Đề tài Giải pháp phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng tại thành phố Hồ Chí Minh

Trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được những thành quả vô cùng to lớn, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân, về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học- kĩ thuật ngày càng phát triển. Riêng trong lĩnh vực kinh tế, nước ta đã đạt được nhiều thắng lợi to lớn như: nền kinh tế trong nước ngày càng phát triển về chất và lượng, tham gia các tổ chức quốc tế về kinh tế như WTO, tham gia giao dịch với nhiều quốc gia trên thế giới, mở rộng giao thương trên quy mô toàn cầu.Từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nâng cao sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam. Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế với sự thừa nhận đa hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh. Với các thuộc tính: tự do, năng động, sáng tạo, nhạy bén của nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều cơ hội, nhiều nguồn lợi cũng như thách thức cho cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh, tham gia vào hoạt động của nền kinh tế thị trường đó. Ngân sách nhà nước là nguồn vật chất quan trọng quyết định mọi hoạt động nhằm quản lý, tổ chức sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế nước nhà. Một trong những nguồn thu chính của ngân sách nhà nước là thuế. Mà trên lĩnh vực kinh tế thì các loại thuế là nguồn đóng góp vô cùng lớn cho ngân sách nhà nước, các loại thuế này do các cá nhân, tổ chức kinh doanh đóng góp. Từ những đóng góp thuế trên không chỉ ngân sách nhà nước được tăng cường mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế, đem lại nhiều nguồn lợi cho cả Nhà nước và nhân dân. Một trong những loại thuế trong lĩnh vực kinh tế có lợi ích cho ngân sách nhà nước, có tính kính thích mở rộng sản xuất kinh tế. Đó là thuế giá trị gia tăng. Sau vài năm thực hiện luật thuế giá trị gia tăng đã đi vào cuộc sống, được đa số các doanh nghiệp thực hiện. Với những ưu điểm của thuế giá trị gia tăng như: kích thích hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước, bảo vệ hàng hoá trong nước, thu lợi cho ngân sách nhà nước, loại bỏ những bất cập sơ hở của Thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng khi được áp dụng vẫn không làm tăng giá cả hàng hoá đã mang lại nhiều lợi ích rất thiết thực cho đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm nêu trên, trong quá trình thực hiện thuế giá trị gia tăng nói chung và chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng nói riêng đã và đang bộc lộ những khoảng hở lớn mà một số cá nhân, doanh nghiệp lợi dụng nhằm chiếm đoạt tiền ngân sách nhà nước. Lợi dụng những vấn đề còn chưa được chặt chẽ của luật thuế giá trị gia tăng, cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng cũng như trong công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, nhiều doanh nghiệp đã khai khống hồ sơ, hóa đơn chứng từ, rút tiền ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Như vậy, có thể thấy rằng ngày càng xuất hiện nhiều loại tội phạm liên quan đến vấn đề hoàn thuế giá trị gia tăng. Nhưng trong luật pháp nước ta vẫn chưa có một điều luật nào qui định rõ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, từ đó chưa tạo được cơ sơ pháp lý trong việc xử lý loại tội phạm này. Với đặc điểm của một thành phố lớn, thành phố Hồ Chí Minh thu hút một lượng lớn đầu tư của các cá nhân, doanh nghiệp. Bên cạnh những mặt ưu thế do phát triển kinh tế thì việc quản lý, kiểm soát hoạt động kinh doanh cũng gặp nhiều vấn đề khó khăn. Tội phạm về hoàn thuế giá trị gia tăng cũng là một trong những vấn đề phức tạp tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Từ vấn đề nêu trên có thể thấy rằng, tội phạm về hoàn thuế giá trị gia tăng ngày càng phát triển, thủ đoạn lừa đảo để rút tiền ngân sách nhà nước ngày càng tinh vi, phức tạp, khó lường. Pháp luật điều chỉnh lại chưa rõ ràng, đầy đủ, hợp lý và chưa đủ sức răn đe. Loại tội phạm trong lĩnh vực này lại có hiểu biết rất rõ về qui định của pháp luật, tội phạm lại tính tổ chức cao, có sự tiếp tay của một số cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước. Vì vậy công tác phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn đối với loại tội phạm này đang gặp nhiều khó khăn. Là một thành phố lớn, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang gặp phải những vấn đề vô cùng nan giải, khó khăn trong công tác đấu tranh với loại tội phạm này. Với tính chất nóng bỏng, thời sự của vấn đề tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng ở nước ta nói chung, ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng tại thành phố Hồ Chí Minh”.

