Đề tài Một vài biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 5 tuổi

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác giáo dục. Từ Nghị quyết TW2 khóa VIII đã nêu rõ “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”. Nghị quyết cũng đã định hướng về chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa dất nước trở thành một nước công nghiệp. Làm tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, từng bước hội nhập với khu vực, với thế giới. Khi đất nước đã phát triển đạt tới trình độ cao về khoa học công nghệ đang tiến tới nền kinh tế tri thức và một xã hội thông tin. Đã tiếp tục khẳng định mục tiêu giáo dục mầm non phù hợp với các điều kiện và yêu cầu của từng nơi, đảm bảo hầu hết trẻ 5 tuổi được học qua chương trình mẫu giáo 5 tuổi để chuẩn bị vào lớp một. Trường mẫu giáo là nơi có trách nhiệm tổ chức thực hiện mục tiêu kế hoạch đào tạo những thế hệ trẻ mầm non, trở thành những đứa trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển cân đối hài hòa, giàu lòng thương yêu, biết quan tâm nhường nhịn những người xung quanh, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên, thông minh, ham hiểu biết, yêu thích cái đẹp, quý trọng cái đẹp, nhất là trẻ 5 tuổi, cần được giáo dục chăm sóc trẻ có một số kỹ năng sơ đẳng như: quan sát, ghi nhớ, so sánh, phân tích, tổng hợp, suy luận, phán đoán để trẻ vào trường phổ thông, trẻ thích được đi học. Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ là nhiệm vụ mục tiêu cơ bản nhất của trường mầm non. Thực hiện được mục tiêu này là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non. Công tác giáo dục phải được nhân dân ta nhận thức rõ tầm quan trọng của ngành học mầm non. Chính vì vậy việc nâng cao công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt quan tâm đến chất lượng trẻ 5 tuổi để trẻ được phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ là nền móng hình thành nhân cách trẻ, làm cơ sở vững chắc cho các bậc học tiếp theo. Vì vậy, đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước phải cần có một đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề và hiểu biết nghiệp vụ, có phẩm chất ý chí vươn lên, đồng thời phải có trí thức về đường lối quan điểm của Đảng. Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ từng độ tuổi là pháp lệnh Nhà nước do Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước. Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ là công cụ chủ yếu để Nhà nước lãnh đạo và giám sát hoạt động nuôi dạy trẻ ở trường mầm non, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để nhà trường và giáo viên cùng tổ chức công tác giáo dục trẻ. Những năm gần đây, trẻ em có sự tăng tốc trong sự phát triển thể lực, có mối quan hệ chặt chẽ giữa dinh dưỡng - sức khỏe và phát triển nhận thức - vốn sống. Việc hình thành các kỹ năng vận động, sự phối hợp khéo léo giữa các giác quan phụ thuộc vào quá trình rèn luyện của trẻ, môi trường chăm sóc giáo dục trẻ.

