Đề tài Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả

Trong thực tế hàng ngày, chúng ta bắt gặp rất nhiều hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, tuy chưa nguy hiểm đến mức bị coi là tội phạm nhưng cần được xử lý kịp thời để đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội. Những hành vi ấy được gọi chung là vi phạm hành chính. Trong thời buổi hiện nay, khi những vi phạm hành chính đang có chiều hướng gia tăng về số lượng với tính chất càng ngày càng phức tạp, thì yêu cầu cấp thiết là phải quy định một hệ thống hình phạt và biện pháp khắc phục hậu quả để áp dụng cho cá nhân hay tổ chức vi phạm sao cho phù hợp, hiệu quả, phát huy được tính răn đe, giáo dục, ngăn chặn đẩy lùi và phòng chống hiệu quả nhất. Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 đã quy định về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả.

doc10 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 01/06/2013 | Lượt xem: 1593 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả. MỞ ĐẦU Trong thực tế hàng ngày, chúng ta bắt gặp rất nhiều hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, tuy chưa nguy hiểm đến mức bị coi là tội phạm nhưng cần được xử lý kịp thời để đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội. Những hành vi ấy được gọi chung là vi phạm hành chính. Trong thời buổi hiện nay, khi những vi phạm hành chính đang có chiều hướng gia tăng về số lượng với tính chất càng ngày càng phức tạp, thì yêu cầu cấp thiết là phải quy định một hệ thống hình phạt và biện pháp khắc phục hậu quả để áp dụng cho cá nhân hay tổ chức vi phạm sao cho phù hợp, hiệu quả, phát huy được tính răn đe, giáo dục, ngăn chặn đẩy lùi và phòng chống hiệu quả nhất. Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 đã quy định về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả. NỘI DUNG I. Đánh giá tính hợp lí của các hình thức xử phạt vi phạm hành chính. 1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính. Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật) đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính. 2. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính thể hiện sự răn đe, trừng phạt của pháp luật đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước thông qua việc buộc người vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần, mang tính giáo dục đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt, góp phần nâng cao ý thức của công dân trong việc chấp hành pháp luật và các quy tắc quản lý nhà nước. Khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 12 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã quy định các hình thức xử phạt vi phạm hành chính: "1. Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền. 2. Tuỳ  theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ  chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: a) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. ... 4. Người nước ngoài vi phạm hành chính còn có thể bị xử  phạt trục xuất. Trục xuất được áp dụng là  hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể." 3. Đánh giá tính hợp lý của các quy định về hình thức xử phạt vi phạm hành chính: 3.1. Hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. v Cảnh cáo. Điều 13 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: “Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.” Ví dụ: Theo quy định khoản 1 Điều 11 Nghị định của chính phủ số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự thì hành vi trên bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng. Như vậy, người chưa đủ 16 tuổi thực hiện vi phạm hành chính này có thể bị xử phạt cảnh cáo với điều kiện: họ thực hiện vi phạm đó lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ. Điều này phù hợp với ý nghĩa của quy định là giáo dục nhiều hơn trừng phạt. Tuy nhiên, cảnh cáo thể hiện thái độ răn đe nghiêm khắc của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Hình thức xử phạt hành chính cảnh cáo là hình