Đề tài Đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

Kể từ khi thành lập cho đến nay công tác đào tạo các chức danh tư pháp nói chung và công tác đào tạo chức danh Thẩm phán nói riêng của Học viện Tư pháp đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Học viên Tư pháp đã không ngừng nâng cao trình độ của các giảng viên, hoàn thiện chương trình, đổi mới phương pháp, tăng cường cơ sở vất chất để đào tạo và cung cấp cho ngành tòa án những cán bộ có trình độ chuyên môn, có năng lực trong hoạt động xét xử. Tuy vậy, trong quá trình nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế, với chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhiều vấn đề, nhiều yêu cầu mới đang được đặt ra trước mắt cũng như lâu dài. Trong quá trình hoạt động của mình các Thẩm phán được đào tạo trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành công nhưng khi đối mặt với những đòi hỏi của quá trình cải cách tư pháp hiện nay thì đội ngũ thẩm phán của chúng ta chưa đáp ứng được. Tình trạng xét xử oan, sai tuy không nhiều nhưng vẫn còn, nhiều vấn đề liên quan đến xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài, sỡ hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, các loại tội phạm hình sự xuyên quốc gia, hầu như còn mới lạ, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử đối với nhiều thẩm phán đã được đào tạo còn hạn chế. Điều đó cho thấy đội ngũ thẩm phán đã được đào tạo chưa đủ năng lực để đối mặt với những thách thức mới. Trong bối cảnh đó, việc đào tạo được một đội ngũ thẩm phán có trình độ, có năng lực toàn diện và phẩm chất tốt để giải quyết tốt những yêu cầu xét xử của ngành tòa án do công cuộc cải cách tư pháp đặt ra trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế là một yêu cầu vô cùng bức xúc. Đội ngũ thẩm phán có trình độ, năng lực phục vụ cho công cuộc cải cách tư pháp phải là những người có kiến thức về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, làm chủ các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, có phẩm chất đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ chức danh tư pháp nói chung và đội ngũ thẩm phán nói riêng. Đồng thời đặt ra mục tiêu phải đào tạo: “Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ, tiến tới thi tuyển đối với một số chức danh” [2]. Công cuộc cải cách tư pháp của nước ta hiện nay đòi hỏi Học viên Tư pháp phải đào tạo một đội ngũ thẩm phán có trình độ, năng lực đủ khả năng xét xử các vụ án và giải quyết các vấn đề quan trọng khác của ngành tòa án trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài. Tuy vậy việc đào tạo đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu của công cuộc cuộc cách tư pháp hiện nay ở nước ta không đơn giản. Cần phải tìm hiểu những vấn đề thuộc về phẩm chất và năng lực của đội ngũ thẩm phán, xác định các tiêu chí theo yêu cầu của cải cách tư pháp, cũng như cách thức để đạt được các tiêu chí đó. Việc này đòi hỏi sự nghiên cứu, tìm hiểu cả về lý luận và thực tiễn. Nhất là nghiên cứu quy trình đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp, tìm ra cách thức khắc phục những khiếm khuyết của quy trình đó. Dựa vào các tiêu chí, đề xuất những giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm đào tạo đội ngũ thẩm phán đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Trên quan điểm quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp quyền về cải cách hệ thống cơ quan tư pháp, quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục. Những vấn đề trên đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu đề tài: “Đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”.

