Đề tài Chiến lược marketing của công ty Honda Việt Nam

Cũng như những nhu cầu tự nhiên như ăn, mặc, ở thì một nhu cầu khác cũng không thể thiếu được đối với con người trong cuộc sống hiện nay đó là phương tiện đi lại hay còn gọi là phương tiện giao thông. Và để đáp ứng được nhu cầu đó của người dân thì hàng loạt các phương tiện giao thông đã được nghiên cứu, sản xuất và đưa vào sử dụng như ô tô, xe máy, xe đạp điện, Nếu như ở Việt Nam khoảng một hai thập niên trước đây, xe máy mang tính thiếu số, được vị nể với tư cách là một sản phẩm tân kỳ, một tài sản lớn hơn là một phương tiện giao thông thì trong những năm gần đây, chiếc xe máy đã trở nên phổ biến hơn và hầu như trở thành phương tiện giao thông của đại đa số người dân. Hiện nay, có những gia đình có 1,2 thậm chí có đến 3,4 chiếc xe máy trong nhà. Trong cơ cấu tham gia giao thông đô thị ở Việt Nam, các số liệu cho biết : xe máy chiếm vị trí đầu bảng với tỉ lệ khoảng 61% tổng các phương tiện giao thông. Chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 2 triệu xe máy, ở Hà Nội thì con số này khoảng hơn 1 triệu xe, còn không kể đến số lượng xe không nhỏ ở các vùng khác. Ngoài ra đối với thu nhập bình quân của người Việt Nam hiện nay, xe máy là sự lựa chọn phù hợp nhất – nó có giá cả tương đối phù hợp (nhiều xe máy của Trung Quốc còn giá rẻ). Nhận biết được nhu cầu khổng lồ về xe máy như vậy nên trong thời gian qua đã có nhiều nhà cung cấp trên thị trường xe máy Việt Nam. Các hãng xe máy nổi tiếng trên thế giới như : Honda, SYM, Suzuki, Yamaha đã tiến hành liên doanh với Việt Nam để sản xuất và cung cấp cho người tiêu dùng Việt Nam. Thêm vào đó, trong 5 năm trở lại đây, thị trường xe máy đã đa đạng nay còn đa dạng hơn bởi những chiếc xe máy Trung Quốc được nhập khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Việt Nam. Sản phẩm xe máy Trung Quốc với ưu thế là giá rẻ, chủng loại đa dạng, phong phú đã thực sự phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam có nhu cầu sử dụng xe máy song thu nhập thấp hoặc những người dân có nhu cầu đổi mới kiểu dáng xe nhưng không có đủ tiền. Qua phân tích trên ta thấy nhu cầu sử dụng xe máy trên thị trường Việt Nam là rất lớn. Trước thực trạng đó, có rất nhiều cơ hội cũng như thách thức để có thể tiếp tục tạo dựng và duy trì lòng tin của người tin dùng Việt Nam đối với các hãng sản xuất xe máy về những sản phẩm mà công ty đã và đang tiến hành sản xuất – lắp ráp.

docx46 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 11803 | Lượt tải: 144download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Chiến lược marketing của công ty Honda Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA CÔNG TY HONDA VIỆT NAM / I – TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY HONDA VIỆT NAM 1. Giới thiệu công ty Tên công ty: Công ty Honda Việt Nam Giấy phép đầu tư số: 1521/GP cấp ngày 22/3/1996 Là công ty liên doanh gồm 3 đối tác: Công ty Honda Motor (Nhật Bản – 42%) Công ty Asia Honda Motor (Thái Lan – 28%) Tổng công ty Máy Động Lực và Máy Công Nghiệp Việt Nam (Việt Nam – 30%) Công ty Honda Việt Nam gồm có 3 nhà máy: Nhà máy xe máy thứ nhất (Tháng 3 năm 1998) : Được đánh giá là một trong những nhà máy chế tạo xe máy hiện đại nhất trong khu vực Đông Nam Á. Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc Vốn đầu tư: USD 290,427,084 Lao động: 3.560 người Công suất: 1 triệu xe/năm Nhà máy xe máy thứ hai (Tháng 8 năm 2008) : chuyên sản xuất xe tay ga và xe số cao cấp. Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc Vốn đầu tư: 65 triệu USD Lao động: 1.375 người Công suất: 500.000 xe/năm Nhà máy thứ 3: Chuyên sản xuất ô tô Năm thành lập: Tháng 3 năm 2005 Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc Vốn đầu tư: Khoảng 60 triệu USD Diện tích: 17.000m2 Lao động: 408 người Công suất: 10,000 xe/năm Nhà máy sản xuất Ô tô được trang bị máy móc và thiết bị tương tự như các nhà máy Honda ở các nước khác với tiêu chí đặc biệt coi trọng chất lượng, an toàn và thân thiện với môi trường. Hơn nữa, nhà máy còn được trang bị dây chuyền lắp ráp động cơ với mong muốn từng bước nội địa hóa các sản phẩm Ôtô . /  /   Nhà máy xe máy  Nhà máy ô tô   2. Lịch sử phát triển công ty - 3/1996: Nhận Giấy phép đầu tư - 12/1997: Xuất xưởng chiếc xe Super Dream đầu tiên - 2/1998: Ra mắt xe Super Dream - kiểu xe đầu tiên của Honda Việt Nam cho thị trường Việt Nam - 3/1998: Khánh thành Nhà máy Honda Việt Nam - 9/1999: Ra mắt xe Future - mẫu xe đầu tiên dành cho thị trường Việt Nam - 10/1999: Khánh thành Trung tâm Lái xe An toàn - 3/2000: Nhận chứng chỉ ISO 9002 - 3/2001: Đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ - 9/2001: Nhận chứng chỉ ISO 14001 - 11/2001: Lễ xuất xưởng chiếc xe thứ 500.000 - 2/2002: Giới thiệu xe Wave α - 5/2002: Bắt đầu xuất khẩu xe Wave α sang Philippin - 3/2003: Đón nhận chứng chỉ ISO 9001:2000 - 4/2003: Lễ xuất xưởng chiếc xe thứ 1 triệu - 8/2003: Khởi động chương trình “Tôi yêu Việt Nam” và đón nhận Bằng khen của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia - 4/2004: ASIMO tới thăm Việt Nam - 9/2004: Bắt đầu cuộc thi tìm hiểu An toàn giao thông trên Đài truyền hình Việt Nam - 11/2004: Ra mắt 2 kiểu xe: Wave ZX và Future II - 1/2005: Honda Nhật Bản giới thiệu Honda Spacy 102cc sản xuất tại Việt Nam qua mạng lưới cửa hàng HEAD của Honda Việt Nam - 3/2005: Công bố Dự án xây dựng nhà máy sản xuất ô tô của Honda Việt Nam - 4/2005: Chào mừng chiếc xe thứ 2 triệu - 6/2005: Lễ khởi công xây dựng nhà máy ô tô - 7/2005: Đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba - 11/2005: Ra mắt xe Wave RS - 12/2005: Giới thiệu xe Wave α mới và Future Neo. Nhận Bằng khen của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia - 3/2006: Kỷ niệm 10 năm thành lập. Ra mắt xe Super Dream Deluxe - 4/2006: Ra mắt xe Future Neo GT - 5/2006: Ra mắt xe Future Neo phanh cơ - 6/2006: Ra mắt xe Wave RSV - 7/2006: Khánh thành Trung tâm Đào tạo mới và bắt đầu sản xuất ô tô hàng loạt - 8/2006: Ra mắt xe Civic hoàn toàn mới và khánh thành nhà máy sản xuất ô tô - 10/2006: Giới thiệu kiểu xe Wave 100S nhân kỷ niệm 10 năm thành lập - 11/2006: Chính thức giới thiệu mẫu xe tay ga hoàn toàn mới mang tên CLICK ra thị trường - 12/2006: Trao tặng Giải thưởng Honda dành cho Kỹ sư và Nhà khoa học trẻ Việt Nam 2006 - 1/2007: Chung kết và trao giải Cuộc thi “Tôi yêu Việt Nam” 2006 - 4/2007: Ra mắt xe Future Neo FI với công nghệ phun xăng điện tử hiện đại và tiết kiệm nhiên liệu. - 4/2007: Xuất xưởng và ra mắt xe tay ga Air Blade - 5/2007: Ra mắt xe Wave S - 7/2007: Công bố mở rộng nhà máy sản xuất