thức xử phạt mang tính giáo dục đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính; đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo không được coi là có án tích và không bị ghi vào lí lịch tư pháp. Do dó, vẫn mang tính cưỡng chế nhà nước, gây cho người bị xử phạt những tổn hại nhất định về mặt tinh thần. Thực tế, cái “tổn thất về mặt tinh thần” của mỗi người là khác nhau, nên hình phạt cảnh cáo có thực hiện được mục đích phòng ngừa vi phạm pháp luật hay không, vẫn là điều cần xem xét. Hình thức cảnh cáo ít được áp dụng trong thực tiễn xử phạt có nhiều lý do. Chủ yếu là ý thức pháp luật của mọi người chưa cao và tình trạng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ áp dụng chế tài nên dẫn đến tình trạng cảnh cáo ít được áp dụng và áp dụng không đúng. Một số người có thẩm quyền phạt nặng người vi phạm hành chính ngay cả khi chỉ đáng phạt cảnh cáo. Về đối tượng áp dụng là tổ chức: người đại diện khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của tổ chức thường có nhận thức tốt, thậm chí rất am hiểu về pháp luật trong hoạt động của mình, nên áp dụng hình thức cảnh cáo có mức độ tác động thấp đối với tổ chức là không tương xứng. v Phạt tiền. Phạt tiền là hình thức xử phạt hành chính được quy định tại Điều 14 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 có qui định: mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 10.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hình thức phạt tiền là biện pháp cưỡng chế hành chính được quy định sớm nhất trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta, được áp dụng đối với hầu hết các loại vi phạm hành chính. Hình thức này đóng vai trò chủ yếu trong trong hệ thống các hình thức xử phạt hành chính. Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đối với người vi phạm phải trong khung phạt cụ thể được văn bản pháp luật quy định cho loại vi phạm đã thực hiện theo cách: Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt. Điều này là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, đảm bảo mức phạt không quá cao, cũng không quá thấp để mọi người không tuân thủ theo pháp luật. Mức phạt này cũng được điều chỉnh liên tục kể từ năm 1989 cho phù hợp với tình hình đất nước. Khoảng cách quá lớn giữa mức phạt tối đa và tối thiểu làm ta tưởng nhầm đó là điều vô lý, nhưng thực tế, vi phạm hành chính rất đa dạng diễn ra trên mọi lĩnh vực với tính chất, mức độ khác nhau nên quy định như vậy là phù hợp. Phạt tiền là biện pháp tác động có mức độ nghiêm khắc cao hơn so với cảnh cáo. 3.2. Hình thức xử phạt bổ sung. v Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Đây là việc người có thẩm quyền xử phạt quyết định áp dụng biện pháp tịch thu để sung vào công quỹ nhà nước các tài sản, vật dụng, hàng hóa tiền bạc…dùng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc do vi phạm hành chính mà có. Thẩm quyền, thủ tục tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được pháp luật quy định cụ thể. Hình thức xử phạt này đã tước bỏ quyền sở hữu đối với tài sản của người vi phạm và chuyển sang sở hữu nhà nước. Điều này đã hạn chế khả năng tiếp tục vi phạm hành chính của tổ chức, cá nhân. Vì đã làm ảnh hưởng đến lợi ích vật chất của người vi phạm hành chính. Quy định của pháp luật còn chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp về tài sản cho người chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng hợp pháp khi họ không có lỗi. Tuy nhiên, chưa có quy định về việc mức tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Trong thực tế, ta thấy hình thức tịch thu đang bị vận dụng tùy tiện, dẫn đến tình trạng kiện cáo, gây hoang mang trong nhân dân. v Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Hình thức xử phạt được áp dụng khi có đủ hai điều kiện sau: Văn bản pháp luật về xử phạt hành chính quy định có thể áp dụng biện pháp xử phạt này đối với vi phạm hành chính cụ thể nào đó; Cá nhân, tổ chức đã có hành vi trực tiếp vi phạm quy tắc sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Pháp