Đề tài Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng của các giống cà chua lai quả nhỏ mới với điều kiện vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè

1.1 Đặt vấn đề Cây cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà (Solanaceae) có nguồn gốc từ phía Nam nước Mỹ, là loại rau phổ biến trên thế giới và được nhiều người ưa chuộng. Cà chua có giá trị dinh dưỡng rất lớn. Quả cà chua được sử dụng ở nhiều phương thức khác nhau: có thể dùng làm salat, chế biến các món ăn, làm quả tươi ở các món tráng miệng, cà chua đóng hộp nguyên quả, tương cà chua, Là loại rau quả dễ sử dụng, cà chua đã trở thành món ăn thông dụng của nhiều nước trên thế giới trên 150 năm qua [Fao, 2005]. Mặt khác, cà chua còn là một mặt hàng rau tươi có giá trị xuất khẩu vào loại lớn trên thị trường thế giới. Châu Á là thị trường đứng đầu về diện tích trồng và sản lượng, trong đó đứng thứ nhất ở Châu Á đó là Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây cà chua đã được trồng từ rất lâu và là cây trồng chủ lực của ngành nông nghiệp. Ở nước ta việc phát triển cà chua còn có ý nghĩa quan trọng về mặt luân canh, tăng vụ, và tăng năng suất trên đơn vị diện tích, do đó cà chua là loại rau được khuyến khích phát triển. Phần lớn diện tích trồng cà chua tập trung tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Tây, Nam Định Hiện nay có một số giống chịu nhiệt mới lai tạo chọn lọc có thể trồng tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam bộ nên diện tích gieo trồng ngày càng được mở rộng. Nhiều giống cà chua lai chất lượng tốt được phát triển mạnh ở Đà Lạt, Lâm Đồng. Những năm gần đây, giống cà chua mini đã xuất hiện và có sức hút đối với thị trường người tiêu dùng. Đây là giống cà chua chất lượng cao, phục vụ ăn tươi là chính (salat), đặc biệt giống này phù hợp cho công nghệ đóng hộp nguyên quả. Thịt quả dày, mịn, chắc, khô ráo, khẩu vị ngọt có hương thơm, quả cứng, chịu đựng được vận chuyển xa, bảo quản được dài ngày. Những giống cà chua này thường bắt gặp ở các vùng núi cao và ven biển miền Trung. Quả có lượng axit cao, hạt nhiều nhưng khả năng chống chịu khá nên được sử dụng làm vật liệu tạo giống. Cà chua quả nhỏ dễ trồng, trồng được nhiều vụ trong năm, sai quả với giá bán cao gấp 2 – 3 lần cà chua thông thường nên hiệu quả đưa lại thường rất cao. Tuy nhiên những nghiên cứu về giống cà chua quả nhỏ và số lượng mẫu giống này ở nước ta chưa nhiều, trên thị trường có một số ít các giống như: VR2, TN061, giống lai F1 TN040, giống lai F1 thúy hồng 1657, giống lai F1 HT144 Với mục tiêu đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng, phục vụ ăn tươi và chế biến, bổ sung thêm vào nguồn giống cà chua trong nước những giống cà chua cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận của môi trường, tiếp tục hướng nghiên cứu của các đề tài đi trước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng của các giống cà chua lai quả nhỏ mới với điều kiện vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè” 1.2 Mục đích – Yêu cầu của đề tài 1.2.1 Mục đích của đề tài Tuyển chọn được các tổ hợp lai cà chua quả nhỏ có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh để giới thiệu cho thử nghiệm sản xuất ở vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. 1.2.2 Yêu cầu của đề tài - Đánh giá khả năng sinh trưởng và một số đặc điểm hình thái, cấu trúc cây của các tổ hợp lai cà chua nhỏ trồng trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. - Đánh giá khả năng ra hoa, đậu quả, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp lai cà chua nhỏ trồng trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. - Đánh giá một số đặc điểm hình thái quả và một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các tổ hợp lai cà chua quả nhỏ trồng trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. - Đánh giá khả năng chống chịu của các tổ hợp lai với điều kiện nhiệt độ cao của môi trường thông qua khả năng ra hoa, đậu quả trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. - Đánh giá tình hình nhiễm bệnh virus trên đồng ruộng theo các triệu chứng quan sát trên cây qua các lần theo dõi trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè.

doc134 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 22/09/2015 | Lượt xem: 1573 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng của các giống cà chua lai quả nhỏ mới với điều kiện vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1. MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề Cây cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà (Solanaceae) có nguồn gốc từ phía Nam nước Mỹ, là loại rau phổ biến trên thế giới và được nhiều người ưa chuộng. Cà chua có giá trị dinh dưỡng rất lớn. Quả cà chua được sử dụng ở nhiều phương thức khác nhau: có thể dùng làm salat, chế biến các món ăn, làm quả tươi ở các món tráng miệng, cà chua đóng hộp nguyên quả, tương cà chua, Là loại rau quả dễ sử dụng, cà chua đã trở thành món ăn thông dụng của nhiều nước trên thế giới trên 150 năm qua [Fao, 2005]. Mặt khác, cà chua còn là một mặt hàng rau tươi có giá trị xuất khẩu vào loại lớn trên thị trường thế giới. Châu Á là thị trường đứng đầu về diện tích trồng và sản lượng, trong đó đứng thứ nhất ở Châu Á đó là Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây cà chua đã được trồng từ rất lâu và là cây trồng chủ lực của ngành nông nghiệp. Ở nước ta việc phát triển cà chua còn có ý nghĩa quan trọng về mặt luân canh, tăng vụ, và tăng năng suất trên đơn vị diện tích, do đó cà chua là loại rau được khuyến khích phát triển. Phần lớn diện tích trồng cà chua tập trung tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Tây, Nam Định Hiện nay có một số giống chịu nhiệt mới lai tạo chọn lọc có thể trồng tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam bộ nên diện tích gieo trồng ngày càng được mở rộng. Nhiều giống cà chua lai chất lượng tốt được phát triển mạnh ở Đà Lạt, Lâm Đồng. Những năm gần đây, giống cà chua mini đã xuất hiện và có sức hút đối với thị trường người tiêu dùng. Đây là giống cà chua chất lượng cao, phục vụ ăn tươi là chính (salat), đặc biệt giống này phù hợp cho công nghệ đóng hộp nguyên quả. Thịt quả dày, mịn, chắc, khô ráo, khẩu vị ngọt có hương thơm, quả cứng, chịu đựng được vận chuyển xa, bảo quản được dài ngày. Những giống cà chua này thường bắt gặp ở các vùng núi cao và ven biển miền Trung. Quả có lượng axit cao, hạt nhiều nhưng khả năng chống chịu khá nên được sử dụng làm vật liệu tạo giống. Cà chua quả nhỏ dễ trồng, trồng được nhiều vụ trong năm, sai quả với giá bán cao gấp 2 – 3 lần cà chua thông thường nên hiệu quả đưa lại thường rất cao. Tuy nhiên những nghiên cứu về giống cà chua quả nhỏ và số lượng mẫu giống này ở nước ta chưa nhiều, trên thị trường có một số ít các giống như: VR2, TN061, giống lai F1 TN040, giống lai F1 thúy hồng 1657, giống lai F1 HT144 Với mục tiêu đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng, phục vụ ăn tươi và chế biến, bổ sung thêm vào nguồn giống cà chua trong nước những giống cà chua cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận của môi trường, tiếp tục hướng nghiên cứu của các đề tài đi trước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng của các giống cà chua lai quả nhỏ mới với điều kiện vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè” 1.2 Mục đích – Yêu cầu của đề tài 1.2.1 Mục đích của đề tài Tuyển chọn được các tổ hợp lai cà chua quả nhỏ có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh để giới thiệu cho thử nghiệm sản xuất ở vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. 