xe máy. - 7/2007: Công bố Chiến dịch Tôi Yêu Việt Nam 2007 - 8/2007: Ra mắt CLICK với màu mới nâng tổng số màu của dòng xe này lên 6 màu. - 10/2007: Ra mắt xe Future Neo mới với những tính năng vượt trội được cập nhật thêm, đáp ứng nhiều hơn nữa nhu cầu và kỳ vọng của người tiêu dùng. - 2/2008: Ra mắt bộ sưu tập CLICK Exceed sắc xuân mới - 4/2008: Phát động cuộc thi “Ý tưởng trẻ thơ” - 4/2008: Khởi động dự án Trồng rừng theo Cơ chế Phát triển sạch: AR –CDM - 4/2008: Ra mắt xe Wave RSX & Wave RSV mạnh mẽ, thể thao - 5/2008: Ra mắt Air Blade & Air Blade Repsol – Thể thao hơn nữa - 7/2008: Phát động chiến dịch “Be U with Honda” hướng tới giới trẻ - 7/2008: Ra mắt Wave α phiên bản mới - 8/2008: Lễ xuất xưởng chiếc xe thứ 5 triệu - 8/2008: Khánh thành nhà máy xe máy thứ hai - 9/2008: Ra mắt xe CLICK PLAY - 10/2008: Triển khai chương trình giáo dục ATGT cho trẻ em tại nhà trường và trên truyền hình. - 12/2008: Ra mắt bộ sưu tập Future Neo & Future Neo FI mới - 12/2008: Ra mắt xe tay ga Honda LEAD - 12/2008: Ra mắt xe CR-V - 12/2008: Trao tặng Giải thưởng Honda dành cho Kỹ sư và Nhà khoa học trẻ Việt Nam 2008. - 1/2009: Đào tạo ATGT cho trẻ em ở Vĩnh Phúc - 3/2009: Phát động cuộc thi Ý tưởng trẻ thơ 2009 - 3/2009: Khởi động cuộc thi online Be U-nik dành cho giới trẻ - 5/2009: Ra mắt xe Wave RS110 & Wave S110 - 6/2009: Ra mắt xe Civic phiên bản mới - 6/2009: Ra mắt xe Air Blade FI - 7/2009: Phối hợp với Trung Ương đoàn đào tạo ATGT - 14/1/2011: Ra mắt xe Honda Accord 2011. II – TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG KINH DOANH CỦA HONDA VIỆT NAM VÀ CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH. 1. Tổng quan thị trường xe máy Việt Nam 1.1. Nhu cầu tiêu thụ xe máy ở Việt Nam Cũng như những nhu cầu tự nhiên như ăn, mặc, ở thì một nhu cầu khác cũng không thể thiếu được đối với con người trong cuộc sống hiện nay đó là phương tiện đi lại hay còn gọi là phương tiện giao thông. Và để đáp ứng được nhu cầu đó của người dân thì hàng loạt các phương tiện giao thông đã được nghiên cứu, sản xuất và đưa vào sử dụng như ô tô, xe máy, xe đạp điện,… Nếu như ở Việt Nam khoảng một hai thập niên trước đây, xe máy mang tính thiếu số, được vị nể với tư cách là một sản phẩm tân kỳ, một tài sản lớn hơn là một phương tiện giao thông thì trong những năm gần đây, chiếc xe máy đã trở nên phổ biến hơn và hầu như trở thành phương tiện giao thông của đại đa số người dân. Hiện nay, có những gia đình có 1,2 thậm chí có đến 3,4 chiếc xe máy trong nhà. Trong cơ cấu tham gia giao thông đô thị ở Việt Nam, các số liệu cho biết : xe máy chiếm vị trí đầu bảng với tỉ lệ khoảng 61% tổng các phương tiện giao thông. Chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 2 triệu xe máy, ở Hà Nội thì con số này khoảng hơn 1 triệu xe, còn không kể đến số lượng xe không nhỏ ở các vùng khác. Ngoài ra đối với thu nhập bình quân của người Việt Nam hiện nay, xe máy là sự lựa chọn phù hợp nhất – nó có giá cả tương đối phù hợp (nhiều xe máy của Trung Quốc còn giá rẻ). Nhận biết được nhu cầu khổng lồ về xe máy như vậy nên trong thời gian qua đã có nhiều nhà cung cấp trên thị trường xe máy Việt Nam. Các hãng xe máy nổi tiếng trên thế giới như : Honda, SYM, Suzuki, Yamaha…đã tiến hành liên doanh với Việt Nam để sản xuất và cung cấp cho