doc49 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 24/05/2013 | Lượt xem: 1273 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng tại thành phố Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được những thành quả vô cùng to lớn, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân, về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học- kĩ thuật ngày càng phát triển. Riêng trong lĩnh vực kinh tế, nước ta đã đạt được nhiều thắng lợi to lớn như: nền kinh tế trong nước ngày càng phát triển về chất và lượng, tham gia các tổ chức quốc tế về kinh tế như WTO, tham gia giao dịch với nhiều quốc gia trên thế giới, mở rộng giao thương trên quy mô toàn cầu.Từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nâng cao sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam. Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế với sự thừa nhận đa hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh. Với các thuộc tính: tự do, năng động, sáng tạo, nhạy bén của nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều cơ hội, nhiều nguồn lợi cũng như thách thức cho cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh, tham gia vào hoạt động của nền kinh tế thị trường đó. Ngân sách nhà nước là nguồn vật chất quan trọng quyết định mọi hoạt động nhằm quản lý, tổ chức sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế nước nhà. Một trong những nguồn thu chính của ngân sách nhà nước là thuế. Mà trên lĩnh vực kinh tế thì các loại thuế là nguồn đóng góp vô cùng lớn cho ngân sách nhà nước, các loại thuế này do các cá nhân, tổ chức kinh doanh đóng góp. Từ những đóng góp thuế trên không chỉ ngân sách nhà nước được tăng cường mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế, đem lại nhiều nguồn lợi cho cả Nhà nước và nhân dân. Một trong những loại thuế trong lĩnh vực kinh tế có lợi ích cho ngân sách nhà nước, có tính kính thích mở rộng sản xuất kinh tế. Đó là thuế giá trị gia tăng. Sau vài năm thực hiện luật thuế giá trị gia tăng đã đi vào cuộc sống, được đa số các doanh nghiệp thực hiện. Với những ưu điểm của thuế giá trị gia tăng như: kích thích hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước, bảo vệ hàng hoá trong nước, thu lợi cho ngân sách nhà nước, loại bỏ những bất cập sơ hở của Thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng khi được áp dụng vẫn không làm tăng giá cả hàng hoá đã mang lại nhiều lợi ích rất thiết thực cho đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm nêu trên, trong quá trình thực hiện thuế giá trị gia tăng nói chung và chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng nói riêng đã và đang bộc lộ những khoảng hở lớn mà một số cá nhân, doanh nghiệp lợi dụng nhằm chiếm đoạt tiền ngân sách nhà nước. Lợi dụng những vấn đề còn chưa được chặt chẽ của luật thuế giá trị gia tăng, cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng cũng như trong công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, nhiều doanh nghiệp đã khai khống hồ sơ, hóa đơn chứng từ, rút tiền ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Như vậy, có thể thấy rằng ngày càng xuất hiện nhiều loại tội phạm liên quan đến vấn đề hoàn thuế giá trị gia tăng. Nhưng trong luật pháp nước ta vẫn chưa có một điều luật nào qui định rõ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, từ đó chưa tạo được cơ sơ pháp lý trong việc xử lý loại tội phạm này. Với đặc điểm của một thành phố lớn, thành phố Hồ Chí Minh thu hút một lượng lớn đầu tư của các cá nhân, doanh nghiệp. Bên cạnh những mặt ưu thế do phát triển kinh tế thì việc quản lý, kiểm soát hoạt động kinh doanh cũng gặp nhiều vấn đề khó khăn. Tội phạm về hoàn thuế giá trị gia tăng cũng là một trong những vấn đề phức tạp tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Từ vấn đề nêu trên có thể thấy rằng, tội phạm về hoàn thuế giá trị gia tăng ngày càng phát triển, thủ đoạn lừa đảo để rút tiền ngân sách nhà nước ngày càng tinh vi, phức tạp, khó lường. Pháp