doc83 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 02/08/2013 | Lượt xem: 1989 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO THẨM PHÁN THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM 6 1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo thẩm phán 6 1.2. Yêu cầu của cải cách tư pháp đối với công tác đào tạo thẩm phán ở nước ta hiện nay 24 1.3. Đào tạo thẩm phán ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm 30 Chương 2: TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN VÀ THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THẨM PHÁN CỦA HỌC VIỆN TƯ PHÁP GIAI ĐOẠN 1998-2008 38 2.1. Tình hình số lượng, chất lượng đội ngũ thẩm phán hiện nay 38 2.2. Thực trạng đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp 41 2.3. Kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân trong công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp 46 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO THẨM PHÁN THEO YÊU CẦU CÁI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 58 3.1. Quan điểm đổi mới công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay 58 3.2. Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp ở Việt Nam hiện nay 62 KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79  DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Trang Bảng 2.1: Về số lượng thẩm phán tham gia giảng dạy các lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử 45 Bảng 2.2: Về học hàm, học vị của giảng viên 46 Bảng 2.3: Về tỷ lệ giảng dạy 46 Bảng 2.4: Thống kê số lượng đào tạo thẩm phán từ 2004-2008 48 Biểu đồ 2.1: Đào tạo thẩm phán 1998-2008 47 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kể từ khi thành lập cho đến nay công tác đào tạo các chức danh tư pháp nói chung và công tác đào tạo chức danh Thẩm phán nói riêng của Học viện Tư pháp đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Học viên Tư pháp đã không ngừng nâng cao trình độ của các giảng viên, hoàn thiện chương trình, đổi mới phương pháp, tăng cường cơ sở vất chất…để đào tạo và cung cấp cho ngành tòa án những cán bộ có trình độ chuyên môn, có năng lực trong hoạt động xét xử. Tuy vậy, trong quá trình nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế, với chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhiều vấn đề, nhiều yêu cầu mới đang được đặt ra trước mắt cũng như lâu dài. Trong quá trình hoạt động của mình các Thẩm phán được đào tạo trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành công nhưng khi đối mặt với những đòi hỏi của quá trình cải cách tư pháp hiện nay thì đội ngũ thẩm phán của chúng ta chưa đáp ứng được. Tình trạng xét xử oan, sai tuy không nhiều nhưng vẫn còn, nhiều vấn đề liên quan đến xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài, sỡ hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, các loại tội phạm hình sự xuyên quốc gia, hầu như còn mới lạ, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử đối với nhiều thẩm phán đã được đào tạo còn hạn chế. Điều đó cho thấy đội ngũ thẩm phán đã được đào tạo chưa đủ năng lực để đối mặt với những thách thức mới. Trong bối cảnh đó, việc đào tạo được một đội ngũ thẩm phán có trình độ, có năng lực toàn diện và phẩm chất tốt để giải quyết tốt những yêu cầu xét xử của ngành tòa án do công cuộc cải cách tư pháp đặt ra trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế là một yêu cầu vô cùng bức xúc. Đội ngũ thẩm phán có trình độ, năng lực phục vụ cho công cuộc cải cách tư pháp phải là những người có kiến thức về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, làm chủ các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, có phẩm chất đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ chức danh tư pháp nói chung và đội ngũ thẩm phán nói riêng. Đồng thời đặt ra mục tiêu phải đào tạo: “Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ, tiến tới thi tuyển đối với một số chức danh” [2]. Công cuộc cải cách tư pháp của nước ta hiện nay đòi hỏi Học viên Tư pháp phải đào tạo một đội ngũ thẩm phán có trình độ, năng lực đủ khả năng xét xử các vụ án và giải quyết các vấn đề quan trọng khác của ngành tòa án trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài. Tuy vậy việc đào tạo đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu của công cuộc cuộc cách tư pháp hiện nay ở nước ta không đơn giản. Cần phải tìm hiểu những vấn đề thuộc về phẩm chất và năng lực của đội ngũ thẩm phán, xác