Đề tài Một số giải pháp hỗ trợ người khuyết tật tại xã Bình Thạnh Đông

An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế- xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt. Là đối tượng, thực thể tồn tại trong đời sống xã hội, người khuyết tật có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tuy nhiên, do những khiếm khuyết không mong muốn về cơ thể mà người khuyết tật gặp phải nhiểu trở ngại, khó khăn trong cuộc sống, chính vì vậy, Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đến đối tượng này với những chính sách, quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội theo những nguyên tắc cụ thể đối với người khuyết tật nhằm giúp họ khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Để rõ hơn về vấn đề này, em đi sâu tìm hiểu đề tài: “ Một số giải pháp hỗ trợ người khuyết tật” tại xã Bình Thạnh Đông. Cho gửi lời cám ơn giảng viên Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn – Trường Đại học Lao động - Xã hội cơ sở II và UBND xã Bình Thạnh Đông đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình em trong quá trình viết bài tiểu luận này.

doc12 trang | Chia sẻ: baohan10 | Ngày: 18/09/2020 | Lượt xem: 23 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một số giải pháp hỗ trợ người khuyết tật tại xã Bình Thạnh Đông, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế- xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt. Là đối tượng, thực thể tồn tại trong đời sống xã hội, người khuyết tật có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tuy nhiên, do những khiếm khuyết không mong muốn về cơ thể mà người khuyết tật gặp phải nhiểu trở ngại, khó khăn trong cuộc sống, chính vì vậy, Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đến đối tượng này với những chính sách, quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội theo những nguyên tắc cụ thể đối với người khuyết tật nhằm giúp họ khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Để rõ hơn về vấn đề này, em đi sâu tìm hiểu đề tài: “ Một số giải pháp hỗ trợ người khuyết tật” tại xã Bình Thạnh Đông. Cho gửi lời cám ơn giảng viên Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn – Trường Đại học Lao động - Xã hội cơ sở II và UBND xã Bình Thạnh Đông đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình em trong quá trình viết bài tiểu luận này. CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT I. Một số khái niệm và ý nghĩa bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật. 1. Khái niệm người khuyết tật. Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này thì “ Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Theo cách hiểu này thì người khuyết tật (NKT) bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do bệnh tật, tai nạn, thương binh, bệnh binh Như vậy, Luật người khuyết tật Việt Nam đã đưa ra khái niệm NKT dựa vào mô hình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm trong Công ước về quyền của người khuyết tật. Thông qua quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau cho thấy, để đưa ra khái niệm thuyết phục và thống nhất về NKT là không dễ dàng. Việc nghiên cứu để đưa ra định nghĩa Quốc tế về NKT là thách thức do những mô hình của khuyết tật chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa, điều kiện kinh tế - xã hội và các tiêu chí xác định khuyết tật. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, định nghĩa về NKT, dù tiếp cận dưới bất kỳ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh thực tế là NKT có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị. Họ phải được đảm bảo rằng, họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền con người. Với cách tiếp cận đó, có thể đưa ra định nghĩa, khái niệm NKT như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác.” 2. Khái niệm bảo trợ xã hội và bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật. 2.1.Khái niệm bảo trợ xã hội. Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng gặp may mắn,thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển, trái lại họ thường xuyên phải đối mặt với những rủi ro, bất hạnh, biến cố vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi rơi vào những tình huống như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng trở thành cấp thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc. Do đó, có thể nhận thấy, bảo trợ xã hội (BTXH) là biện pháp tương trợ cộng đồng đầu tiên mà con người tìm đến để giúp nhau vượt qua những tình huống khó khăn. Đây là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội (ASXH) mỗi quốc gia. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của BTXH, hầu hết các nước đều tổ chức thực hiện bảo trợ xã hội bằng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, của mình. Theo thống kê của ILO trong các tài liệu về ASXH, trong số 172 nước thiết lập hệ thống ASXH thì chế độ BTXH đều được quan tâm thực hiện ngay từ đầu. Ở Việt Nam, mặc dù BTXH đã được thực hiện từ rất lâu với vai trò quan trọng của Nhà nước nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về BTXH trong các văn bản pháp luật. Theo cách hiểu thông thường thì đó là “sự giúp đỡ cho qua khỏi cơn nguy khốn” hay “giúp cho qua khỏi cơn nghèo ngặt”. Về ngữ nghĩa thì đa số các nhà khoa học cho rằng cùm từ này gồm hai nhóm từ ghép là “cứu trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội”. BTXH được tiếp cận với nhiều góc độ như kinh tế, đảm bảo quyền con người, tiếp cận dưới phạm vi rộng và hẹp với sự khác biệt về nội hàm khái niệm, tiếp cận dưới những quan điểm, phạm vi khác nhau nên cũng có những khái niệm khác nhau đề cập nội dung này, nhưng tóm lại, dựa trên quan điểm chung của ILO và riêng ở Việt Nam, có thể hiểu BTXH là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội và cộng đồng bằng những biện pháp và cách hình thức khác nhau đối với các đối tượng gặp phải rủi ro, bất hạnh, nghèo đói vì nhiều nguyên nhân dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật, giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Theo khái niệm này, đối tượng BTXH chính là những người gặp khó khăn, rủi ro, biến cố, bất hạnh trong cuộc sống vì nhiều nguyên nhân khác nhau cần có sự giúp đỡ. Những đối tượng được kể đến đầu tiên trong hầu hết các quy định pháp luật BTXH các quốc gia đều là nhóm NKT, người già, cô đơn, trẻ em mồ côi thiếu người nuôi dưỡng Về thể chế hóa chính sách xã hội mang đậm tính nhân đạo này, tùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau của điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể chế độ BTXH với phạm vi đối tượng, điểu kiện hưởng, mức hưởng, và tổ chức thực hiện. Do vậy, có thể hiểu, dưới góc độ pháp luật, chế độ BTXH là tổng thể các quy phạm pháp luật có quan hệ chặt chẽ với nhau, xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho các thành viên trong xã hội khi bị lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, rủi ro, nghèo đói,... không đủ khả năng đảm bảo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình. 2.2.Đặc điểm bảo trợ xã hội. Xuất phát từ những phân tích trên về khái niệm BTXH, có thể rút ra một số đặc điểm như sau: Về đối tượng: Tham gia vào quan hệ BTXH bao gồm Nhà nước, các đối tượng BTXH và các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân khá trong hoạt động chung mang tính nhân đạo này. Trong đó: Đối tượng bảo trợ: là mọi người dân trong xã hội không phân biệt khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, bất hạnh cần có sự giúp đỡ để tồn tại. Dưới góc độ kinh tế thì đó là những thành viên có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần có sự nâng đỡ về mặt vật chất. Dưới góc độ xã hội thì họ thuộc nhóm người “yếu thế” trong xã hội, với những nguyên nhân khác nhau mà bị rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, có ít cơ may trong cuộc sống như người binh thường và không có đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống của gia đình và bản thân. Ngoài ra, dưới góc độ nhân đạo, đó có thể là những đối tượng nghiện hút, mại dâm, lang thang xin ăn, Thứ hai là Nhà nước với tư cách là một chủ thể trong quan hệ BTXH, đã xác định được nghĩa vụ của mình và mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong hoạt động BTXH. Hoạt động BTXH, ngoài trách nhiệm của Bộ lao động – thương