1.2.2 Yêu cầu của đề tài - Đánh giá khả năng sinh trưởng và một số đặc điểm hình thái, cấu trúc cây của các tổ hợp lai cà chua nhỏ trồng trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. - Đánh giá khả năng ra hoa, đậu quả, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp lai cà chua nhỏ trồng trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. - Đánh giá một số đặc điểm hình thái quả và một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các tổ hợp lai cà chua quả nhỏ trồng trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. - Đánh giá khả năng chống chịu của các tổ hợp lai với điều kiện nhiệt độ cao của môi trường thông qua khả năng ra hoa, đậu quả trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. - Đánh giá tình hình nhiễm bệnh virus trên đồng ruộng theo các triệu chứng quan sát trên cây qua các lần theo dõi trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Nguồn gốc, phân loại, giá trị của cây cà chua 2.1.1 Nguồn gốc, phân bố của cây cà chua Cà chua có nguồn gốc từ Nam Mỹ, dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ quần đảo galapagos tới Chi Lê (Nguyễn Văn Hiển, 2000)[18]. Dấu vết di truyền ở cà chua cho thấy nguồn gốc của cà chua là cây thân thảo xanh nhỏ, với sự đa dạng về loài ở cao nguyên của peru. Các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của cây cà chua trồng. Tuy nhiên nhiều tác giả khác nhận định L.esculentum var. cerasiforme (cà chua anh đào) là tổ tiên của loài cà chua trồng. Theo các nghiên cứu của jenkins (1948), có thể dạng này được chuyển từ peru và ecuado tới nam mehico [18]. Lịch sử phát triển và du nhập cà chua vào các nước và khu vực trên thế giới là khác nhau. Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng nhà thám hiểm Tây Ban Nha, cortez, có thể đã là người đầu tiên vận chuyển cà chua quả nhỏ màu vàng đến Châu Âu, sau khi ông bị bắt ở thành phố Aztec của Tenochititlan vào năm 1521 (thuộc thành phố MeHiCo ngày nay). Năm 1544, Andrea Mattioli nhà dược liệu học người Italia mới đưa ra những dẫn chứng xác đáng về sự tồn tại của cây cà chua trên thế giới và được ông gọi là "pomidoro", sau đó được chuyển vào tiếng Italia với cái tên "tomato". Người Pháp gọi cà chua là "pommedamour" (quả táo tình yêu). Ở Anh, phải đến đầu những năm thập niên 1590, quả cà chua mới được công nhận là không có độc dược Ở Trung Đông, cà chua được giới thiệu bởi John barker, lãnh sự Anh tại Aleppo vào giai đoạn từ 1799 đến 1825. Ở Bắc Mỹ, cà chua được du nhập vào từ năm 1710. Chúng được trồng và phát triển mạnh ở California và Florida. Trường Đại học California đã trở thành một trung tâm lớn về nghiên cứu cà chua sau đó. Vào thế kỷ 18, cà chua được đưa vào Châu Á nhờ các lái buôn người Châu Âu và thực dân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Đầu tiên là Philippin, đảo Java và Malaysia, sau đó đến các nước khác và trở nên phổ biến[51]. Cà chua du nhập vào Việt Nam từ thời thực dân Pháp chiếm đóng, tức là khoảng 100 năm trước đây, và được người dân thuần hóa trở thành cây bản địa. Từ đó