luật quy định rõ ai có thẩm quyền được quyền sử dụng những loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề nào. Trong thời gian bi tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tổ chức, cá nhân vi phạm không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Đây là hình thức xử phạt bổ sung nhưng hình thức xử phạt này rất nghiêm khắc. Do ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất, uy tín của người vi phạm hành chính. Do đó, hình thức xử phạt này mang lại hiệu quả lớn và ngăn ngừa vi phạm hành chính. Hình thức trên có thể được áp dụng cùng với hình thức phạt chính như cảnh cáo hay phạt tiền. Mặc dù là hình thức xử phạt bổ sung nhưng nó rất nghiêm khắc, trong khi phạt cảnh cáo chỉ áp dụng với các vi phạm nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ. Như vậy, ta thấy chưa hợp lý, cần có sự điều chỉnh trong pháp lệnh. v Trục xuất. Trục xuất là buộc người có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất vừa là hình thức phạt chính vừa là hình thức phạt bổ sung. Trục xuất là hình thức phạt độc lập hoặc áp dụng cùng với hình thức phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Ngoài mục đích trừng phạt, răn đe người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam, quy định này còn ngăn ngừa khả năng tiếp tục vi phạm pháp luật của người nước ngoài đó trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy vậy, trục xuất là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm, có thể làm ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế và giữa các quốc gia, nên pháp luật quy định thẩm quyền quy định thủ tục trục xuất thuộc về Chính phủ và thẩm quyền quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thuộc về Bộ trưởng bộ công an là hợp lý, phù hợp với tính chất quan trọng của vấn đề. II. Đánh giá tính hợp lý của các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính. Trong nhiều trường hợp ngoài việc bị áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính như đã nêu trên, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Về mặt bản chất, biện pháp cưỡng chế hành chính này không có tính trừng phạt người vi phạm hành chính mà chỉ nhằm mục đích khắc phục những hậu quả do vi phạm hành chính đã để lại trên thực tế. Các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Khoản 3 điều 12 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 2002 quy định: "3. Ngoài các hình thức xử phạt được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép; b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra; c) Buộc  đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện; d) Buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hoá phẩm độc hại; đ) Các biện pháp khác do Chính phủ quy định". v Các biện pháp này bao gồm: (1). Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo đỡ công trình xây dựng trái phép. Quy định này buộc cá nhân, tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính dẫn đến những thay đổi so với tình trạng ban đầu của sự vật thì phải tự mình bằng mọi cách đưa sự vật trở lại trạng thái ban đầu. Việc tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép chủ yếu để khắc phục hậu quả những vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng. Trong thực tế, việc áp dụng quy định trên hoàn toàn cần thiết nhằm đảm bảo giữ gìn cơ sở vật chất quốc gia, trật tự quản lý nhà nước, để đảm bảo khi vi phạm xảy ra không những phải có biện pháp xử phạt răn đe. Đồng thời, phải khắc phục hậu quả đã xảy ra, khôi phục tình trạng ban đầu. (2). Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra. Xã hội ngày càng phát triển, nhưng ý thức của người dân cũng như các tổ chức lại không hề cao trong vấn đề giữ gìn bảo vệ môi trường mình đang sống và làm việc. Ví dụ, năm 2009 đã nổi lên những vụ việc phức tạp gây bức xúc trong nhân dân như việc công ty Vedan xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vải, mức độ ô nhiễm đáng báo động ở sông Trà, cũng đã gây ra tình trạng nghiêm trọng về môi trường Việc pháp luật quy định các biện pháp khắc phục khi làm ô nhiễm môi trường hay lây lan dịch bệnh là hoàn toàn cần thiết, nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe lợi ích cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái chung. Tùy trường hợp cụ thể, người có thẩm quyền sẽ quyết định biện pháp thích hợp và có hiệu quả nhất. (3). Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện. Biện pháp này được áp dụng chủ yếu trong quá trình xử lý các vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan hoặc lĩnh vực có liên quan đến xuất nhập khẩu. Khi có sự vi phạm, công việc này là cần thiết: nhập khẩu trái phép thì bị đưa ra khỏi lãnh thổ, nếu hàng tạm nhập tái xuất mà không tái xuất thì bị buộc tái xuất. Biện pháp này đảm bảo cho sự ổn định của thị trường, không gây hoang mang lo lắng cho người dân và giữ vững sự quản lý của nhà nước trong mọi lĩnh vực. Chỉ bằng cách đưa ra khỏi lãnh thổ hay tái xuất những hàng hóa, vật phẩm, phương tiện này thì mới bảo đảm những điều nêu trên. (4). Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và văn hóa phẩm độc hại. Biện pháp này chủ yếu được áp dụng để khắc phục những hậu quả do vi phạm hành chính trong các lĩnh vực liên quan đến việc kinh doanh những sản phẩm liên quan đến con người như thuốc chữa bệnh, thực phẩm, văn hóa… Biện pháp này trên thực tế đã được chứng minh là cần thiết để bảo vệ những giá trị về sức khỏe, cuộc sống vật chất và những giá trị về mặt tinh thần chung của cộng đồng. Để bảo vệ con người, vật nuôi, cây trồng khỏi những tác động nguy hại của những vật, sản phẩm là tang vật của vi phạm hành chính, pháp luật quy định tang vật này phải được tiêu hủy là hoàn toàn cần thiết. Cũng như vậy, văn hóa phẩm độc hại cũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần của nhân dân, truyền thống văn hóa dân tộc, nên phải bị tiêu hủy. Tiêu hủy nhằm mục đích ngăn chặn sự phát tán ra cộng đồng những sản phẩm này một lần nữa. (5). Các biện pháp khác do Chính phủ quy định. Do pháp luật không thể dự liệu hết và đặt ra toàn bộ những biện pháp khắc phục hậu quả của mọi vi phạm hành chính nên nhằm khắc phục những lỗ hổng của pháp luật. Do đó, Pháp lệnh 2002 đã đặt ra quy định về vấn đề này. III. Thực trạng trong việc áp dụng các hình thức xử phạt hành chính và một số phương hướng cần khắc phục. 1. Đánh giá. Ÿ Vi phạm hành chính sẽ không bị xử phạt nếu quá thời hạn 3 tháng, 1 năm, 2 năm đối với vi phạm tương ứng, kể từ ngày vi phạm được thực hiện. Như vậy, quá thời hạn trên, các chế tài khôi phục sẽ không được áp dụng nếu vi phạm không bị phạt. Đây là điểm đáng lưu ý, vì tùy từng trường hợp mà áp dụng thời gian xử phạt. Ÿ Với chế tài phạt, nếu quá thời hạn nhất định ( được pháp luật quy định) mà vẫn tiến hành xử phạt thì việc xử phạt ấy không còn ý nghĩa phòng ngừa vi phạm nữa. Dù thời hạn có quá thì vẫn phải ra quyết định xử phạt để nâng cao tính nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm hành chính. Nếu chỉ buộc khôi phục hậu quả thì là quá nhẹ. Ÿ Cho nên pháp luật cần quy định các chế tài khôi phục hành chính có thể được áp dụng độc lập trong các trường hợp quá hạn xử phạt, mà việc không áp dụng chúng sẽ làm cho quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ vẫn đang ở trạng thái bị vi phạm. Đó cũng là điểm khác của chế tài khôi phục so với chế tài phạt. Ÿ Còn những lĩnh vực quản lí nhà nước chưa có quy định cụ thể về xử phạt. Quy định xử phạt đối với tổ chức, cá nhân, người nước ngoài chưa cụ thể. Thẩm quyền xử phạt, tạm giữ, khám phương tiện của một số cơ quan quy định chưa phù hợp. 2. Thực trạng trong việc áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính. Ÿ Hiện nay vẫn còn tồn tại xu hướng muốn phạt nặng người vi phạm, ngay cả khi vi phạm chỉ đáng phạt cảnh cáo. Hình thức phạt cảnh cáo vẫn được áp dụng khá phổ biến đối với các vi phạm trong lĩnh vực trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông. Ngày nay, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, vai