binh và xã hội, còn là trách nhiệm của các Bộ, Ban, Ngành khác như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, và toàn thể các thành viên xã hội Về nội dung: Chế độ BTXH được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo quy định của pháp luật hiện hành, chế độ BTXH bao gồm hai nội dung chính là chế độ bảo trợ thường xuyên và chế độ bảo trợ đột xuất. VIệc phân loại này có ý nghĩa đưa ra các mức hưởng và hình thức bảo trợ cho phù hợp với từng nhóm đối tượng. Về mục đích: Mục đích của BTXH không nhằm bù đắp thu nhập thường xuyên bị giảm hoặc mất hay đảm bảo ổn định đời sống, suy tôn công trạng, đền ơn đáp nghĩa những người có công, mà chỉ hỗ trợ, giúp đỡ cho những người lâm vào tình trạng thực sự khó khăn, túng quẫn, cần có sự giúp đỡ vật chất mới có thể vượt qua được hoàn cảnh hiện tại. Do đó, mức hưởng thường là thấp và linh hoạt, phụ thuộc vào khả năng tài chính của Nhà nước, khả năng huy động nguồn lực, và tình trạng thực tế của đối tượng, 2.3.Khái niệm bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật. Xuất phát từ khái niệm BTXH nói chung, BTXH đối với người khuyết tật được hiểu là tổng hợp các cơ chế, chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ cho người khuyết tật, trước hết và chủ yếu là những khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác nhằm giúp cho đối tượng ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Theo đó, các nội dung của BTXH nói chung áp dụng với đối tượng hưởng là người khuyết tật khi thỏa mãn các điều kiện hưởng trong các chế độ trợ cấp, hỗ trợ. Trên quan điểm tiến bộ, BTXH đối với người khuyết tật được tiếp cận từ góc độ nhân quyền với trách nhiệm của Nhà nước chứ không chỉ dừng lại ở mục đích nhân đạo, ban ơn, chiếu cố tới những thân phận khiếm khuyết về sức khỏe. Các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho cuộc sống của người khuyết tật được thực hiện như một sự phân phối lại lợi ích xã hội theo hướng công bằng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trong tương quan phát triển kinh tế và xã hội. Không chỉ dừng lại ở đó, việc nhìn nhận người khuyết tật như một dạng trong đa dạng các thành viên xã hội và khơi gợi khả năng lao động tiểm ẩn trong họ là một trong những tư tưởng tiến bộ để các khoản trợ cấp BTXH không còn ý nghĩa đơn thuần là gánh nặng cho ngân sách Nhà nước mà chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, với mục tiêu vì con người – trung tâm của sự phát triển. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, GIÚP ĐỠ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI XÃ BÌNH THẠNH ĐÔNG I. Đặc điểm tình hình của xã Bình Thạnh Đông. Vị trí địa giới hành chính: phía Đông giáp xã Hiệp Xương, phía Tây và Nam giáp huyện Châu Phú (ngăn cách bởi sông Hậu), phía Bắc giáp xã Phú Bình. Tổng diện tích tự nhiên 1.563 ha, trong đó diện tích nông nghiệp 1.040 ha. Xã có 7 ấp (Bình Trung 1, Bình Trung 2, Bình Đông 1, Bình Đông 2, Bình Quới 1, Bình Quới 2, Bình Tây 2), có 3.546 hộ với 14.915 người (trong đó số hộ sống bằng nghề nông chiếm 95%). Trong đó, số lượng người khuyết tật có 242 người. Trong đó: khuyết tật nặng 214 đối tượng, khuyết tật là hộ nghèo 28 đối tượng có 10 đối tượng là trẻ em. Cuộc sống của họ gặp rất nhiều khó khăn, họ rất khó tìm việc làm phù hợp với mình. Công tác chăm sóc, giúp đỡ người khuyết tật không phải là một việc làm đơn thuần như giúp đỡ họ về ăn, mặc, ở, đi lại, mà còn là quá trình giúp đỡ người khuyết tật hoà nhập với cuộc sống cộng đồng, sinh hoạt, học tập và phát triển như những người bình thường nên công việc này đòi hỏi sự giúp đỡ tận tình, trách nhiệm của cả gia đình, cộng đồng và chính quyền các cấp. Những năm qua Uỷ ban nhân dân xã Bình Thạnh Đông cùng với cộng đồng dân cư và gia đình có người khuyết đã có nhiều hoạt động chăm sóc, giúp đỡ về y tế, giáo dục, phục hồi chức năng, dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho Người khuyết tật bước đầu đạt được những kết quả nhất định. II. Thực trạng về công tác chăm sóc người khuyết tật trên địa bàn xã Bình Thạnh Đông 1. Chăm sóc đời sống người khuyết tật: Căn cứ Luật người khuyết tật 2010, ngày 