doc21 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 31/05/2013 | Lượt xem: 2054 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một vài biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 5 tuổi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN THUẬN AN TRƯỜNG MẪU GIÁO HOA CÚC 2 _________________ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: MỘT VÀI BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRẺ 5 TUỔI Người thực hiện: Nguyễn Thị Hoa Chức danh: phó Hiệu trưởng Số điện thoại cơ quan: 0650. 3 722 120 Năm học: 2010 - 2011 I. NHẬN THỨC : Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác giáo dục. Từ Nghị quyết TW2 khóa VIII đã nêu rõ “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”. Nghị quyết cũng đã định hướng về chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa dất nước trở thành một nước công nghiệp. Làm tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, từng bước hội nhập với khu vực, với thế giới. Khi đất nước đã phát triển đạt tới trình độ cao về khoa học công nghệ đang tiến tới nền kinh tế tri thức và một xã hội thông tin. Đã tiếp tục khẳng định mục tiêu giáo dục mầm non phù hợp với các điều kiện và yêu cầu của từng nơi, đảm bảo hầu hết trẻ 5 tuổi được học qua chương trình mẫu giáo 5 tuổi để chuẩn bị vào lớp một. Trường mẫu giáo là nơi có trách nhiệm tổ chức thực hiện mục tiêu kế hoạch đào tạo những thế hệ trẻ mầm non, trở thành những đứa trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển cân đối hài hòa, giàu lòng thương yêu, biết quan tâm nhường nhịn những người xung quanh, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên, thông minh, ham hiểu biết, yêu thích cái đẹp, quý trọng cái đẹp, nhất là trẻ 5 tuổi, cần được giáo dục chăm sóc trẻ có một số kỹ năng sơ đẳng như: quan sát, ghi nhớ, so sánh, phân tích, tổng hợp, suy luận, phán đoán để trẻ vào trường phổ thông, trẻ thích được đi học. Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ là nhiệm vụ mục tiêu cơ bản nhất của trường mầm non. Thực hiện được mục tiêu này là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non. Công tác giáo dục phải được nhân dân ta nhận thức rõ tầm quan trọng của ngành học mầm non. Chính vì vậy việc nâng cao công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt quan tâm đến chất lượng trẻ 5 tuổi để trẻ được phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ là nền móng hình thành nhân cách trẻ, làm cơ sở vững chắc cho các bậc học tiếp theo. Vì vậy, đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước phải cần có một đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề và hiểu biết nghiệp vụ, có phẩm chất ý chí vươn lên, đồng thời phải có trí thức về đường lối quan điểm của Đảng. Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ từng độ tuổi là pháp lệnh Nhà nước do Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước. Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ là công cụ chủ yếu để Nhà nước lãnh đạo và giám sát hoạt động nuôi dạy trẻ ở trường mầm non, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để nhà trường và giáo viên cùng tổ chức công tác giáo dục trẻ. Những năm gần đây, trẻ em có sự tăng tốc trong sự phát triển thể lực, có mối quan hệ chặt chẽ giữa dinh dưỡng - sức khỏe và phát triển nhận thức - vốn sống. Việc hình thành các kỹ năng vận động, sự phối hợp khéo léo giữa các giác quan phụ thuộc vào quá trình rèn luyện của trẻ, môi trường chăm sóc giáo dục trẻ. Ở lứa tuổi mầm non nói chung, trẻ mẫu giáo từ 3-6 tuổi nói riêng, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ. Do nhu cầu giao tiếp của trẻ với người lớn, trẻ với trẻ cùng lứa tuổi, trẻ với môi trường nhiên thiên và môi trường xã hội đã trở nên mạnh mẽ, trẻ với nguyện vọng được tự lực- tự chơi, tự khám phá tìm hiểu. Bên cạnh kiểu tư duy trực quan hành động, xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng đó là tiền đề phát triển tư duy lô gích, rất cần thiết ở tuổi học đường sau này. Sự lớn lên và phát triển của trẻ đều phải trải qua những đặc điểm chung nhưng ta nhận thấy rằng trẻ em ngày nay phát triển sớm hơn cả về tâm sinh lý, tình cảm, trí tuệ, các khuynh hướng, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên đa dạng phong phú, trẻ phát triển sớm, hiểu biết nhiều, nói năng mạch lạc hơn. Sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi mầm non mang tính tổng thể. Vì vậy chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non trước hết phải đảm bảo sự cân đối hài hòa giữa các mặt, chăm sóc sức khỏe, an toàn nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cần đảm bảo tác động đến trẻ, thích hợp, đúng đắn, đúng lúc, phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ. Công tác nâng cao chất lượng các hoạt động của trẻ là nhiệm vụ hàng đầu, là nhiệm vụ trọng tâm của trường. Cần tìm ra một số biện pháp, phương thức để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trong nhà trường nhằm thực hiện tốt mục tiêu của trường đề ra. II./ TÌNH HÌNH: Thuận lợi: Trường được sự quan tâm sâu sát của các cấp lãnh đạo Phòng - bộ phận chuyên trách mầm non, sự hỗ trợ của Chính quyền địa phương và có sự phối kết hợp tốt với các ban ngành, đoàn thể, các bậc phụ huynh học sinh. Công tác nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non – mẫu giáo là chủ đề năm học, là nhiệm vụ trọng tâm trong mục tiêu phát triển nhà trường trong năm học 2010-2011 và những năm tiếp theo. Khó khăn: - Trường còn thiếu biên chế giáo viên so với định mức. Các giáo viên có biên chế thâm niên cao nhưng hạn chế sức phấn đấu để đạt chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mầm non. Có phần hạn chế tính sáng tạo, linh động trong việc đầu tư, tổ chức các hoạt động đa dạng phong phú cho trẻ, để trẻ có điều kiện trãi nghiệm - vận dụng vốn sống, phát huy tính tích cực, sáng tạo khi được tham gia các hoạt động theo chương trình giáo dục mầm non mới. Do điều kiện kinh tế ở địa phương gặp nhiều khó khăn. Đa số bố mẹ các cháu là công nhân, nên không có thời gian để phối kết hợp thực hiện các biện pháp giáo dục trẻ cùng với nhà trường, cùng tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ được củng cố kiến thức, ôn luyện, rèn các kỹ năng thường xuyên. III./ BIỆN PHÁP: Cùng với Nhà trường nhận định rõ những mặt mạnh, mặt yếu về thực trạng của trường, đội ngũ giáo viên. Tôi đã mạnh dạn chỉ đạo thực hiện một số biện pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn. 1/. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo để nâng cao chất lượng trẻ 5 tuổi 2/. Chỉ đạo thực hiện chương trình 3/. Thường xuyên bồi dưỡng phương thức soạn giảng, hình thức tổ chức hoạt động, đa dạng phong phú 4/. Thực hiện công tác kiểm tra, rút kinh nghiệm và đề ra hướng khắc phục Cụ thể như sau: 1/ Xây dựng kế hoạch chỉ đạo để nâng cao chất lượng trẻ 5 tuổi: Đầu năm họp chung với kế hoạch chuyên môn của trường, dựa vào thế mạnh, tay nghề của đội ngũ giáo viên để xây dựng kế hoạch chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 5 tuổi. Trong cuộc hợp đầu năm, tập thể cán bộ giáo viên cùng nhau đưa ra phương hướng thực hiện nhiêm vụ năm học của cá nhân dựa theo công tác được phân công, đánh giá những ưu khuyết - điểm của năm trước, phân tích những khuyết điểm hạn chế, từ đó đề ra những biện pháp cụ thể cần thực hiện và nhất trí cao là