cùng với sự phát triển của xã hội, cây cà chua đã và đang trở thành một cây trồng có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao ở Việt Nam. Có thể nói trong rất nhiều năm cà chua đã được coi như là cây thuốc và cây cảnh, mãi đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 cà chua mới được liệt vào cây rau thực phẩm có giá trị và từ đó nó được phát triển mạnh. 2.1.2 Phân loại Cà chua thuộc chi Lycopersicon Tourn, họ cà (Solanaceae). Chi Lycopersicon Tourn được phân loại theo nhiều tác giả: Muller (1940), Daskalov và Popov (1941), Luckwill (1943), Lehmann (1953), Brezhnev (1955, 1964), Zhucopski (1964). Ở Mỹ thường dùng phân loại của Multer. Ở Châu Âu, Liên Xô cũ thường dùng phân loại của Brezhnev. Với cách phân loại của Brezhnev (1964) [18], chi Lycopersicon Tourn gồm 3 loài thuộc 2 chi phụ: - Subgenus 1 – Eriopersicon. Chi phụ này gồm các loài dại, cây dại 1 năm hoặc nhiều năm, gồm các dạng quả có lông, màu trắng, xanh lá cây hay vàng nhạt, có vệt màu atoxian hay xanh thẫm. Hạt dày không có lông, màu nâu. Chi phụ này gồm 2 loài và các chi phụ. 1. Lycopersicon peruvianum mill 1a. L.peruvianum var. Cheesmanii riloey và var. Cheesmanii f. minor C. H. Mull (L. etc. var. minor Hook) 1b. L. peruvianum var. dentantum Dun 2. Lycopersicon hirsutum humb. et. Bonpl 2a. L. hirsutum var. glabratum C. H. Mull 2b. L. hirsutum var. glandulosum C. H. Mull - Subgenus 2 – Eulycopersicon. Các cây dạng một năm, quả không có lông, màu đỏ hoặc vàng, hạt mỏng, rộng chi phụ này gồm một loài. 3. Lycopersicon esculentum Mill. Loài này gồm 3 loài phụ a) L.esculentum Mill. Ssp. Spontaneum Brezh: Cà chua dại, bao gồm các dạng sau: - L. esculentum var. pimpinellifolium Mill (Brezh) - L. esculentum var.racemigenum (Lange), (Brezh) b) L. esculentum Mill. Ssp. Subspontaneum: cà chua bán hoang dại, gồm 5 dạng sau: - L. esculentum var. cersiforme (A Gray) Brezh: cà chua anh đào - L. esculentum var. pyriforme (C. H. Mull) Brezh: cà chua dạng lê - L. esculentum var. pruniforme Brezh: cà chua dạng mận - L. esculentum var. elongatum Brezh: cà chua dạng quả dài - L. esculentum var. succenturiatum Brezh: cà chua dạng nhiều ô hạt c) L. esculentum Mill. Ssp. Cultum: cà chua trồng, có 3 dạng sau: - L. esculentum var. vulgare Brezh - L. esculentum var. validum (Bailey) Brezh - L. esculentum var. grandiflium (Bailey) Brezh 2.1.3 Giá trị dinh dưỡng và giá trị y học Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng rất lớn. Trong quả cà chua chín chứa nhiều loại chất dinh dưỡng có giá trị cao như: các dạng đường dễ tiêu, chủ yếu là glucoza và fructoza; các loại vitamin cơ bản cần thiết cho con người như vitamin A, B1, B2, B6,... Mặt khác trong quả cà chua còn chứa một hàm lượng axit như oxalic, malic, nicotinic, citric,... và nhiều chất khoáng như K, P, Na, Ca, Mg, S, Fe,... là những chất có trong thành phần của máu và xương. Quả tươi còn góp phần làm tăng bề mặt tiếp xúc giữa thức ăn và lông nhung trong ruột, qua đó giúp cho quá trình tiêu hoá, hấp thụ thức ăn được dễ dàng. Bảng 2.1. Thành phần hóa học của 100g cà chua Thành phần Quả chín tự nhiên Nước ép tự nhiên Nước 93,76g 93,9g Năng lượng 21kcal 17kcal Chất béo O,33g 0,06g Protein 0,85g 0,76g Carbohydrates 4,46g 4,23g Chất xơ 1,10g 0,40g Kali 223mg 220mg Phot pho 24mg 19mg Magie 11mg 11mg Can xi 5mg 9mg Vitamin C 19mg 18,30mg Vitamin A 623IU 556IU Vitamin E 0,38mg 0,91mg Niacin 0,628mg 0,67mg Nguồn: USDA Nutrient Data Base [73] Bên cạnh đó, cà chua còn rất có giá trị trong y học. Theo Võ Văn Chi (1997), cà chua