10/04/2012, Chính phủ ban hành Nghị định 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật người khuyết tật. Theo đó, Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật người khuyết tật về dạng tật, mức độ khuyết tật và xác định mức độ khuyết tật; chính sách xã hội hóa trợ giúp người khuyết tật; nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên, sản xuất trang thiết bị dành cho người khuyết tật; chế độ phụ cấp và chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật; việc làm cho người khuyết tật; giảm giá vé, giá dịch vụ; thực hiện lộ trình cải tạo công trình công cộng; phương tiện giao thông tiếp cận; bảo trợ xã hội; thành lập, hoạt động, giải thể cơ sở chăm sóc người khuyết tật. Thực hiện chính sách này đến năm 2010, UBND xã đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho 242 đối tượng với tổng số tiền 110.700.000 đồng. Trong đó: khuyết tật nặng 214 đối tượng, khuyết tật là hộ nghèo 28 đối tượng, 10 đối tượng trẻ em.. Cán bộ lao động thương binh và xã hội tại xã tiến hành thống kê, rà soát và kiểm tra các hộ gia đình có người khuyết tật để đảm bảo tất cả các đối tượng theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội với đối tượng bảo trợ xã hội quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; trợ giúp xã hội đột xuất; hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội đều được hưởng đúng, đủ và kịp thời trợ cấp theo quy định của Nhà nước. Trợ cấp hàng tháng của đối tượng được Phòng Lao động Thương binh Xã hội chi trả cùng kỳ với trợ cấp hàng tháng của đối tượng chính sách người có công vào từ ngày 05 đến ngày 10 hàng tháng, các chế độ trợ giúp cũng đã đựơc điều chỉnh phù hợp tùy theo độ tuổi và mức độ khuyết tật như khuyết tật nặng mỗi tháng được trợ cấp 675.000 đồng/tháng, khuyết tật nhẹ 405.000 đồng/tháng. Chính sách trợ giúp xã hội đã đã góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật. Tuy vậy, còn một bộ phận người khuyết tật nặng chưa được hưởng chính sách trợ giúp xã hội do quy định của Pháp lệnh là đối tượng thuộc diện hưởng chính sách phải là người khuyết tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa; mức trợ cấp xã hội hàng tháng còn quá thấp so với mặt bằng mức sống dân cư, chưa bảo đảm được những nhu cầu sống tối thiểu của người khuyết tật. 2. Chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng Theo kết quả cấp thẻ bảo hiểm y tế thì đến nay cán bộ lao động xã hội xã đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 242 người khuyết tật đạt 100% người khuyết tật thuộc đối tượng được cấp bảo hiểm y tế. Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và đầy đủ cho người khuyết tật đã tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật có thể khám chữa bệnh. Nếu có sự sai lệch về họ tên hay tuổi của thẻ bảo hiểm y tế so với chứng minh thư nhân dân của người khuyết tật thì cán bộ Lao động Thương binh Xã hội đều phối hợp với Bảo hiểm xã hội huyện làm xác nhận để người khuyết tật có thể khám chữa bệnh kịp thời và tiến hành đề nghị Bảo hiểm xã hội huyện cấp lại thẻ bảo hiểm y tế cho đúng với giấy tờ tuỳ thân của người khuyết tật. Người khuyết tật là đối tượng yếu thế trong xã hội lại thường phải chịu các rủi ro trong cuộc sống nên việc đảm bảo khám chữa bệnh kịp thời cho họ là một trong những việc làm vô cùng quan trọng góp phần bảo vệ sức khoẻ và đời sống của người khuyết tật.. Việc làm này đã góp phần to lớn trong việc giúp người khuyết tật tự phục vụ trong sinh hoạt và có thể tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất. Phối hợp với Phòng Bảo trợ xã hội- Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện, Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi huyện, phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thị xã đã cấp trên .. phương tiện trợ giúp như xe lăn, xe đẩy cho người khuyết tật. Ngoài ra phối hợp với đài truyền thanh xã thông báo những trường hợp trẻ em và người lớn bị khuyết tật đi khám sàn lọc khi có đợt khám miễn phí theo dự án của tại tuyến huyện và tỉnh đến các đối tượng nắm thông tin. Những hoạt động chăm sóc sức khoẻ, chỉnh hình, phục hồi chức năng cho người khuyết tật trên