cùng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục của trường, chú trọng chất lượng giáo dục trẻ 5 tuổi. Xây dựng kế hoạch cụ thể theo yêu cầu mục tiêu của ngành học phù hợp với tình hình thực trạng của trường. Nhà trường tổ chức Hội nghị cán bộ công chức đầu năm, phát động chị em trong tập thể tham gia đăng ký thi đua với từng chỉ tiêu cụ thể: Cụ thể về chất lượng học sinh: 98 % cháu đến lớp đều, ăn mặc sạch sẽ 85 % trẻ tham gia tích cực các hoạt động, năng động, sáng tạo 90 % trẻ thực hiện được các yêu cầu của cô 80 % trẻ biết dùng các kỹ năng cơ bản để giải quyết các bài tập, tình huống cô đưa ra. Biết ghi nhận so sánh kết quả 2/. Chỉ đạo thực hiện chương trình: Chỉ đạo thực hiện chương trình, nắm vững mục tiêu chương trình chăm sóc giáo dục mầm non mới, hướng tới phát huy tính tích cực, sáng tạo ở trẻ, phát triển ngôn ngữ, tư duy trẻ, rèn luyện và hình thành một số kỹ năng cơ bản, kỹ năng sống nơi trẻ: nắm vững nội dung, phương thức giáo dục trẻ đối với từng hoạt động chăm sóc giáo dục cụ thể, kết hợp với kinh nghiệm thực tiển của mình mà có biện pháp chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ hỗ trợ giáo viên, nhất là những giáo viên gặp khó khăn trong chuyên môn, nhất là trong đầu tư soạn giảng- tổ chức thực hiện các hoạt động đa dạng cho trẻ có cơ hội được trãi nghiệm vốn sống và vận dụng kiến thức vào thực tiển, được thử nghiệm, được luyện tập và rèn được một số kỹ năng cơ bản cần thiết. Đồng thời xây dựng kế hoạch, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, giúp giáo viên có khả năng vận dụng sáng tạo các phương pháp giáo dục vào từng đối tượng cụ thể. Nhất là những giáo viên lớn tuổi hay theo qui cũ, không có sáng tạo, giáo viên mới ra trường. Phải có kế hoạch cụ thể các nội dung, phương pháp giáo dục trong chương trình, phù hợp với tình hình thực tế của lớp mình phụ trách, với khả năng của trẻ trong lớp. Đảm bảo cho giáo viên thực hiện đúng, đủ và thực hiện có sự linh động sáng tạo. ( nội dung hoạt động được mở rộng phong phú, hình thức hoạt động đa dạng được tổ chức theo ý tưởng riêng của từng giáo viên- thu hút, lôi cuốn được trẻ tích cực trong suốt quá trình hoạt động, đồ dùng dạy học - đồ chơi mang tính động và mở, thời gian hoạt động không cố định tuyệt đối mà có thể gia giảm tùy theo hứng thú của trẻ, chú ý đến hoạt động nhóm nhỏ và cá nhân, chú ý phát triển tư duy, suy đoán với những câu gợi ý gợi mở, những tình huống yêu cầu trẻ giải quyết … 3/. Thường xuyên bồi dưỡng phương thức soạn giảng, hình thức tổ chức hoạt động, đa dạng phong phú: Do trình độ của giáo viên không đều, thường xuyên thăm lớp dự giờ, bồi dưỡng phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động cho chị em giáo viên, trao đổi kinh nghiệm trong chuyên môn để giáo viên có cơ hội học tập lẫn nhau và giúp đỡ nhau nâng cao tay nghề. Xây dựng đội ngũ giáo viên nồng cốt cho việc nâng cao chất lượng thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Công việc này tôi bắt đầu từ tháng 9 đầu năm học, hàng tháng đều triển khai về phương thức đặc thù của từng loại hoạt động, tổ chức thao giảng dạy tốt, rút kinh nghiệm các hoạt động. Đầu tư các hoạt động “Khám phá - Rèn kỹ năng sống” cho trẻ phù hợp thực tế qua các hoạt động, hướng dẫn giáo viên tổ chức thực hiện trên các tiết thao giảng ở trường, thao giảng huyện: cụ thể một vài hoạt động như sau * Hoạt động “ Làm quen với toán” Chủ đề: Bản thân, nội dung về số