người tiêu dùng Việt Nam. Thêm vào đó, trong 5 năm trở lại đây, thị trường xe máy đã đa đạng nay còn đa dạng hơn bởi những chiếc xe máy Trung Quốc được nhập khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Việt Nam. Sản phẩm xe máy Trung Quốc với ưu thế là giá rẻ, chủng loại đa dạng, phong phú đã thực sự phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam có nhu cầu sử dụng xe máy song thu nhập thấp hoặc những người dân có nhu cầu đổi mới kiểu dáng xe nhưng không có đủ tiền. Qua phân tích trên ta thấy nhu cầu sử dụng xe máy trên thị trường Việt Nam là rất lớn. Trước thực trạng đó, có rất nhiều cơ hội cũng như thách thức để có thể tiếp tục tạo dựng và duy trì lòng tin của người tin dùng Việt Nam đối với các hãng sản xuất xe máy về những sản phẩm mà công ty đã và đang tiến hành sản xuất – lắp ráp. 1.2. Các phân đoạn thị trường + Phân khúc thứ nhất: chiếc xe máy đơn thuần là phương tiện giao thông thiết yếu trong sinh hoạt và kinh doanh với giá từ 6-10 triệu. Hướng vào các đối tượng có thu nhập thấp nhưng lại cần phương tiện đi lại hoặc phục vụ cuộc sống mưu sinh, đối tượng ở vùng nông thôn. Sản phẩm ở phân khúc này có chất lượng và độ an toàn thấp. Tham gia vào phân khúc này là các loại xe máy liên doanh của Việt Nam với Trung Quốc hoặc những chiếc xe được nhập khẩu từ trực tiếp từ Trung Quốc như Longin, Sunfat, Lisohaca… + Phân khúc thứ hai: cũng hướng vào thị trường bình dân, vùng nông thôn, những người mới đi làm hoặc chưa tự chủ về tài chính với giá từ 10-20 triệu đồng. Trong đoạn thị trường này, người sử dụng không những tìm kiếm lợi ích từ sản phẩm là chiếc xe máy không chỉ là một phương tiện giao thông, mà còn là một sở hữu mang tính thời trang của giới trẻ. Đồng thời còn tìm kiếm 1 sảm phẩm có độ bền cao hơn, an toàn hơn. Tham gia thị trường này có Honda, Yamaha, Suzuki, SYM… + Phân khúc thứ ba: hướng vào thị trường cao cấp hơn, những người có thu nhập ổn khá cao, hay đối tượng trẻ tìm kiếm phong cách cho riêng mình, có nhu cầu khẳng định bản thân, thể hiện cá tính và sự sang trọng. Với giá từ 20-50 triệu đồng. Đoạn thị trường này bao gồm cả xe số lẫn xe tay ga và tham gia đoạn thị trường này là Honda, Yamaha, SYM… với các dòng sản phẩm, các nhãn hiệu như Attila, Future, Jupiter, Nouvo, Click, Airblade…. + Phân khúc thứ tư: , Ở thị trường này, người tiêu dùng sẵn sàng bỏ ra những số tiền cao gấp nhiều lần so với công năng thông thường của một phương tiện đi lại cá nhân. Những chiếc xe trong đoạn thị trường này là những chiếc xe sang trọng, lịch lãm, thể hiện cá tính, đẳng cấp, lịch lãm và phần nào đó cũng thể hiện một phần giai tầng và địa vị xã hội của họ. Những chiếc xe này thường có giá cao ngất ngưởng ≥ 50 triệu đồng. Tham gia vào thị trường cao cấp này là các đại gia như Honda, Piaggio… Với các sản phẩm Vespa, fly, Liberty, PCX, PS, @, SH... 1.3. Công ty Honda Việt Nam Công ty Honda Việt Nam là liên doanh giữa công ty Honda Motor Nhật Bản, công ty Asian Honda Motor Thái Lan và tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam, được thành lập theo giấy phép đầu tư số 1521/GP cấp ngày 22 tháng 3 năm 1996. Từ đó đến nay Honda Việt Nam luôn được người tiêu dùng Việt Nam biết đến với uy tín và chất lượng của một tập đoàn sản xuất xe máy lớn nhất trên thế giới…Sản phẩm ban đầu là