luật điều chỉnh lại chưa rõ ràng, đầy đủ, hợp lý và chưa đủ sức răn đe. Loại tội phạm trong lĩnh vực này lại có hiểu biết rất rõ về qui định của pháp luật, tội phạm lại tính tổ chức cao, có sự tiếp tay của một số cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước. Vì vậy công tác phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn đối với loại tội phạm này đang gặp nhiều khó khăn. Là một thành phố lớn, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang gặp phải những vấn đề vô cùng nan giải, khó khăn trong công tác đấu tranh với loại tội phạm này. Với tính chất nóng bỏng, thời sự của vấn đề tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng ở nước ta nói chung, ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng tại thành phố Hồ Chí Minh”. 2. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu công tác phòng ngừa, đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng. 3. Mục tiêu nghiên cứu: - Làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế giá trị gia tăng và hoàn thuế giá trị gia tăng. - trên cơ sở vấn đề lý luận, làm rõ thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng tại thành phố Hồ Chí Minh. - Từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng tại thành phố Hồ Chí Minh. 4. Phạm vi nghiên cứu: - Về nội dung: đề tài chỉ nghiên cứu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng. - Về không gian: trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. - Về thời gian: từ năm 2000 đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và một số phương pháp sau: - Phương pháp phân tích-tổng hợp. - Phương pháp khảo sát thực tiễn. - Phương pháp thống kê-so sánh. 6. Bố cục đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài chia làm hai chương: Chương 1: Thực trạng công tác phòng ngừa, đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Chương 2: Dự báo và một số giải pháp phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Chương 1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1 Nhận thức chung về thuế giá trị gia tăng và hoàn thuế giá trị gia tăng 1.1.1 Lịch sử hình thành và một số đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 1.1.1.1 Lịch sử hình thành của thuế giá trị gia tăng Có thể thấy rằng mọi hoạt động của Bộ máy Nhà nước đều dựa trên nguồn kinh phí chính đó là Ngân sách Nhà nước. Ngân sách Nhà nước đảm bảo cung cấp cho các hoạt động nhằm đảm bảo các hoạt động từ việc duy trì hoạt động của các cơ quan, cá nhân trong Bộ máy Nhà nước như: trả lương, chi phí đi lại, hoạt động…cho đến sử dụng vào việc đầu tư, kích thích những ngành nghề, địa điểm, khu vực nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Và thuế chính là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Có thể nói rằng Ngân sách Nhà nước tồn tại là quyết định ở việc thu thế. Thu thuế là việc làm nhằm đảm bảo cho việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Vấn đề thuế và thu thuế ở nước ta luôn được Nhà nước quan tâm trong mọi thời kì. Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề đưa ra các loại thuế sao cho phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển đất nước. Trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã qui định: “ Các cơ sở sản xuất kinh doanh, thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ. Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với các cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo qui định của pháp luật”. Từ đó có thể thấy, đóng thuế là nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia hoạt động kinh tế. Khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình thì các tổ chức, cá nhân được Nhà nước bảo hộ, và các tổ chức, cá nhân đó có quyền bình đẳng. Mỗi loại thuế ra đời đều dựa trên yêu cầu khách quan của thực tế, đều mang lại lợi ích cho Nhà nước và nhân dân. Thuế giá trị gia tăng ra đời đã có hiệu quả góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông buôn bán hàng hóa và các ngành dịch