lượng, qua đề tài Pha nước tắc trong hoạt động cô cho trẻ quan sát và thực hiện các thao tác thực như: - Quan sát bảng công thức, qui trình thực hiện, cho trẻ phát biểu tự do - Quan sát cô thực hiện đong - đếm lượng nước chính vào ly lớn - Theo dõi cô cho số lượng đường vào ly - Quan sát nhận xét, nhận xét sự việc theo khả năng của trẻ, cô có thể gợi hỏi để trẻ trả lời được theo sự vật đang quan sát ( đường lắng xuống đáy ly) - Sau đó cô thực hiện thao tác khuấy đều, cho trẻ nhận xét tiếp, xác định một vài vấn đề: cái gì biến mất, khi biến mất nó đi đâu ( hòa tan trong nước), trạng thái nước hiện tại như thế nào so với lúc ban đầu ( trong hơn - đục hơn ) - Cô vắt lần lượt một nửa quả tắc vào, nhận xét ( hạt nổi, hạt chìm, khuấy đều, nhận xét chất tan – không tan, xác định số lượng quả tắc… - Cho trẻ nếm thử, cho biết kết quả mùi vị của nước ?, cảm giác - Cho trẻ nêu ích lợi của nước tắc đối với sức khỏe, giáo dục dinh dưỡng - Cho trẻ bắt đầu thực hành, cô nhắc nhở trẻ thực hiện các khâu vệ sinh trước - trong và sau khi chế biến để an toàn thực phẩm – dinh dưỡng. Khi thực hành chú ý đong và đếm số lượng theo đơn vị tính của từng nhóm khác nhau. - Cô bao quát chặt chẽ quá trình thực hiện của trẻ qua từng khâu, để kịp thời điều chỉnh bổ sung kiến thức chính xác, hướng láy, nhắc nhỡ trẻ thực hiện được, đúng đạt và yêu cầu của cô đề ra. Cho từng trẻ được thực hiện tất cả các thao tác mà trước đó đã được quan sát theo dõi cô thực hiện. - Trẻ thực hiện xong qui trình và có được sản phẩm ( ly nước tắc ), gợi ý trẻ chia - mời mọi người xung quanh và thưởng thức ly nước do chính tay mình tạo nên. Tuy nhiên để chú ý việc an toàn lao động của trẻ trong hoạt động: cô làm giúp trẻ một vài khâu như: cắt đôi quả tắc (1/2), một phần ba quả chanh (1/3 ) trước khi trẻ tiến hành thực hiện… - Cần chuẩn bị thêm một số vật liệu để có thể bù vào các hư hỏng do thao tác của một số trẻ còn lúng túng, vụn về. * Hoạt động “ Làm quen môi trường xung quanh” Chủ đề: Gia đình, nội dung An toàn thực phẩm qua đề tài “ Màu trong thức ăn” . Trong hoạt động trẻ được quan sát các hình ảnh gần gũi sát thực tế, được so sánh, suy luận, phán đoán tình huống, được thực hiện, và rèn kỹ năng các thao tác: giả, lượt, dầm, loại bỏ hạt dưa, vắt, nhồi, bóp, nặn bánh, rót chất lõng vào thố, vào bịt, cột, buột miệng bịt bằng thun…. Sau khi tự tay tạo ra các loại màu đẹp từ thiên nhiên trẻ được cô tạo điều kiện cho trẻ so sánh màu của thiên nhiên và màu hóa học trong cùng đơn vị đo đếm về số lượng. Sau khi so sánh trẻ được thực hiện pha chế, ngửi mùi thơm và nếm, thưởng thức một loại thực phẩm với các màu khác nhau của trẻ và cô vừa tạo nên ( cô chọn làm một thức ăn, thức uống trong một số loại có thể thực hiện ngay sau đó: pha chế nước quả, sinh tố bịt, cho màu vào bột gạo có đường, có béo, cho trẻ nặn bánh - đem hấp chín, cô đổ rau câu …). Cô có thể tạo điều kiện cho mỗi nhóm thực hiện một món hoặc mỗi nhóm thực hiện một màu trong cùng một món. Phần thưởng thức chú ý giao lưu giữa các nhóm để trẻ được nếm mùi vị của nhiều màu trong món ăn, thức uống đó. Tuy nhiên cô phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ “ Bé làm nội trợ” sạch và các loại thực phẩm cần dùng trong hoạt động phù hợp, vừa tay trẻ, tạo điều kiện tốt cho trẻ tham gia hoạt động hăng say. - Tạo tâm thế nhẹ nhàng- tự nhiên để vào hoạt động. Cô cho trẻ vận động theo nhạc hoặc tập một bài thể dục theo nhạc. Sau