những chiếc xe Honda Cub 50, Cub 70, Super Cub,… đã thực sự chinh phục được lòng tin của người tiêu dùng Việt Nam bằng chính chất lượng và sự tiện dụng của những sản phẩm đó. Người tiêu dùng Việt Nam biết tới xe máy chính là do tập đoàn Honda mang lại, thậm chí người ta còn gọi xe máy là xe Honda. Xe máy của tập đoàn Honda luôn mang đến cho người tiêu dùng Việt Nam cảm giác an toàn, sự tin tưởng vào chất lượng và độ bền của xe. Honda Việt Nam cung cấp cho thị trường các sản phẩm chính sau: - Nhãn hiệu xe Super Dream - Nhãn hiệu xe Future gồm: Future NEO và Future II - Nhãn hiệu xe Wave gồm: Wave α, ZX, RS. - Nhãn hiệu xe tay ga: Click, SH, AirBlade, LEAD Số xe máy các hãng bán d ược trong các năm gần đây  Từ những con số trên ta thấy số xe máy của Honda bán ra khá lớn. Honda Việt Nam có thị phần lớn nhất nhưng cũng phải chịu sự cạnh tranh rất mạnh mẽ từ các hãng khác, nhất là YAMAHA và SUZUKI. Mặc dù vậy nhưng Honda Việt Nam vẫn chiếm vào ngưỡng 50% thị phần ở Việt Nam. Với một đội ngũ công nhân lao động có tay nghề, đội ngũ kỹ sư của Honda Việt Nam được đào tạo tại nước ngoài (Tại Honda Thái Lan, Nhật Bản) thật sự là cơ sở để Honda Việt Nam bảo đảm chất lượng của từng sản phẩm sản xuất ra. Sau 10 năm hoạt động, Honda Việt Nam đã đầu tư gần 194 triệu USD cho sản xuất kinh doanh xe máy và đầu tư thêm khoảng 60 triệu USD cho xây dựng nhà máy sản xuất ô tô Honda tại Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Công Thương, trong năm 2010 vừa qua, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe máy đã đưa ra thị trường tổng cộng hơn 3,5 triệu chiếc, tăng 14,5% so với năm 2009. Honda Việt Nam lập nên một kỷ lục về doanh số với gần 2 triệu chiếc xe máy được bán ra với các sản phẩm chủ lực thuộc dòng xe ga như Air Blade, Lead, PCX. Khoảng 1 triệu chiếc còn lại chia cho mảng thị trường xe nhậu khẩu (trên 95 nghìn chiếc) và các nhà sản xuất còn lại. Cũng trong năm 2010 vừa qua, nhà máy sản xuất xe máy chiếm thị phần lớn nhất Việt Nam là Honda đã thông báo về kế hoạch tăng cường năng lực sản xuất xe máy lên mức 2 triệu chiếc/năm. Honda Việt Nam đã đầu tư thêm khoảng 70 triệu USD vào việc mở rộng nhà máy với công suất tăng thêm 500.000 chiếc /năm. Dự kiến, phần mở rộng nhà máy sẽ đi vào hoạt động từ nửa cuối năm 2011. Hiện tại hai nhà máy sản xuất xe máy của Honda Việt Nam đang đạt công suất khoảng 1,5 triệu chiếc/năm. Với việc mở rộng nhà máy lần này, Honda Việt Nam đã nâng công suất lên 2 triệu chiếc /năm. 1.4. Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường xe máy của Honda Việt Nam Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một vấn đề không thể tránh khỏi đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Cho dù doanh nghiệp đó đang tiến hành kinh doanh ở bất kỳ một lĩnh vực nào thì vấn đề cạnh tranh luôn song hành với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó. Đối với thị trường xe máy Việt Nam cũng vậy. Trong những năm gần đây, trên thị trường xe máy Việt Nam có rất nhiều nhà cung cấp. Họ có những điểm mạnh của riêng mình và đang từng bước khắc họa, khẳng định uy tín của mình trên thị trường xe máy Việt Nam. Tiêu biểu đó là sự ra đời của các công ty liên doanh xe máy. Sản phẩm của các công ty liên doanh này rất đa dạng và phong phú. Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Honda Việt Nam trên thị trường xe máy là Yamaha, Suzuki, SYM, Piaggo. 1.4.1. Đối thủ cạnh tranh trực tiếp – Yamaha Yamaha gia nhập thị trường xe máy sau HVN một năm, với lợi thế quy mô và vốn đầu tư lớn. Yamaha luôn cạnh tranh quyết liệt và giành giật thị phần của HVN. Tuy là kẻ đến sau nhưng Yamaha đã chiếm được vị trí tương đối vững chắc trong thị trường xe máy Việt Nam. Sản phẩm của hãng được nhiều người ưa thích đặc biệt là giới trẻ.Yamaha tung ra thị trường với nhiều loại xe từ xe số, xe phanh đĩa, xe ga với kiểu dáng màu sắc rất trẻ trung và đa dạng. Các kiểu xe ga của Yamaha như Mio Amore, Mio Maximo, Mio Classical ...đều có thiết kể nhỏ gọn, sang trọng, giá cả vừa phải, dao động từ 16 – 18 triệu đồng, nó rất phù hợp với phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là đối với các bạn nữ. Bên cạnh xe ga dành cho nữ giới, Yamaha cũng khá thành công cho việc thiết kế xe ga dành cho nam giới – đó chính là Nouvo. Xe được thiết kế với phần đầu và thân xe thể hiện sự mạnh mẽ của nam giới, nhẹ nhàng lướt ga nhưng vẫn thể hiện sự dũng mãnh của mình. Ngoài ra thì Yamaha cũng cung cấp trên thị trường các xe thuộc dòng xe số như Jupiter, Sirius …. Các loại xe này hiện đang rất được ưa chuộng trên thị trường đặc biệt là giới trẻ. -Mặc dù không thể cạnh tranh với Honda (Honda Việt Nam) về chất lượng: độ bền.., tiết kiệm nhiên liệu nhưng yamaha lại có lợi thế hơn Honda Việt Nam về chủng loại. Chủng loại của hãng này rất phong phú và đa dạng, rất hợp thời trang. -Yamaha Motor Việt Nam còn có chiến lược quảng cáo, tiếp thị rộng rãi, có hình thức “mua trả góp” với lãi suất hợp lý nhằm thu hút khách hàng; tài trợ 3 năm liên tiếp cho giải bóng đá thiếu nhi, nhi đồng toàn quốc từ năm 2007-2009 với khẩu hiệu “ Vì tương lai bóng đá Việt Nam; đồng hành cùng với “chiến dịch xanh”; tham gia hội trợr với chương trình “triển lãm More Yamaha năm 2010” ở Buôn Mê Thuột; sử dụng hệ thống đại lý và chăm sóc khách hàng rất tốt bao gồm Yamaha Town , đại lý 3S, đại lý 2S . -Những sản phẩm của các hãng này thường được giới trẻ ưa chuộng bởi Bản đã thành lập một trung tâm tại Băng Cốc (Thái Lan) với chức năng nghiên cứu phát triển các loại xe máy để bán trên thị trường Châu Á và Việt Nam (động thái này xuất phát từ thực tế, trên thị trường Châu Á đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt không chỉ về chất lượng giá cả mà cả về kiểu dáng của xe) -Như vậy, sau một thời gian hoạt động Yamaha Motor Việt Nam đã tìm thấy thế mạnh của mình và đang từng bước khẳng định sức mạnh đó trên thị trường xe máy Việt Nam. 1.4.2. Các đối thủ cạnh tranh theo sau – SYM, Suzuki, Piaggo a, SYM - Năm 1992, San Yang đầu tư sản xuất kinh doanh xe gắn máy tại Việt Nam với tên đầy đủ là: “Công ty hữu hạn chế tạo hàng công nghiệp và gia công chế biến hàng xuất khẩu Việt Nam” viết tắt là VMEP. VMEP có hai nhà máy được xây dựng tại hai tỉnh Hà Tây (miền Bắc) và Đồng Nai (miền Nam) với tổng số vốn đầu tư 1.160.000.000 đô la Mỹ, có công suất đạt 540.000 xe/năm. Đây là dự án sản xuất xe máy đầu tiên ở Việt Nam và cũng là dự án lớn nhất ở Việt Nam thuộc loại này. - Từ năm 1996, công ty San Yang Motor Taiwan thuộc Tập đoàn Chinfon đã quyết định đột phá bằng chiến dịch toàn cầu với thương hiệu SYM. Hiện nay sản phẩm của