có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tạo năng lượng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải nhiệt, chống hoại huyết, kháng khuẩn, chống độc, kiềm hóa máu có dư axit, hòa tan ure, thải ure, điều hòa bào tiết, giúp tiêu hóa dễ dàng các loại bột và tinh bột. Dùng ngoài để chữa bệnh trứng cá, mụn nhọt, viêm tấy và dùng lá để trị vết đốt của sâu bọ. Chất tomarin chiết xuất từ lá cà chua khô có tác dụng kháng khuẩn, chống nấm, diệt một số bệnh hại cây trồng[16]. Cà chua có thể giúp bảo vệ những người nghiện thuốc lá khỏi nguy cơ bị bệnh phổi (các nhà khoa học thuộc Đại học Y khoa Jutendo Nhật Bản). Đặc biệt lycopen trong quả cà chua có tác động mạnh đến việc giảm sự phát triển nhiều loại ung thư như ung thư tiền liệt tuyến, ung thư ruột kết, ung thư trực tràng và nhồi máu cơ tim,...[22]. Là một thành phần tạo nên màu đỏ của quả cà chua, lycopen còn có tác dụng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hàm lượng chất này nhiều hay ít phụ thuộc vào độ chín của quả và chủng loại cà chua. Đây là một số chất oxi hóa tự nhiên mạnh gấp 2 lần so với beta-caroten và gấp 100 lần so với vitamin E. Ngoài ra nếu sử dụng nhiều cà chua thì tỉ lệ oxi hóa làm hư các cấu trúc sinh hóa của ADN giảm xuống thấp nhất[2]. 2.1.4 Giá trị kinh tế Cà chua có thể dùng để ăn tươi, nấu nướng, vừa là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến với các loại sản phẩm khác nhau. Do đó, đối với các nước trên thế giới nói chung, đặc biệt là các nước nhiệt đới nói riêng, trong đó có Việt Nam, thì cây cà chua là một trong những cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rất cao và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Theo fao (1999) Đài Loan hằng năm xuất khẩu cà chua tươi với tổng trị giá là 952000 USD và 48000 USD cà chua chế biến. Lượng cà chua trao đổi trên thị trường thế giới năm 1999 là 36,7 tấn trong đó cà chua được dùng ở dạng ăn tươi chỉ 5 – 7%. Ở Mỹ (1997), tổng giá trị sản xuất 1 ha cà chua cao hơn gấp 4 lần với lúa nước, 20 lần so với lúa mỳ[22]. Ở Việt Nam, mặc dù cà chua mới được trồng khoảng trên 100 năm nay nhưng nó đã trở thành một loại rau phổ biến và được sử dụng rộng rãi, diện tích trồng hàng năm biến động từ 12 – 13 nghìn ha. Theo số liệu điều tra của phòng nghiên cứu thị trường Viện nghiên cứu rau quả, sản xuất cà chua ở Đồng bằng sông Hồng cho thu nhập bình quân 42 – 68,4 triệu đồng/ha/vụ với mức lãi thuần 15 – 25 triệu đồng/ha, cao gấp nhiều lần so với trồng lúa. 2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà chua trên thế giới 2.2.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (1000 tấn) 2000 4020,120 27,0936 108919,744 2001 4010,508 26,6721 106968,784 2002 4147,368 27,7616 115137,624 2003 4188,111 28,1991 118101,131 2004 4494,277 28,0963 126272,827 2005 4554,099 27,8562 126859,933 2006 4683,942 27,7720 130082,781 2007 5121,977 26,0172 133259,909 2008 5227,883 24,7996 129649,883 Nguồn FAO,2009 Trên thế giới cà chua là cây rau quan trọng, xếp thứ 2 sau khoai tây. Những năm gần đây, tình hình sản xuất cà chua trên thế giới vẫn tiếp tục gia tăng, tuy nhiên xuất hiện xu hướng không ổn định và chững lại. Mặc dù diện tích trồng cà chua hàng năm trên thế giới tăng lên xong năng suất và sản lượng cà chua lại giảm xuống rõ rệt. Theo thống kê mới nhất của FAO (2009), diện tích cà chua trong những năm gần đây tăng lên rõ rệt. Từ 4020,120 ha năm 2000 đã tăng lên 5227,883 ha năm 2008. Trong khi đó năng suất và sản lượng cà chua lại có xu hướng giảm đi. Năng suất cà chua năm 2000 trên thế giới