Đề tài Giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của VN sang thị trường Trung Quốc trong điều kiện hội nhập WTO

Thế giới đã và đang bước vào một kỷ nguyên mới. Đó chính là kỷ nguyên của toàn cầu hoá, khu vực hoá. Sự mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, sự hợp tác liên minh, liên kết hiện nay đã trở thành một yếu tố khách quan. Bởi lẽ, đây là quá trình nhằm thu hút các nguồn lực phát triển bên ngoài đồng thời phát huy nội lực của nền kinh tế trong nước nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội một cách nhanh chóng và bền vững. Không nằm ngoài guồng quay đó, Việt Nam- với một nền kinh tế đang phát triển thì việc tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế đã giúp Việt Nam tận dụng và phát huy lợi thế so sánh của mình. Nổi bật lên là hoạt động xuất khẩu hàng hoá đã mang lại những kết quả đáng kể như: tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động và đặc biệt là đẩy mạnh quá trình CNH- HĐH đất nước. Không chỉ vậy, đây còn là con đường để góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam trên thị trường quốc tế, là cơ sở để Việt Nam bước vào sân chơi thương mại toàn cầu một cách vững vàng. Như Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, nghị quyết, chính sách nhằm thực hiện đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá các quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới bằng các hiệp định song phương, đa phương, bằng quan hệ hợp tác, hữu nghị, bình đẳng và cùng có lợi. Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Hai quốc gia Việt Nam- Trung Quốc là hai nước láng giềng,“núi liền núi, sông liền sông”, các quan hệ về văn hoá, ngoại giao, thương mại của hai nước đã hình thành từ lâu đời. Đó như một tất yếu khách quan và là một mối quan hệ bền vững. Lật lại những trang sử vàng oanh liệt của một thời chúng ta không thể không thấy được những biến động chính trị- xã hội của hai quốc gia là không nhỏ. Song điều đó không bao giờ triệt tiêu hoàn toàn mối quan hệ của hai nước. Bằng chứng là việc cả hai bên đã trở lại bình thường hoá quan hệ vào cuối năm 1991. Đó là dấu mốc quan trọng đánh dấu quan hệ giữa hai quốc gia nói chung và quan hệ thương mại nói riêng ngày càng phát triển bền vững, mạnh mẽ và đang trở thành một trong những bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Cho đến nay, mối quan hệ kinh tế của hai nước vẫn được duy trì và phát triển. Đứng ở phía Việt Nam để đánh giá về mức độ thâm nhập hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc hay hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc em thấy có những thành công đáng kể song khó khăn, tồn tại là không ít. Là một sinh viên chuyên ngành kinh tế quốc tế, trong bối cảnh đất nước tham gia vào sân chơi thương mại toàn cầu, em thấy được sự cần thiết của việc phát triển mạnh hơn nữa quan hệ thương mại Việt Nam- Trung Quốc. Vì vậy, em quyết định chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO” để làm đề tài nghiên cứu.