SYM đã có mặt tại rất nhiều nước trên thế giới. - Năm 2002 công ty mẹ San Yang đã tăng cường đầu tư để triển khai dự án sảnxuất và lắp ráp động cơ 15.000.000 USD. VMEP là công ty đầu tiên đưa thiết bị sản xuất động cơ vào Việt Nam, các phân xưởng đầu tiên đã đi vào hoạt động: sản xuất xy lanh, cốt cam, phụ tùng ô tô và khuôn mẫu chính xác. Đến nay VMEP là doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hoá cao nhất trong các doanh nghiệp sản xuất xe máy tại Việt Nam với mức độ nội địa hoá đạt hơn 90% cho một số loại xe. Sản phẩm mang thương hiệu SYM có hai dòng chính: xe Cub (xe số bình thường) và xe Scooter (xe tay ga). Dòng xe Cub có các nhãn hiệu xe sau: Angel, Magic, Star, Amigo,Bonus,Husky… Dòng xe Scooter bao gồm:Attila, Excel, HD, GTS Năm 2009, SYM chiếm 9% thị phần thị trường xe máy Việt Nam. - SYM sử dụng kênh phân phối qua các đại lý trên toàn quốc, khuyến mại tặngmũ bảo hiểm cho khách hàng và tổ chức sự kiện “10 năm thành lập SYM”. Với chấtlượng và uy tín cũng như sự tìm tòi, cải tiến không ngừng với những sản phẩm mẫumã đẹp, chất lượng cao, SYM ở Việt Nam đã và đang trở thành một trong nhữngnhãn hiệu được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng và tin tưởng. b, Suzuki -Suzuki là một hãng xe lớn của Nhật Bản. Năm 1996 công ty Việt NamSuzuki đi vào hoạt động. Tháng 9/1996: Việt Nam Suzuki đã sản xuất xe GN 125,loại xe Suzuki đầu tiên tại Việt Nam. Tháng 10/1996: công ty đã cho ra đời Viva CD, mẫu xe Viva đầu tiên ra mắt tại Việt Nam, xây dựng nên một hình ảnh thời trang cho xe máy. -Ngoài việc cải tiến những sản phẩm hiện có, Việt Nam Suzuki còn đưa ra thịtrường các kiểu xe mới như Shogun R125 (giá 23,5 VND/xe), Viva 110 thường vàphanh đĩa, Smash 110 (giá: 15,7 VND/xe)., Revo 110cc, x-Bike… -Với khẩu hiệu xe máy Suzuki “Ride the winds of change”, Suzuki chấp nhận thách thức trong việc cải tiến công nghệ nhằm đem lại những sản phẩm xe máy tinh tế đem lại cảm xúc hoàn toàn mới cho người sử dụng, họ đã “thổi luồng gió mới cho cuộc sống” và đã được người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận. Suzuki với hệ thống đại lý có mặt rộng khắp cả nước (trong đó có hơn 16 đại lý và trung tâm bảo hành tại Hà Nội) nhằm phục vụ khách hàng một cách chu đáo và thuận tiện. Hệ thống này là sự kết hợp hiệu quả của các cửa hàng Suzuki 3S đảm nhiệm tất cả các dịch vụ liên quan, đó là bán hàng (sales), dịch vụ hậu mãi (after sales services) và cung cấp phụ tùng Suzuki chính hiệu (Spare parts). Tất cả, từ cấu trúc tổng thể cho đến từng chi tiết, vật dụng nhỏ, kết hợp tạo nên một hình ảnh nhất quán, hài hoà, đầy sáng tạo cho tất cả các cửa hàng Suzuki trên toàn quốc. Các chiến dịch hậu mãi với tên gọi “Suzuki chăm sóc khách hàng” được tổ chức hàng năm hỗ trợ những dịch vụ hậu mãi cộng thêm thể hiện sự quan tâm khách hàng ngay cả sau khi đã bán. Dịch vụ cũng như các điều lệ bảo hành của Suzuki được hướng dẫn cho khách hàng ngay sau khi bán. Suzuki còn khuyến tặng balo đựng laptop, tặng áo gió cao cấp khi khách hàng mua các dòng xe Revo 110c,hayate.. và là nhà tài trợ chính cho giải bóng đá vô địch Đông Nam Á 2008. -Chính nhờ sự nỗ lực không ngừng nên thị trường tiêu thụ của Việt Nam Suzuki ngày càng được mở rộng trên thị trường xe máy Việt Nam. Người tiêu dùng
Luận văn liên quan