định các tiêu chí theo yêu cầu của cải cách tư pháp, cũng như cách thức để đạt được các tiêu chí đó. Việc này đòi hỏi sự nghiên cứu, tìm hiểu cả về lý luận và thực tiễn. Nhất là nghiên cứu quy trình đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp, tìm ra cách thức khắc phục những khiếm khuyết của quy trình đó. Dựa vào các tiêu chí, đề xuất những giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm đào tạo đội ngũ thẩm phán đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Trên quan điểm quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp quyền về cải cách hệ thống cơ quan tư pháp, quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục. Những vấn đề trên đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu đề tài: “Đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Từ lâu công tác đào tạo thẩm phán đã được quan tâm và coi trọng nhằm đảm bảo xây dựng được một đội ngũ thẩm phán có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp. Đào tạo thẩm phán đã được nghiên cứu trong đào tạo các chức danh tư pháp nói chung của Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và một số nhà khoa học khác, có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau: * Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Trường: + Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: - Đào tạo thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao, (2004) - Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng môn đạo đức nghề nghiệp tư pháp cho các chức danh tư pháp, (2004). - Đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam, (2006). - Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương, (2007). - Cơ sở lý luận thực tiễn xây dựng tập hệ thống hóa các vụ án điển hình dùng làm tài liệu cho công tác đào tạo các chức danh tư pháp, (2008). - Hoàn thiện phương pháp đào tạo các chức danh tư pháp, (2009). + Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: - Xây dựng chương trình đào tạo kiểm sát viên – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, (2004). - Đào tạo các chức danh tư pháp phục vụ công cuộc cải cách tư pháp, (2006). * Đề án xây dựng Học viên Tư pháp ngày 11/8/2003 - Luận án Tiến sĩ Luật học: Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán của NCS Đỗ Gia Thư, năm 2006 - Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay TS Trần Đình Thắng – NXBCTQG, năm 2009. Nội dung nghiên cứu của các công trình trên đây đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn quan trọng về đào tạo các các chức danh tư pháp nhưng chưa luận chứng một cách toàn diện cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất phương hướng giải pháp về đào tạo thẩm phán - Một chức danh đặc thù, có vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Mặc dù vậy các công trình khoa học đã được công bố trên sẽ là những tài liệu có giá trị nghiên cứu khi viết luận văn này. 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 4. Mục đích và nhiêm vụ nghiên cứu Đề tài đặt ra mục đích xác định một số nguyên nhân chủ yếu đã dẫn đến tình trạng hạn chế trong công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp, trên cơ sở đó phát hiện, tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng hiệu quả của công tác đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp theo yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài đã đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau: - Phân tích cơ sở lý luận và đánh giá vai trò công tác đào tạo thẩm phán của Học viên Tư pháp ở Việt Nam hiện nay. - Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp, qua đó chỉ ra những hạn chế bất cập cần khắc phục và tìm ra những nguyên nhân của những của hạn chế đó. - Đề xuất các giải pháp đổi mới công tác đào tạo thẩm phán của Học viện Tư pháp theo yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Để thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và nhà nước về đào tạo chức danh tư pháp trong đó có đào tạo thẩm phán, về cải cách tư pháp Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, trong đó các phương pháp sử dụng chủ yếu là: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn …Tuy nhiên do tính chất của từng chương, từng phần của luận văn mà có thể sử dụng một trong các phương pháp trên làm chủ đạo. Trong chương 1, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp; chương 2 và chương 3, phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phương pháp thống kê, so sánh… 6. Những điểm mới của luận văn - Góp phần hệ thống hoá các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đào tạo thẩm phán. - Đánh giá đúng thực trạng chất lượng đào tạo thẩm phán ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thẩm phán theo yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp, ở Việt Nam hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 10 tiết. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO THẨM PHÁN THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO THẨM PHÁN 1.1.1. Khái niệm đào tạo và đào tạo thẩm phán 1.1.1.1. Khái niệm đào tạo Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [34, tr.739]. Từ định nghĩa giáo dục trên cho thấy về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất, nhân cách. Khác với giáo dục, Đào tạo là “làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [34, tr.298]. Đào tạo được xem là quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo..một cách hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định. Như vậy khái niệm “đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định” [35]. Đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống, thông qua việc học tập, việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch. Ủy ban nhân lực Anh đã đưa ra định nghĩa: Đào tạo được xác định là một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó. Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở cơ quan là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan [28, tr.529]. Từ phân tích các quan niệm khác nhau về đào tạo trên cho thấy, đào tạo có các đặc điểm sau: - Đào tạo là một quá trình học tập có hệ thống, được tổ chức theo một quy trình cụ thể, với những bước đi thích hợp, có nội dung chương trình và yêu cầu đặt ra đối với giảng viên, học viên theo từng giai đoạn, được đánh giá qua các bài giảng, sự tiếp thu, các bài kiểm tra, thi tốt nghiệp... - Các yếu tố của quá trình đào tạo tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Tạo nên một sự biến đổi về chất sau quá trình học tập của người học. Giúp cho người học không những nâng cao trình độ, năng lực đáp ứng được yêu cầu đặt ra mà còn trang bị những phương pháp, kỹ năng tạo nền móng để tiếp tục tiếp thu, vận dụng những kiến thức mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của nhân loại. Hay nói một cách cụ thể đào tạo nhằm các mục tiêu sau: phát triển năng lực và nâng cao khả năng làm việc thực tế của người được đào tạo; giúp cho họ luôn phát triển để họ có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực trong tương lai của tổ chức; giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới, do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm. 1.1.1.2. Khái niệm đào tạo Thẩm phán Ở Việt Nam thẩm phán là ngạch công chức thuộc cơ quan tòa án, đồng thời thẩm phán cũng là một Chức danh nhà nước, trong hệ thống cơ quan tư pháp. Theo từ điển tiếng việt Chức danh của cán bộ công chức là tên gọi thể hiện cấp bậc, quyền hạn, nhiệm vụ, của mỗi công chức. Trong khoa học pháp lý thường sử dụng thuật ngữ chức danh tư pháp để chỉ những người có chức vụ quyền hạn trong hoạt động tố tụng. Theo đó “chức danh tư pháp” là “tên gọi thể hiện vị trí chuyên môn, cấp bậc, chức năng đặc thù công việc của những người thường xuyên và trực tiếp tiến hành hoạt động tư pháp” [22, tr.18]. Thẩm phán là chức danh tư pháp thể hiện vị trí chuyên môn, cấp bậc, quyền hạn nhiệm vụ trong hệ thống tòa án nhân dân các cấp. Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm nhân dân 2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền Tòa án”. Như vậy khái niệm thẩm phán “dùng để chỉ những người làm công việc xét xử chuyên nghiệp, được tuyển chọn theo một quy trình chặt chẽ, làm việc thường xuyên trong cơ quan tòa án, thực hiện nhiệm vụ xét xử nhân danh nhà nước” [22, tr.22]. Xét xử là hoạt động áp dụng pháp luật. Các Mác đã khẳng định: Đối với thẩm phán thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp. Thẩm phán có trách nhiệm giải thích luật pháp trong việc vận dụng vào từng trường hợp cá biệt, đúng như ông ta hiểu luật pháp khi xem xét nó một cách có lương tri…Thẩm phán độc lập không thuộc về tôi cũng không thuộc về chính phủ. Thẩm phán xem xét hành động của tôi, trên cơ sở một đạo luật nhất định [17, tr.137]. Áp dụng pháp luật là hoạt động phức tạp, ở đây không phải là cứng nhắc mà là một quá trình tư duy sáng tạo, phải huy động tổng thể những