doc139 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 14/12/2012 | Lượt xem: 1663 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của VN sang thị trường Trung Quốc trong điều kiện hội nhập WTO, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Tính tất yếu Thế giới đã và đang bước vào một kỷ nguyên mới. Đó chính là kỷ nguyên của toàn cầu hoá, khu vực hoá. Sự mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, sự hợp tác liên minh, liên kết hiện nay đã trở thành một yếu tố khách quan. Bởi lẽ, đây là quá trình nhằm thu hút các nguồn lực phát triển bên ngoài đồng thời phát huy nội lực của nền kinh tế trong nước nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội một cách nhanh chóng và bền vững. Không nằm ngoài guồng quay đó, Việt Nam- với một nền kinh tế đang phát triển thì việc tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế đã giúp Việt Nam tận dụng và phát huy lợi thế so sánh của mình. Nổi bật lên là hoạt động xuất khẩu hàng hoá đã mang lại những kết quả đáng kể như: tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động và đặc biệt là đẩy mạnh quá trình CNH- HĐH đất nước. Không chỉ vậy, đây còn là con đường để góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam trên thị trường quốc tế, là cơ sở để Việt Nam bước vào sân chơi thương mại toàn cầu một cách vững vàng. Như Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, nghị quyết, chính sách nhằm thực hiện đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá các quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới bằng các hiệp định song phương, đa phương, bằng quan hệ hợp tác, hữu nghị, bình đẳng và cùng có lợi. Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Hai quốc gia Việt Nam- Trung Quốc là hai nước láng giềng,“núi liền núi, sông liền sông”, các quan hệ về văn hoá, ngoại giao, thương mại của hai nước đã hình thành từ lâu đời. Đó như một tất yếu khách quan và là một mối quan hệ bền vững. Lật lại những trang sử vàng oanh liệt của một thời chúng ta không thể không thấy được những biến động chính trị- xã hội của hai quốc gia là không nhỏ. Song điều đó không bao giờ triệt tiêu hoàn toàn mối quan hệ của hai nước. Bằng chứng là việc cả hai bên đã trở lại bình thường hoá quan hệ vào cuối năm 1991. Đó là dấu mốc quan trọng đánh dấu quan hệ giữa hai quốc gia nói chung và quan hệ thương mại nói riêng ngày càng phát triển bền vững, mạnh mẽ và đang trở thành một trong những bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Cho đến nay, mối quan hệ kinh tế của hai nước vẫn được duy trì và phát triển. Đứng ở phía Việt Nam để đánh giá về mức độ thâm nhập hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc hay hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc em thấy có những thành công đáng kể song khó khăn, tồn tại là không ít. Là một sinh viên chuyên ngành kinh tế quốc tế, trong bối cảnh đất nước tham gia vào sân chơi thương mại toàn cầu, em thấy được sự cần thiết của việc phát triển mạnh hơn nữa quan hệ thương mại Việt Nam- Trung Quốc. Vì vậy, em quyết định chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO” để làm đề tài nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu - Cung cấp một số lý luận để chứng minh và luận giải sự cần thiết phải tăng cường hợp tác thương mại, thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay + Đánh giá tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc trong từ năm 1991 đến nay. + Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO. Đối tượng nghiên cứu - Tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong thời gian qua (từ năm 1991 đến nay) Phạm vi nghiên cứu - Tập trung nghiên cứu đánh giá tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc từ năm 1991 đến nay. Những nguyên nhân tồn tại khiến cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá từ Việt Nam sang Trung Quốc còn nhiều bất cập. Tổng kết kinh nghiệm xuất khẩu của một số nước như Thái lan, Indonesia… để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 5. Phương pháp nghiên cứu - Đề tài kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin cùng với phương pháp thống kê thực chứng, phương pháp so sánh để tổng hợp giải quyết vấn đề đặt ra. 6. Những đóng góp của đề tài - Hệ thống hoá những vấn đề lý kuận chung về xuất khẩu và tổng kết kinh nghiệm xuất khẩu hàng hoá của một số nước từ đó rút ra bài học cho Việt Nam. - Đánh giá được thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong thời gian qua. - Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay. 7. Kết cấu của đề tài - Ngoài lời mở dầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, đề tài được trình bày trong 3 chương: - Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu, kinh nghiệm xuất khẩu hàng hoá của một số nước và tổng quan về thị trường Trung Quốc. - Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc từ năm 1991 đến nay. - Chương 3: Một số giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU, KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA MỘT SỐ NƯỚC SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC . Lý luận về xuất khẩu hàng hoá Khái niệm về xuất khẩu - Trên thực tế, các lĩnh vực sản xuất ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhịp nhàng cùng với sự phát triển của xã hội. Mỗi quốc gia trên thế giới đã tự sản xuất được khối lượng hàng hoá lớn, phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm mới của con người là một nhân tố quan trọng kích thích việc buôn bán, trao đổi hàng hoá, các sản phẩm của các quốc gia. Hoạt động này có từ rất sớm, đó chính là tiền thân của hoạt động xuất- nhập khẩu. Vậy xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ là gi? - Xuất khẩu là một hoạt động đưa hàng hoá- dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác để bán. Đây là một hoạt động xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường nước ngoài một cách hiệu quả và phù hợp với sự phát triển kinh tế của các quốc gia có lợi thế so sánh về một hay nhiều sẩn phẩm nào đó. - Tham gia vào hoạt động xuất khẩu này bao gồm các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và chính phủ của các quốc gia. Đây là những chủ thể không thể thiếu của một nền kinh tế. - Để xuất khẩu hàng hoá sang một quốc gia khác, các nhà xuất khẩu cần tìm hiểu, nắm vững nhu cẩu, thị hiếu, phong cách tiêu dùng của thị trường nước nhập khẩu. Thông thường nước nhập khẩu có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm có uy tín, thương hiệu, đa dạng về mẫu mã, chủng loại, an toàn cho sức khoẻ của người tiêu dùng. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, đời sống con người ngày một được nâng cao, hơn lúc nào hết, nhu cầu tiêu thụ những loại hàng hoá có uy tín, thương hiệu, có xuất sứ rõ ràng, tuân theo những quy định về an toàn vệ sinh,…của người tiêu dùng ở nước nhập khẩu nói riêng, trên thế giới nói chung là rất lớn. Vì vậy, đứng ở góc độ nước xuất khẩu, nhà xuất khẩu Việt Nam cần có những chiến lược, sách lược phù hợp để tăng cường xuất khẩu hàng hoá ra thị trường quốc tế nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO. - Để xuất khẩu cần có những kênh riêng, đó là hoạt động xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu là một trong những hoạt động ngoại thương của một quốc gia, nó có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia đó. Hoạt động xuất khẩu mang nhũng đặc trưng sau: + Để hoạt động xuất khẩu diễn ra cần có hai hay nhiều bên tham gia. Khác với buôn bán nội địa, hoạt động xuất khẩu yêu cầu hai hay nhiều bên đó phải có quốc tịch khác nhau. Đây chính là một trong những mấu chốt để các nhà xuất khẩu đặt ra chiến lược xuất khẩu hàng hoá của mình. Sự khác nhau về quốc tịch sẽ dẫn đến sự khác nhau về phong tục tập quán, thói quen…và đó là những gì mà nhà xuất khẩu phải tìm hiểu, nghiên cứu để thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Sự thoả mãn nhu cầu, sự hài lòng ở nước nhập khẩu là yếu tố quan trọng tạo ra những khách hàng trung thành hay nói đúng hơn là tạo một chỗ đứng cho hàng hoá của quốc gia xuất khẩu. + Do hàng hoá được xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc gia sang một thị trường khác nên