đạt 27,09 tấn/ha, thì đến năm 2008 năng suất cà chua chỉ đạt 24,8 tấn/ha. Sản lượng cà chua cũng theo đó mà giảm theo. Từ 108919,744 tấn năm 2000 giảm xuống còn 129649,883 tấn năm 2008. Bảng 2.3: Sản lượng cà chua của thế giới và 10 nước đứng đầu ĐVT: 1000 tấn Quốc gia 1995 2000 2003 2005 Thế giới 87592,093 108339,598 116943,619 124426,995 Trung Quốc 13172,494 22324,767 28842,743 31644,040 Mỹ 11784,000 11558,800 10522,000 11043,300 Thổ Nhĩ Kỳ 7250,000 8890,000 9820,000 9700,000 Ấn Độ 5260,000 7430,000 7600,000 7600,000 Italy 5182,000 7538,100 6651,505 7087,016 Ai Cập 5034,179 6785,640 7140,195 7600,000 Tây Ban Nha 2841,100 3766,328 3947,327 4651,000 Braxin 2715,016 2982,840 3708,600 3396,767 Iran 2403,367 3190,999 4200,000 4200,000 Mêhico 2309,968 2086,030 3148,136 2800,115 Hy Lạp 2064,160 2085,000 1830,000 1713,580 (Nguồn FAO Database Static 2006) Cà chua được sản xuất chủ yếu ở các nước ôn đới và á nhiệt đới. Trong đó đứng đầu về diện tích trồng cà chua là khu vực Châu Á, với diện tích gieo trồng là 2563,991 ha. Theo số liệu FAO (2002), diện tích trồng cà chua trên thế giới đạt xấp xỉ 3,6 triệu ha, sản lượng 98,62 triệu tấn. Trong đó, các nước Châu Á chiếm 44%, Châu Âu 22%, Châu Mỹ 15%, Châu Phi 12% và các khu vực khác chiếm 7%. Tuy nhiên, xét về lĩnh vực xuất khẩu, Châu Âu luôn là khu vực xuất khẩu cà chua lớn nhất ở tất cả các dạng sản phẩm (tuơi, đóng hộp, cô đặc). Xuất khẩu cà chua cô đặc ở Châu Âu chiếm tới 56% lượng xuất khẩu trên toàn thế giới. 4 quốc gia trên thế giới đứng đầu về chế biến cà chua phải kể đến đó là Hoa Kỳ, Italia, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ. Sản lượng cà chua ở Châu Á và Châu Phi cao nhưng do chất lượng không đồng đều nên chủ yếu được tiêu thụ tại chỗ. Theo FAO (2005), hiện nay trên thế giới có hơn 150 nước trồng cà chua. Trong đó, Trung Quốc là nước có sản lượng cà chua lớn nhất và cũng là nước duy trì được tình trạng ổn định về sản xuất cà chua. Năm 2006 là năm trên thế giới có sự biến động về nguồn cung ứng cà chua. Trong khi tại Hy Lạp_một trong những nước cung ứng cà chua lớn cho EU, do điều kiện thời tiết không thuận lợi nên sản lượng cà chua của nước này giảm 1 triệu tấn so với dự báo. Tại Hoa Kỳ nguồn cung ứng cà chua cũng giảm 13% so với năm 2005. Thì khi đó sản lượng cà chua của Trung Quốc vẫn duy trì trong năm 2006. Nguồn cung ứng cà chua trên thế giới thiếu hụt đượng nhiên đã thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc tăng tới 4,71% so với năm trước, đạt 630 triệu kg. Lượng cà chua xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường Hoa Kỳ trong năm 2006 đạt 9,44 triệu kg, tăng 735,5% so với năm 2005 với lợi nhuận thu được từ hoạt động xuất khẩu cà chua là 5,01 triệu USD, tăng 933,2% so với năm trước đó. Đứng sau Trung Quốc về sản lượng cà chua đó là Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Tại Châu Á, Đài Loan là một trong số ít nước có nền công nghiệp chế biến cà chua sớm nhất. Ngay từ năm 1918, nước này đã phát triển cà chua đóng hộp. Năm 1931, mặc dù sản xuất cà chua của Nhật Bản tăng lên nhưng sản phẩm cà chua chế biến của Đài Loan vẫn được thị trường Nhật Bản chấp nhận và nổi tiếng ở Nhật. Năm 1967 Đài Loan chỉ có 1 công ty chế biến cà chua là công ty liên doanh giữa Đài Loan và Nhật Bản. Đến năm 1976 tại Đài Loan đã có hơn 50 nhà máy sản xuất cà chua đóng hộp (Yu Kang Mao, 1979) [16]. Thái Lan là một nước ở khu vực Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới với sự đa dạng các chủng loại rau quả. Song gần đây, Thái Lan cũng bắt đầu tập trung vào các sản phẩm chế biến có giá trị cao. Một trong những sản phẩm đó là cà chua cô đặc. Năm 1991 sản lượng cà chua của Thái Lan đạt 171,9 ngàn tấn (Farming Japan Vol 31/5/1997) [48]. 