địa bàn xã không chỉ là sự giúp đỡ về vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn giúp họ yên tâm, tự tin trong việc hoà nhập với cuộc sống cộng đồng. 3. Học văn hoá đối với người khuyết tật Thực hiện Luật giáo dục, Pháp lệnh về người tàn tật, Chính phủ, các ngành và địa phương đã có nhiều quan tâm tạo điều kiện để người khuyết tật tiếp cận dịch vụ giáo dục. Chính quyền xã cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ người khuyết tật đến trường như miễn giảm tiền học phí cho người khuyết tật nghèo, hỗ trợ về vay ưu đãi cho người khuyết tật đi học các trường đào tạo chuyên nghiệp, cùng với các đoàn thể nhân dân tuyên truyền vận động nhân dân nơi cư trú, gia đình tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật đến trường, tuyên truyền, lên án các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị đối với người khuyết tật. 4. Học nghề và tạo việc làm của người khuyết tật: Học nghề của người khuyết tật Học nghề là một nhu cầu quan trọng đối với người khuyết tật, bởi nghề nghiệp là điều kiện quan trọng để họ có thể tiếp cận với việc làm, tạo thu nhập đảm bảo cuộc sống. Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy nghề cho người khuyết tật, chính quyền xã đã có nhiều chính sách hỗ trợ họ trong việc giúp họ tiếp cận với việc học nghề. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để người khuyết tật có thể tiếp cận với việc học nghề mở tại địa phương theo từng năm. CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 3.1. Chăm sóc sức khỏe phục hồi chức năng Tuyên truyền giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật, hướng dẫn người khuyết tật phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng là công tác cần thiết. Thực hiện chính sách ưu tiên trong khám chữa bệnh cho người khuyết tật. Triển khai chương trình phát hiện sớm can thiệp sớm tới gia đình và cộng đồng xã hội, phẫu thuật chỉnh hình, cung cấp dịch, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng là công tác cần thiết. Thực hiện chính sách ưu tiên trong khám chữa bệnh cho người khuyết tật. Triển khai chương trình phát hiện sớm can thiệp sớm tới gia đình và cộng đồng xã hội, phẫu thuật chỉnh hình, cung cấp dịch vụ trợ giúp người khuyết tật; Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phát hiện sớm, can thiệp sớm, để mở rộng can thiệp sớm khuyết tật và phục hồi chức năng cho người khuyết tật; đồng thời phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở y tế, nâng cao năng lực khám chữa bệnh, phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật của đội ngũ cán bộ y, bác sỹ, triển khai chương trình y tế cộng đồng can thiệp sớm khuyết tật. 3.2. Dạy nghề tạo việc làm cho người khuyết tật. Dạy nghề gắn với việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với người khuyết tật; có nghề, có việc làm giúp người khuyết tật nâng cao vị thế, tự tin và cải thiện chất lượng cuộc sống; Hoàn thiện chính sách phù hợp với đặc thù riêng của đào tạo nghề cho người khuyết tật. Tư vấn chuẩn bị tốt về tư tưởng, niềm tin, nhận thức cho người khuyết tật và gia đình, kết hợp với can thiệp sớm, phục hồi chức năng tạo điều kiện tiếp cận về giao thông, công trình xây dựng; Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, quan tâm tạo điều kiện đối với các cơ sở của người khuyết tật tự đào tạo nghề, tạo việc làm, cần có quy định ưu tiên tiêu thụ sản phẩm do người khuyết tật làm ra; Theo dõi, thống kê tình hình dạy nghề, thực trạng việc làm của người khuyết tật hàng năm để có kế hoạch, chiến lược cụ thể, sát với nhu cầu người khuyết tật cần coi trọng nâng cao kiến thức và phục hồi chức năng trong đó chú trọng đến kiến thức nghề, xây dựng niềm tin, ý chí nghị lực cho người khuyết tật. 3.3. Cải tạo xây dựng các công trình công cộng bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng: Việc tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng đã được quy định cụ thể trong Luật Người khuyết tật. Khi thiết kế, xây dựng cần phải áp dụng hệ thống quy chuẩn quy định kĩ thuật bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận, sử dụng. Tại các công trình công cộng p
Luận văn liên quan