sức ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, luật pháp, chính trị...là không nhỏ, đó là mầm mống cho những rủi ro mang lại cho hoạt động xuất khẩu. + Phương tiện thanh toán trong hoạt động xuất khẩu thường là ngoại tệ đối với ít nhất một bên. + Phương tiện vận tải, phương thức vận tải cũng là yếu tố hết sức quan trọng trong hoạt động xuất khẩu. Vì ở đây chứa những rủi ro cho cả hai bên tham gia vào hoạt động này. Vì thế, khi tham gia ký kết các hợp đồng ngoại thương, các nhà xuất khẩu cũng như nhập khẩu cần có các điều khoản, hợp đồng bảo hiểm…đi kèm để giảm thiểu rủi ro cho mình. 1.1.2. Các hình thức xuất khẩu hàng hoá Hoạt động xuất khẩu hàng hoá bao gồm các hình thức sau: 1.1.2.1. Xuất khẩu trực tiếp - Xuất khẩu trực tiếp là hình thức giao dịch trong đó người bán (nhà xuất khẩu) bán hàng trực tiếp cho nước ngoài (nhà nhập khẩu). - Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp: + Cho phép các nhà xuất khẩu nắm bắt được nhu cầu của thị trường về số lượng, chất lượng, giá cả để người bán thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường. + Giúp người bán không bị chia sẻ lợi nhuận. + Giúp xây dựng các chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp. - Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp: + Chi phí tiếp thị ở thị trường nước ngoài cao cho nên những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, ít vốn thì nên xuất khẩu uỷ thác có lợi hơn. + Kinh doanh xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi phải có những cán bộ có nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi: không những giỏi về giao dịch đàm phán mà còn phải am hiểu và có kinh nghiệm buôn bán quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế thông thạo, có như vậy thì mới đảm bảo cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu trực tiếp có hiệu quả. Đây vừa là một yêu cầu đảm bảo cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu trực tiếp lại vừa thể hiện điểm yếu của đa số các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế này. - Cách thức tiến hành xuất khẩu trực tiếp: Để tiến hành xuất khẩu trực tiếp cần: + Nghiên cứu thị trường, thương nhân. + Đánh giá hiệu quả của thương vụ kinh doanh thông qua việc xác định các tỷ giá xuất khẩu và tỷ giá nhập khẩu. Chỉ thực hiện kinh doanh khi tỷ giá xuất khẩu nhỏ hơn tỷ giá hối đoái. + Tổ chức các giao dịch đàm phán qua các hình thức: thư tín hỏi hàng, báo giá, chào hàng, hoàn giá…hoặc gặp gỡ trực tiếp để đàm phán, thoả thuận, ký kết hợp đồng. + Thực hiện ký kết hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu. + Tổ chức thực hiện hợp đồng mà hai bên đã ký. 1.1.2.2. Hình thức xuất khẩu gián tiếp - Khái niệm: Hình thức xuất khẩu gián tiếp hay giao dịch qua trung gian là hình thức mua bán quốc tế được thực hiện khi nhờ sự giúp đỡ của trung gian thứ ba. Người này được hưởng một khoản tiền nhất định. - Các trung gian phổ biến trong giao dịch quốc tế là các đại lý, môi giới. + Đại lý là người hoặc một công ty uỷ thác cho người khác, công ty khác thực hiện mua bán hoặc dịch vụ phục vụ cho việc mua bán như quảng cáo, vận tải và bảo hiểm. + Môi gới thường là thương nhân trung gian giữa bên mua và bên bán uỷ thác tiến hành bán hoặc mua hàng hoá hay dịch vụ. Khi tiến hành nghiệp vụ môi giới, người môi giới không đứng tên của mình mà đứng tên của người uỷ thác không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm cá nhân trước người uỷ thác về việc khách hàng không thực hiện hợp đồng. - Ưu điểm của xuất khẩu gián tiếp: + Người trung gian thường là những người am hiểu thị trường xâm nhập, pháp luật, tập quán buôn bán của địa phương cho nên họ có khả năng đẩy mạnh buôn bán và tránh bớt những rủi ro cho người uỷ thác. + Những người trung gian nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất nhất định do vậy khi sử dụng họ người uỷ thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nước nhập khẩu. + Nhờ những dịch vụ trung gian trong việc lựa chọn phân loại, đóng gói mà người uỷ thác có thể giảm bớt chi phí vận tải. - Nhược điểm: + Công ty tham gia