vụ, đóng góp một phần không nhỏ vào Ngân sách Nhà nước. Luật thuế giá trị gia tăng được Quốc Hội khóa IX thông qua tại khóa họp thứ XI, Chủ tịch nước công bố theo lệnh số 57/LCTN ngày 22/05/1997 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1999. Ngày 14/11/1998, Bộ Chính Trị (khóa VIII) đã có Chỉ thị số 44/CT-TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện Luật thuế mới. Luật thuế giá trị gia tăng ở nước ta ra đời là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu, xem xét của Nhà nước cũng như là kết quả của quá trình kế thừa luật thuế của các nước tiên tiến trên thế giới. Thuế giá trị gia tăng trên thế giới có quá trình lịch sử hình thành và phát triển khá lâu dài. Thuế giá trị gia tăng được hình thành vào khoảng giữa những thập niên 40-50 của thế kỷ XIX ở các nước Châu Âu. Qua quá trình phát triển thuế giá trị gia tăng đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng bởi sự khoa học và những kết quả đạt được rất cao từ việc làm này. Hiện nay trên thế giới có trên 100 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng. Quá trình hình thành thuế giá trị gia tăng diễn ra ở các nước Châu Âu mà cụ thể là các nước như Anh, Pháp, Đức ở những thập niên 40-50 của thế kỷ XIX, tuy các nước này đã có hệ thống pháp luật về thuế khá đầy đủ nhưng vẫn chưa hoàn thiện. Những loại thuế mà họ đưa ra trong thời gian này vẫn còn những khuyết điểm, thiếu sót, bất cập. Bất cập trong việc thu thuế của họ thể hiện ở chỗ pháp luật về thuế của các quốc gia đã không thể theo kịp sự phát triển của kinh tế - xã hội. Các quốc gia ở Châu Âu như Anh, Pháp, Đức trong thời kỳ đó đã có sự phát triển cao về kinh tế, nhiều hoạt động thương mại, tổ chức, phương pháp hoạt động sản xuất, kinh doanh ra đời đã làm cho hệ thống pháp luật về thuế của các nước này không thể đáp ứng các yêu cầu như trước. Yêu cầu tất yếu ở đây là phải có một loại thuế mới ra đời để khắc phục các hạn chế này. Thuế giá trị gia tăng ra đời đã giải quyết được những yêu cầu khách quan ấy. Một trong những hạn chế rất lớn của hệ thống các thuế trước là có một số tổ chức kinh doanh bị đánh thuế trùng lặp dẫn tới sự bất bình đẳng giữa các đối tượng chịu thuế. Thuế giá trị gia tăng ra đời đã loại bỏ được vấn đề này, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các đối tượng chịu thuế có thể hoạt động một cách thoải mái trong sự quản lý của các cơ quan chức năng. Ở nước ta, luật thuế giá trị gia tăng được ban hành năm 1997 là một loại thuế mới, đáp ứng các yêu cầu đó là góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hóa và dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước. Có thể thấy rằng thuế giá trị gia tăng là loại thuế được hình thành có tính tất yếu do sự thiếu sót, bất cập của các loại thuế trước đó. Thuế giá trị gia tăng được hình thành vào khoảng thập niên 40-50 thế kỷ XIX ở một số nước ở Châu Âu và được phát triển rộng rãi trên các nước trên thế giới nhờ tính khoa học và loại bỏ được các hạn chế của các loại thuế trước đó. Và cũng chính vì lí do đó mà nước ta đã ban hành luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 để thúc đẩy phát triển kinh tế, lưu thông hàng hóa. 1.1.1.2 Một số đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng được áp dụng đã mang lại nhiều lợi ích cho cả Nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh tế. Qua quá trình áp dụng thuế giá trị gia tăng vào trong đời sống có thể rút ra một số đặc điểm của loại thuế này như sau: Một là, thuế giá trị gia tăng khắc phục được các hạn chế của một số loại thuế khác như thuế doanh thu, việc đánh thuế trùng lặp không còn diễn ra. Chính vì vậy việc sản xuất hàng hóa, kinh doanh, dịch vụ được phát triển. Trước khi có thuế giá trị gia tăng ra đời thì việc áp dụng thuế doanh thu đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh tế có tình trạng là thu thuế trùng lặp, từ đó làm cho việc hoạt động kinh doanh của các chủ thể đó gặp khó khăn và tạo sự không đồng tình từ phía các chủ thể đó. Các chủ thể kinh doanh bị đánh thuế trùng lặp bị thiệt hại về vật chất do phải chịu thuế nhiều lần và từ đó cũng cho thấy sự không chặt chẽ trong công việc thu thuế của cơ quan có chức năng. Để khắc phục tình trạng đó thì thuế giá trị gia tăng ra đời. Và chính việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã làm cho các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế hoạt động theo qui định của hệ thống kế toán, tài chính Nhà nước, thực hiện tốt việc ghi hóa đơn mua bán hàng hóa, lập sổ sách đầy đủ giúp cho việc quản lý của Nhà nước được tốt hơn, bên cạnh đó cũng thúc đẩy lưu thông hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Hai là, thuế giá trị gia tăng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước với những ưu đãi về thuế, từ đó thúc đẩy việc đầu tư của các doanh nghiệp trong nước tăng. Các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Đối với việc mua sắm các tài sản cố định nhằm vào việc sản xuất hàng hóa thì các doanh nghiệp được cho khấu trừ hoặc hoàn lại thuế giá trị gia tăng đã đóng khi mua hàng hóa đó. Đây là một điều kiện quan trọng nhằm thúc đẩy, khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng sản xuất kinh doanh, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp cũng như cho nền kinh tế. Ba là, thuế giá trị gia tăng ra đời nhưng không làm tăng giá cả hàng hóa, đó là một trong những ưu điểm mà các thuế khác không làm được. Thuế giá trị gia tăng ra đời thay thế thuế doanh thu đã được kết cấu trong giá thành sản phẩm. Do đó thuế giá trị gia tăng không làm mất ổn định giá cả thị trường mà nó có tác dụng làm bình ổn giá cả thị trường. Bốn là, tại Điều 8 khoản 1 Luật thuế giá trị gia tăng qui định mức thuế xuất đối với hàng hóa xuất khẩu là 0% và đối với hàng hóa xuất khẩu được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào. Chính từ qui định nay đã khuyến khích được các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu, tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như tăng cường việc sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Việc thúc đẩy xuất khẩu giúp cho hàng hóa trong nước được tiêu thụ và có thể cạnh tranh với các hàng hóa của các quốc gia khác. Khi có thuận lợi trong việc xuất khẩu thì các doanh nghiệp sẽ thu được các nguồn lợi lớn và cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng hàng hóa của mình, từ đó công nghệ sản xuất sẽ được coi trọng, phát triển. Do vậy chất lượng hàng hóa ngày càng được nâng cao, sức cạnh tranh ngày càng cao. Và như thế đã tăng cường sự phát triển của nền kinh tế. Đồng thời thuế giá trị gia tăng cũng bảo hộ cho hàng hóa trong nước do việc thu thuế đối với các hàng hóa nhập khẩu. Đây là một việc làm tốt để thúc đẩy sản xuất hàng hóa trong nước, bảo hộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động. Năm là, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế do vậy nó đóng góp vào trong Ngân sách Nhà nước, hay nói một cách khác là thuế giá trị gia tăng đóng vào Ngân sách Nhà nước hằng năm. Thuế là nguồn đóng góp chính vào ngân sách nhà nước, do vậy thực hiện thu thuế giá trị gia tăng thì tổng ngân sách nhà nước hàng năm sẽ được tăng. Và cũng chính từ việc thu ngân sách nhà nước như vậy sẽ giúp cho việc tổ chức phối hợp thực hiện giữa cơ quan thuế và cơ quan nhà nước khác như: Công an nhân dân, Hải quan, Quản lý thị trường được tăng cường từ đó phát hiện, đấu tranh với buôn lậu, gian lận thương mại. Tóm lại, thuế giá trị gia tăng với những đặc điểm của mình đã thực hiện được những yêu cầu mà Nhà nước ta đã đề ra là: thúc đẩy đầu tư từ phía các doanh nghiệp trong nước, tăng cường sản xuất hàng hóa xuất khẩu, bảo hộ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước và hàng hóa trong nước, khắc phục các hạn chế tồn tại của các thuế trước như thuế doanh thu… Chính vì vậy đã phát triển được nền kinh tế trong nước đồng thời mở rộng giao lưu mua bán hàng hóa với các thị trường trên thế giới, tạo điều kiện