và uy tín của NHTM Bên cạnh đó, đặc điểm sản phẩm và đặc điểm khách hàng cũng là nhân tố thuộc về NHTM chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh NHTM. 1.3.3. Công cụ cạnh tranh của NHTM Cạnh tranh bằng chất lượng Cạnh tranh bằng giá cả cạnh tranh bằng hệ thống phân phối 2. Sự thay đổi về nhận thức trong Ngân hàng về hoạt động khuyến mại, quảng cáo Theo những cam kết mở cửa ngành Ngân hàng trong hiệp định Thương mại Việt - Mỹ ký kết năm 2001, Việt nam đã có những chính sách khuyến khích ngành Ngân hàng phát triển cũng như sự thu hút tham gia của các công ty nước ngoài vào thị trường Ngân hàng Việt Nam. Đặc biệt sự kiện Việt Nam gia  nhập WTO vào tháng 01/2007, đã đánh dấu bước mở cửa hơn nữa cho ngành Ngân hàng Việt Nam, với sự tham gia của các Ngân hàng Nước ngoài nổi tiếng thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt nam. Sự tác động mạnh mẽ của cơn bão tài chính toàn cầu đã làm cho hầu hết các Ngân hàng trong và ngoài nước bị ảnh hưởng sâu sắc, mọi hoạt động của Ngân hàng trong đó marketing là một trong những hoạt động chịu tác động nhiều nhất. Thế nhưng, khi cơn bão khủng hoảng đã có dấu hiệu tan dần, cũng là lúc đặt ra cho Ngân hàng mà cụ thể là bộ phận marketing những bài toán khó trong việc giành lại thị trường. Điều đó đã đặt ra một thay đổi căn bản trong hoạt động marketing, nhìn nhận về khách hàng của họ. Đặc biệt là sự đổi mới trong hoạt động khuyến mại, quảng cáo trong ngân hàng. Đổi mới nhận thức không chỉ những người đang hoạt động trong ngân hàng mà còn ở nhiều ngành kinh doanh khác. Việc đổi mới nhận thức về hoạt động khuyến mại, quảng cáo trong ngân hàng sẽ đạt hiệu quả hơn, khi đó ngân hàng sẽ tạo dựng được thế đứng của mình trên thị trường. 3. Những nhận định cũ và mới về hoạt động khuyến mại, quảng cáo 3.1.Tác phẩm: “Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động quảng cáo đối với sản phẩm mới của ngân hàng Habubank trên thị trường Hà Nội” ( Trang web: thuvienluanvan.com) 3.1.1. Tóm tắt tác phẩm Tác phẩm đã khái quát về quảng cáo trong hoạt động kinh doanh. Đưa ra thực trạng và giải pháp đối với sản phẩm mới trong hoạt động quảng cáo. 3.1.2. Đối tượng và phạm vi - Đối tượng nghiên cứu: về hoạt động quảng cáo sản phẩm mới - Phạm vi nghiên cứu: trong ngân hàng Habubank trên thị trường Hà Nội 3.1.3. Những đóng góp của tác phẩm Tác phẩm đã có những đóng góp rất lớn giúp cho người đọc hiểu thêm về hoạt động kinh doanh trong ngân hàng, đặc biệt là hoạt động quảng cáo. Tác phẩm đã giúp cho đề tài của tôi hoàn chỉnh về mặt tổng quan của đề tài. 3.1.4. Những hạn chế về tác phẩm - Chưa nêu rõ giải pháp, thế mạnh sản phẩm mới của ngân hàng mình - Chưa đưa ra phần tổng quan của đề tài nghiên cứu - Thiếu phần đề xuất kiến nghị đối với cơ quan và đơn vị cấp trên 3.2. Tác phẩm “ Giải phát phát triển sản phẩm dịch vụ tại NHĐT&PT Hà Tây” ( Trang web: khotailieu.com) 3.2.1. Tóm tắt tác phẩm Đề tài đã nêu đầy đủ những vấn đề liên quan đến việc phát triển sản phẩm dịch vụ. Khái quát về tình hình hoạt động của NHĐT&PT Hà Tây và thực trạng của việc phát triển sản phẩm dịch vụ đó. Từ đó đưa ra các giải pháp và định hướng tương lai cho Ngân hàng 3.2.2. Những đóng góp của tác phẩm Phân tích hệ thống hoá những khái niệm, chính sách về sản phẩm dịch vụ của NHTM trong nền kinh tế thị trường. Thu thập phân tích và đánh giá thực trạ
Luận văn liên quan