trò của hình thức xử phạt cảnh cáo càng lớn và mang tính phổ biến và đạt được mục đích áp dụng của hình thức xử phạt chính là mục đích phòng ngừa vi phạm pháp luật. Ÿ Pháp luật hiện hành quy định việc xử phạt vi phạm hành chính chỉ áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên. Song thực tế, số lượng vi phạm hành chính do người chưa thành niên thực hiện rất phổ biến là ở độ tuổi từ 11 tuổi đến 12 tuổi trở lên. Mặc dù, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính có quy định việc áp dụng các biện pháp giáo dục đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Nhưng đối với các đối tượng từ 12 tuổi đến 14 tuổi trở lên thì biện pháp giáo dục đó không có hiệu quả cao. Đồng thời làm hạn chế phần nào trách nhiệm giám sát người chưa thành niên của cha mẹ, người giám hộ. Ÿ Thực tế quy định áp dụng tiền phạt thu được phải nộp vào ngân sách nhà nước bộc lộ nhiều điểm bất hợp lí, gây khó khăn phiền hà cho người bị xử phạt. Sự bất hợp lý còn thực hiện ở khâu tổ chức việc thu tiền phạt. Đồng thời, không hạn chế được tiêu cực nảy sinh. Nhiều trường hợp người bị xử phạt tiền phạt và người có thẩm quyền xử phạt thỏa thuận với nhau. Người vi phạm đưa tiền cho người xử phạt mà không cần biên lai để khỏi phải đi nộp tiền phạt. Hiện tượng tiêu cực này vừa làm thất thu ngân sách nhà nước vừa làm tha hóa biến chất cán bộ nhà nước. Pháp luật không được thi hành nghiêm chỉnh, người phải đưa tiền cho người xử phạt hầu như không bao giờ khiếu nại, tố cáo. Do đó, đã hạn chế quyền dân chủ của công dân. Việc người vi phạm phải nộp tiền tại kho bạc chỉ ra nhiều bất cập. Vi phạm hành chính xảy ra thường xuyên, không kể ban ngày hay ban đêm còn kho bạc nhà nước chỉ làm việc theo thời gian nhất định và không phải địa bàn nào cũng có kho bạc nhà nước. Ÿ Những hạn chế trên do những nguyên nhân khác nhau như do: khiếm khuyết trong quá trình soạn thảo văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính; điều kiện kinh tế xã hội thay đổi;… 3. Một số phương hướng cần khắc phục. Ÿ Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính cần xuất phạt từ thực tế xã hội. Khi xây dựng cần đặt ra mục đích là giáo dục, phòng ngừa, răn đe, phải nghiêm khắc để người vi phạm không tái phạm lần nữa. Không nên áp đặt ý chí chủ quan của nhà làm luật mà nên xem xét liệu có phù hợp với đời sống xã hội. Ÿ Các hình phạt cũng không quá nặng hay quá nhẹ.Quá nặng sẽ mang tính hà khắc, trừng phạt hơn là giáo dục. Nếu quá nghiêm khắc thì sẽ gây ra sự phản ứng mạnh mẽ của người dân. Tuy nhiên, nếu quá nhẹ thì dẫn đến tình trạng không tuân thủ pháp luật, coi thường pháp luật nên ngày càng nhiều vi phạm nghiêm trọng hơn. Ÿ Phải đảm bảo sự thống nhất của hệ thống các chế tài hành chính về mặt bên trong và mặt bên ngoài. Về mặt bên trong, phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, giáo dục đi đôi với tính răn đe, kết hợp thuyết phục và cưỡng chế. Về mặt bên ngoài, các quy định của pháp luật không được mâu thuẫn nhau, tránh sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật với nhau. Ÿ Những quy định về các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả phải có khả năng áp dụng, xử lý linh hoạt đối với các vi phạm hành chính đa dạng xảy ra trong đời sống xã hội. Nhưng phải tránh áp dụng tùy tiện gây khó khăn cho nhân dân. Ÿ Giữa chế tài hành chính và chế tài hình sự phải xác định rõ ràng, tránh sự nhầm lẫn, đảm bảo mục đích của từng loại chế tài tương ứng với tính chất mức độ của các loại vi phạm. Ÿ Cần phải bổ sung các quy định pháp luật về xử lý vi phạm trong từng loại lĩnh vực, Do mỗi lĩnh vực khác nhau thì việc xử phạt cũng phải khác nhau. Quy định chặt chẽ về thẩm quyền áp dụng để tránh tình trạng lạm dụng quyền hạn để xử phạt sai thẩm quyền của mình. Ÿ Thực tế có nhiều người vi phạm nhưng không có tiền hoặc không coi việc phạt tiền ra gì thì phạt tiền và cảnh cáo không có tác dụng giáo dục, răn đe. Có thể bổ sung biện pháp phạt lao động công ích và phạt gi
Luận văn liên quan