cho hàng hóa nước ta có vị trí và sức cạnh tranh trên thế giới. Nhưng thuế giá trị gia tăng ra đời không chỉ có các ưu điểm mà nó cũng mang một số hạn chế, bất cập. Bên cạnh việc thúc đẩy phát triển kinh tế thì việc thu thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng đang có nhiều bất cập, xuất hiện nhiều vi phạm pháp luật trong việc thực hiện thuế giá trị gia tăng và hoàn thuế giá trị gia tăng. Trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng thì đã và đang có nhiều vi phạm pháp luật làm thiệt hại hàng tỷ đồng ngân sách nhà nước do chính sách kiểm tra, giám sát và thực hiện việc hoàn thuế giá trị gia tăng còn chưa chặt chẽ, còn nhiều kẽ hở để một số kẻ lợi dụng rút tiền từ ngân sách nhà nước. 1.1.2 Quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng Theo qui định của Điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng thì: “ Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Đây là một loại thuế được tính trên khoảng giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng nên doanh nghiệp đóng thuế giá trị gia tăng chỉ phải đóng thuế một lần, tránh tình trạng hàng hóa bị thu thuế nhiều lần từ đó doanh nghiệp đóng thuế nhiều lần và giá cả của hàng hóa tăng do lí do đó. Và theo luật thuế giá trị gia tăng thì đối tượng chịu thuế là: Hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của Luật thuế giá trị gia tăng. Qui định tại Điều 4 của Luật thuế giá trị gia tăng đó là đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng. Luật thuế giá trị gia tăng ban hành năm 1997 đã được sửa đổi bổ sung năm 2003 quy định tại Điều 4 các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng. Vậy các đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thì đó là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế qui định tại điều 4 Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 sửa đổi, bổ sung năm 2003. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hóa chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng. Những qui định của pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng được qui định trong luật thuế giá trị gia tăng năm1997, sửa đổi, bổ sung năm 2003 đó là: Có thể hiểu rằng hoàn thuế giá trị gia tăng là việc nhà nước hoàn trả lại tiền thuế giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp theo qui định của pháp luật. Đây là khái niệm được rút ra từ các qui định của pháp luật Việt Nam về thuế giá trị gia tăng. Chỉ có các trường hợp nêu trong điều 16 Luật thuế giá trị gia tăng thì doanh nghiệp mới được hoàn thuế giá trị gia tăng. Để có thể tìm hiểu về hoàn thuế giá trị gia tăng thì cần làm rõ các vấn đề thu thuế giá trị gia tăng. Căn cứ và phương pháp tính thuế giá trị gia tăng: - Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất. Đối với giá tính thuế giá trị gia tăng được qui định trong điều 7 Luật thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi năm 2003: “ Giá tính thuế giá trị gia tăng được quy định như sau: 1. Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng; 2. Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu, cộng với thuế nhập khẩu; 3. Đối sinh các hoạt động này; 4. Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ; 5. Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa, tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kỳ; 6. Đối với gia công hàng hóa là giá gia công; 7. Đối với hàng hóa, dịch vụ khác là giá do Chính phủ quy định; 8. Giá tính thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất, kinh doanh trong nước là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; ở khâu nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng thuế nhập khẩu (nếu có) cộng thuế tiêu thụ đặc biệt. Giá tính thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều này bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng. Trường hợp đối tượng nộp thuế có doanh số mua, bán bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh số để xác định
Luận văn liên quan