kinh doanh xuất khẩu sẽ mất đi sự liên hệ với thị trường. + Vốn thường có thể bị bên đại lý chiếm dụng. + Công ty phải đáp ứng những nhu cầu mà bên đại lý và môi giới đưa ra. + Lợi nhuận bị chia sẻ là chuyện không thể tránh khỏi. Do những ưu điểm và nhược điểm trên cho nên trung gian chỉ được sử dụng trong những điều kiện cần thiết như sau: khi thâm nhập vào thị trường mới, khi tập quán đòi hỏi bán hàng qua trung gian và khi mặt hàng cần có sự chăm sóc đặc biệt như hàng tươi sống, dễ hỏng… Sau khi đã xác định nhất định phải sử dụng đại lý, các doanh nghiệp cần nghiên cứu một cách kỹ lưỡng những vấn đề như mặt hàng uỷ thác tiêu thụ là mặt hàng nào? thời gian uỷ thác là bao nhiêu? 1.1.2.3. Buôn bán đối lưu - Khái niệm: Buôn bán đối lưu là hình thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu; người bán hàng đồng thời là người mua hàng và lượng hàng hoá đem trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Ở đây, mục đích của xuất khẩu không nhằm thu ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương. - Hình thức buôn bán đối lưu chủ yếu: + Hàng đổi hàng: hai bên trao đổi hàng hoá có giá trị tương nhau, việc giao hàng diễn ra đồng thời. + Trao đổi bù trừ: hai bên trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở ghi giá trị hàng giao, đến cuối kỳ hạn hai bên mới so sánh đối chiếu giữa giá trị hàng giao và hàng nhận. Nếu sau khi bù trừ tiền hàng như vậy mà còn số dư thì tiền đó sẽ được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ và những khoản chi tiêu của bên chủ tại nước bị nợ. - Dù tiến hành theo hình thức nào các bên cũng phải tôn trọng nguyên tắc cân bằng. Nguyên tắc này được thể hiện: + Cân bằng về mặt hàng: hàng quý đổi lấy hàng quý, hàng ế thừa đổi lấy hàng ế thừa + Cân bằng giá cả: cùng tính cao hơn hay thấp hơn giá cả quốc tế. + Cân bằng điều kiện giao dịch: cùng giao FOB cảng đi hay cùng giao CIF cảng đến + Cân bằng về tổng giá trị hàng hoá mà các bên giao cho nhau. 1.1.2.4. Gia công quốc tế - Khái niệm: gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu trong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hay bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Sau khi các sản phẩm được làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công và nhận một khoản tiền gọi là phí gia công. - Ưu điểm của gia công xuất khẩu: + Thị trường tiêu thụ sẵn có, không phải lo chi phí cho hoạt động bán sản phẩm đầu ra. + Vốn đầu tư cho sản xuất là nhỏ. + Tạo được công ăn việc làm cho người lao động. + Học tập được kinh nghiệm sản xuất của nước ngoài, tạo được mẫu mã bao bì cho các sản phẩm của mình. - Nhược điểm: +Tính bị động cao: do toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp phụ thuộc vào bên đặt gia công về thị trường, giá bán, giá đặt gia công, nguyên vật liệu, mẫu mã, nhãn mác của sản phẩm… + Nhiều trường hợp bên nước ngoài lợi dụng gia công để bán máy móc cho nước nhận gia công, sau một thời gian không đặt gia công nữa gây tổn thất, lãng phí cho bên nhận gia công. + Nhiều trường hợp bên nước ngoài lợi dụng gia công để bán lại các máy móc cũ, lạc hậu cho bên nhận gia công làm ô nhiễm môi trường. + Do sự lợi dụng của bên đặt gia công để được hưởng ưu đãi từ phía nước nhận gia công. + Nhiều doanh nghiệp nước ngoài còn lợi dụng gia công để tìm ra sơ hở trốn thuế gây tổn hại cho nước nhận gia công. + Do tính cạnh tranh gia công ở nội địa ngày càng gay gắt làm cho giá gia công giảm sụt. 1.1.2.5. Tái xuất khẩu - Khái niệm: tái xuất khẩu là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang nước khác những hàng hoá đã mua ở nước ngoài chưa qua chế biến ở nước tái xuất. - Mục đích của giao dịch này là thu chênh lệch giá mua đi- bán lại, mua rẻ- bán đắt. - Các hình thức của tái xuất khẩu: + Kinh doanh chuyển khẩu: đây là hình thức mà hàng hoá từ nước xuất khẩu trực tiếp sang nước nhập khẩu. Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu, thu tiền của nước nhập khẩu. +Tạm nhập, tái xuất: hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, lại được nước tái xuất xuất khẩu sang nước nhập khẩu. - Ưu điểm của tái xuất khẩu là rủi ro ít do nhà xuất khẩu chỉ đóng vai trò xuất khẩu hàng hoá sang nước thứ hai, nước thứ hai có vai trò là một trung gian vì thế rủi ro lúc này được san sẻ. - Nhược điểm là lợi nhuận mà các nhà xuất khẩu thu được thấp do các chi phí về dịch vụ vận tải, bến bãi…là tương đối lớn. 1.1.2.6. Xuất khẩu tại chỗ - Xuất khẩu tại chỗ là hình thức bán hàng cho nước ngoài ngay trên lãnh thổ nước mình. - Ưu điểm: do bán hàng hoá ngay trên lãnh thổ nước mình cho nên các nhà xuất khẩu tại chỗ ít gặp rủi ro về chính trị, pháp luật, vận chuyển…Do đó tiết kiệm được chi phí giao dịch, vận chuyển. - Nhược điểm: số lượng hàng hoá bán được không lớn do mảng thị trường này chỉ gồm những người nước ngoài đi du lịch hoặc làm việc tại nước xuất khẩu tiêu thụ. Tóm lại, mỗi một hình thức xuất khẩu đều mang lại những hiệu quả cũng như những hạn chế, khó khăn nhất định. Vì vậy, đứng ở góc độ nhà xuất khẩu, Việt Nam cần có những chiến lược, định hướng lựa chọn phù hợp với sự phát triển kinh tế, khả năng, năng lực của Việt Nam để thu được hiệu quả kinh tế cao nhất góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước trong giai đoạn hiện nay. 1.1.3. Các bước tiến hành xuất khẩu 1.1.3.1. Nghiên cứu và tiếp cận thị trường - Trên thực tế, trong sân chơi thương mại quốc tế ngày càng diễn ra sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt. Bước vào giai đoạn toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế, hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu, các doanh nghiệp, các nhà xuất khẩu Việt Nam nói riêng cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng thị trường trước khi quyết định xuất khẩu hàng hoá của nước mình. Những thông tin về thị trường là tiền đề cho chiến lược kinh doanh của các nước xuất khẩu. Bởi lẽ khai thác được những thông tin này chính là biết được môi trường, nhu cầu, thị hiếu, thói quen tiêu dùng của khách hàng, để từ đó biết được cần xuất khẩu mặt hàng gì? đối tượng xuất khẩu nào? ở đâu? đối thủ cạnh tranh là ai? - Sau khi thu thập, xử lý thông tin do thị trường cung cấp, các nhà xuất khẩu cần đưa ra những phương pháp nhất định để tiếp cận thị trường nước nhập khẩu. Phương pháp phổ biến như qua báo chí, đài, mạng Internet, các hội chợ, triển lãm, qua các trung tâm xúc tiến thương mại để từ đó quảng bá hình ảnh về nước xuất khẩu cũng như những sản phẩm xuất khẩu. Kết quả của quá trính thu thập, nghiên cứu và tiếp cận thị trường là một định hướng kinh doanh với nội dung chính là đặt ra được hai câu hỏi: xuất khẩu hàng hóa gì? xuất khẩu đi đâu? 1.1.3.2. Lập phương án kinh doanh - Sau khi đã có được định hướng kinh doanh, nhà xuất khẩu cần lập ra cho mình một kế hoạch kinh doanh cụ thể. Trước hết, trong kế hoạch kinh doanh đó phải có mặt của nội dung sau: xuất khẩu hàng hoá gì? thời gian xuất khẩu? đối tác xuất khẩu? đối thủ cạnh tranh? chiến lược quảng cáo? lợi nhuận dự kiến? khó khăn khi thực hiện thương vụ kinh doanh này? giải pháp khắc phục các khó khăn đó là gì? 1.1.3.3. Giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng - Sau khi các nhà xuất khẩu tìm kiếm được đối tác và thị trường xuất khẩu thì hai bên phải tiến hành các giao dịch đàm phán với nhau về mặt hàng xuất khẩu , thời gian tiến hành xuất khẩu, các hình thức vận chuyển, thanh toán để từ đó đi đến ký kết hợp đồng ngoại thương. - Các hình thức đàm phán: + Đàm phán bằng thư tín + Đàm phán qua điện thoại + Gặp mặt trực tiếp để đàm phán Với những hình thức đàm phán trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình phương thức đàm phán phù hợp nhất, hiệu quả nhất. Muốn vậy, nhà kinh doanh ngoại thương cần nắm vững ba cơ sở: pháp luật, thông tin và năng lực của người đi đàm phán. 1.1.3.4. Thực hiện hợp đồng - Khi hoàn tất các thủ tục, công đoạn của quá trình xuất khẩu như xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá, kiểm tra chất lượng hàng hoá, các thủ tục hải quan, thủ tục thanh toán…chính là thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Trong quá trình thực hiện hợp đồng cần chú ý đến các điều khoản mà h
Luận văn liên quan