hiểu biết cả về pháp luật và những hiểu biết tổng hợp về xã hội, con người để đưa ra phán quyết hợp với lẽ phải, sự công bằng. Xuất phát từ tính chất khó khăn phức tạp và yêu cầu đạt đến độ chính xác cao của hoạt động xét xử, pháp luật quy định “khi tiến hành xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [19, tr.9]. Nguyên tắc này xác định trách nhiệm của thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh, không bị tác động từ bên ngoài, không bị tình cảm cá nhân và quyền lợi riêng tư ảnh hưởng đến việc xét xử. Thẩm phán chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Các phán quyết của thẩm phán thể hiện trực tiếp thái độ của nhà nước đối với các vụ án cụ thể, phản ánh trực tiếp và sâu sắc bản chất của pháp luật, bản chất nhà nước. Ở đó con người tìm thấy lẽ công bằng, tính nhân đạo, pháp luật vì con người, cho con người, đề cao quyền con người trở thành hiện thực. Qua đó cho thấy hoạt động xét xử của thẩm phán có vai trò rất lớn. Trước hết sự ổn định của trật tự pháp luật trong nước, việc giữ vững kỷ cương của xã hội, sự tự do và an toàn của con người…Việc xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, không những có tác dụng trừng trị, giáo dục cải tạo các phần tử phạm tội mà còn góp phần ngăn chặn phòng ngừa các ảnh hưởng tiêu cực đối với nhà nước và xã hội. Với vai trò là người trực tiếp áp dụng pháp luật, là nhân tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của ngành tòa án, do vậy một người để được bổ nhiệm vào chức danh thẩm phán trước tiên phải có đủ tiêu chuẩn cán bộ công chức. Tiêu chuẩn cán bộ công chức là những quy định làm căn cứ tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức. Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê nin thì tiêu chuẩn của người cán bộ phải hội tụ của hai yếu tố phẩm chất đạo đức và tri thức năng lực hoặc như Hồ Chủ Tịch thường nói ngắn gọn “có đức có tài”. Ngoài ra người đó phải có các tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng với chức danh khi tuyển dụng. Tiêu chuẩn để được bổ nhiệm thẩm phán là: Công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao...[24, tr.49]. Từ việc phân tích khái niệm thẩm phán và quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm thẩm phán như trên, đã phản ánh mục đích của việc đào tạo thẩm phán. Đào tạo thẩm phán, là một mô hình đào tạo mới ở Việt Nam. Đây có thể được xem là mô hình đào nghề đặc thù – nghề luật. Một nghề đòi hỏi người đó phải có trình độ chuyên môn pháp lý cao, có kiến thức xã hội sâu rộng, có năng lực xét xử, có đạo đức trong sáng, có lập trường chính trị và bản lĩnh vững vàng. Với tính chất nghề “là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội” [35] thì mục tiêu xuyên suốt của đào tạo thẩm phán là một quá trình trang bị hệ thống và toàn diện kỹ năng nghề nghiệp cơ bản nhất, để học viên hội đủ các tiêu chuẩn không chỉ về chuyên môn nghiệp vụ mà cả về phẩm chất, nhân cách có thể đảm đương được nhiệm vụ xét xử các vụ án, và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền Tòa án sau khi được bổ nhiệm. Quá trình đó không những phát triển có hệ thống, có phương pháp, các tri thức khoa học pháp lý, học viên đã được đào tạo và rèn luyện trước đó, mà còn tạo nền móng để tiếp tục tiếp thu, vận dụng những kiến thức mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Từ các phân tích trên có thể định nghĩa: đào tạo thẩm phán là một quá trình trang bị hệ thống và toàn diện kỹ năng nghiệp vụ xét xử và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, nguồn để bổ nhiệm vào chức danh thẩm phán của ngành tòa án. Tóm lại: với tư cách là một mô hình đào tạo nghề, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn lực cho thực tiễn, nên ngoài sự kế thừa các vấn đề cơ bản của quá trình đào tạo chung như: mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện, đội ngũ giảng viên, thì trong quá trình đào tạo thẩm phán còn phải cụ thể hóa mục đích chung vào điều kiện riêng và gắn việc đào tạo của nhà trường phù hợp với đặc điểm của hoạt động xét xử, phục vụ có hiệu quả cho sự phát triển của ngành tòa án và xã hội. 1.1.2. Đặc điểm của đào tạo thẩm phán Từ khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản sau đây về đào tạo thẩm phán. Thứ nhất: Đào tạo thẩm phán là đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận để bổ nhiệm thẩm phán, làm nhiệm vụ xét xử. Đó là quá trình nâng cao trình độ, phương pháp, kỹ năng ngh
Luận văn liên quan