2.2.2 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới Lịch sử công tác chọn tạo giống cà chua trên thế giới bắt đầu ở Châu Âu, và đã có những tiến bộ trong 200 năm trở lại đây. Những người Italia được cho là những người đầu tiên phát triển các giống cà chua mới, họ chọn các giống có sự khác nhau về tính trạng quả, chủ yếu là màu sắc quả. Năm 1836, 23 giống cà chua được giới thiệu, trong đó giống Trophy được coi là giống có chất lượng tốt nhất. Năm 1886, Liberti Hyde Bailey ở trường Nông nghiệp Michigan (Mỹ) đã bắt đầu tiến hành chương trình thử nghiệm chọn lọc phân loại giống cà chua trồng trọt. A.W. Livingston là một trong những người Mỹ đầu tiên nhận thức được việc phải chọn tạo giống cà chua. Từ năm 1870 đến năm 1893 ông đã giới thiệu 13 giống cà chua được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc cá thể. Năm 1900, Moore và Simon đã chọn tạo được giống cà chua “Xẻ khoan”. Tiếp đó, vào năm 1908, G.W.Midleton chọn được mẫu giống cà chua “Chân thiện mỹ” từ giống “Xẻ khoan”. Năm 1914, B.Geoft chọn được mẫu giống Cooper Specisl có loại hình sinh trưởng vô hạn, thích hợp cho việc trồng dày và sử dụng máy khi thu hoạch. Cũng vào năm 1914, các nhà khoa học đã phát hiện ra gen sp_gen xác định tập tính sinh trưởng hữu hạn ở giống Florida. Nhờ phát hiện ra loại gen này mà hàng loạt các tính trạng di truyền đơn giản đã được chú ý trong quá trình cải tiến giống và thay đổi kỹ thuật trồng, bên cạnh đó việc áp dụng gen sp trong quá trình lai tạo với mục đích giảm bớt công lao động cho việc tỉa cành. Đến cuối thế kỷ XIX, đã có trên 200 dòng, giống cà chua được giới thiệu rộng rãi (Theo Tạ Thu Cúc, 2000) [23]. Nhìn chung, trước năm 1925 việc cải tiến giống cà chua được thực hiện bằng cách chọn tạo các kiểu gen ngay từ bản thân các giống, từ các đột biến tự nhiên, lai tự do hoặc tái tổ hợp bản thân các biến thể di truyền tồn tại trong tự nhiên. Hiện nay các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu tạo ra giống cà chua chịu điều kiện nhiệt độ nóng ẩm ở các nước nhiệt đới. Vì nhiều công trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á (AVRDC) cho thấy những giống cà chua chọn tạo trong điều kiện ôn đới không thích hợp với điều kiện nóng ẩm vì sẽ tạo những quả kém chất lượng như màu đỏ nhạt, nứt quả, vị nhạt hoặc chua (Kuo và cs, 1998) [51]. Theo ý kiến của Anpachev (1978), Iorganov (1971), Phiên Kỳ Mạnh (1961) (dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998) [6] thì xu hướng chọn tạo giống cà chua mới là: + Tạo giống chín sớm phục vụ cho sản xuất vụ sớm + Tạo giống cho sản lượng cao, giá trị sinh học cao, dùng làm rau tươi và nguyên liệu cho chế biến đồ hộp. + Tạo giống chín đồng loạt thích hợp cho cơ giới hoá. + Tạo giống chống chịu sâu bệnh. Cho đến nay các nhà khoa học trên toàn thế giới vẫn đang tiếp tục tiến hành các nghiên cứu và thử nghiệm để tạo ra các giống cà chua mới nhằm đáp ứng cho sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của con người, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của con người. A. Một số nghiên cứu về giống cà chua quả nhỏ trên thế giới Nhiều nghiên cứu thử nghiệm giống cà chua quả nhỏ đã được tiến hành ở AVRDC-TOP, trường Đại học Kasetsart, phân viện Kamphaeng Saen, Thái Lan. Trong đó nhiều mẫu giống được đánh giá cao có chất lượng rất tốt kết hợp với đặc tính
Luận văn liên quan