đó cho trẻ nêu một số vấn đề liên quan đến cơ thể và sức khỏe sau khi vận động. ( vd : sau khi tập thể dục con cảm thấy như thế nào? Trẻ trả lời tự do theo cảm nhận của trẻ: có trẻ cảm thấy vui, có trẻ cảm thấy mệt, có trẻ cảm thấy khát nước, thấy cơ thể nhẹ - có cảm giác bay bay lên, thấy đói bụng, muốn vận động tiếp, muốn chơi trò chơi gần giống như thế, muốn ngồi xuống nghỉ…) - Cô cho trẻ nêu ích lợi của việc vận động phù hợp đối với sức khỏe, chú ý đặt các câu hỏi gợi ý để khai thác vốn hiểu biết của trẻ, nếu cần cô bổ sung ý cho đầy đủ hơn. - Cô gợi hỏi trẻ: Trong cuộc sống, theo các con mình chỉ tập thể dục và vận động như thế thì đã đủ chưa ? Còn cần những yếu tố nào nửa? ( khai thác ở trẻ: cần phải ăn uống, cần phải ngủ, nghỉ ngơi, cần được vui chơi- giải trí… ) - Việc ăn uống rất quan trọng đối với sự sống. Vậy khi ăn uống chúng ta phải chọn lựa những đồ ăn - thức uống như thế nào ? để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đầy đủ dinh dưỡng cho sức khỏe. ( khai thác vốn sống của trẻ ) - Cho trẻ xem một số hình ảnh trình chiếu ở file powerpoint về thực phẩm không an toàn được làm từ các loại phẩm màu hóa học độc hại. Để trẻ có sự so sánh về các màu tự nhiên trước - sau khâu chế biến và các màu hóa học trước - sau khâu chế biến ra thành phẩm. Thực phẩm có màu đậm – nổi bật từ màu hóa học ( tạo ra từ màu bột, màu nước ) thường chứa chất đội, có hại cho sức khỏe: bánh, kẹo, mứt, nước uống có ga ( có màu xanh dương, màu hồng đậm, đỏ đậm, màu nâu đen, màu cam đậm). Màu ấy bám ngay vào lưỡi của trẻ sau khi vừa uống xong và các hình ảnh ngộ độc thực phẩm, bệnh, khám bệnh. Các thực phẩm có màu nhạt - đẹp được tạo từ nguồn gốc tự nhiên chứa nhiều vitamin, chất dinh dưỡng, có mùi thơm khi chế biến ( được tạo ra từ các loại rau củ, hoa quả ) như: Xôi, rau câu, bánh hấp, nước ép trái cây, … - Cho trẻ xem thực tế một số màu cô tạo từ rau củ hoa quả: màu đỏ của dưa hấu; của quả gấc, màu xanh của lá dứa, màu vàng của quả thơm, màu cam của quả cam, màu hồng của dâu tây, màu nâu nhạt của quả chanh muối - tắc muối dầm ra, màu trắng đục của dừa xay…. Cho trẻ nêu các thao tác có thể thực hiện trong quá trình tạo ra các màu trên, cô bổ sung các thao tác cần và những lưu ý khi thực hiện thao tác. - Song song đó cho trẻ làm quen một số loài cây lá có thể dùng tạo màu, tạo mùi được dùng chế biến trong thức ăn: lá dứa, quả dưa hấu, dừa xay, quả dâu tây, quả cam, quả thơm, quả gấc… . - Cho trẻ chia nhóm và cùng cô chuẩn bị vị trí các nhóm thực hiện tạo màu từ các loại rau củ quả cô đã chuẩn bị. Cho trẻ rửa tay sạch trước khi thực hiện: . Nhóm tạo màu xanh từ lá dứa: bạn cắt lá dứa thì dùng kéo sạch, cắt ngang lá khoảng 1cm; bạn khác giã lá, cho lá đã cắt vào cối, dùng chài giã nhuyễn, cho ra chén; bạn khác sẽ cho một ít nước chín vào, khấy đều và lược màu vào 1 chén khác qua cái rây loại bỏ xơ . Nhóm tạo màu đỏ từ dưa hấu: bạn dùng muỗn lấy phần dưa đỏ ra dĩa từ một nửa quả dưa cô vừa bổ ra; các bạn dầm, sẽ xúc dưa vào ly, dùng muỗn dầm nát đều và cho dưa ra tô; bạn khác sẽ dùng muỗn loại bỏ hạt dưa ra dĩa nhỏ . Nhóm tạo màu hồng từ quả dây tây: dùng kẹp cho dây đã được loại bỏ cuống và rửa sạch vào ly, dùng muỗn dầm nát đều. . Nhóm tạo màu vàng từ quả thơm: dùng muỗn cho thơm đã sắc miếng vào ly và dầm nát. . Nhóm vắt nước cốt dừa: bạn dùng muỗn xúc dừa xay cho vào cái vợt lượt cà phê hoặc cho vào túi vải nhỏ vừa tay trẻ (4-5 muỗn); đặt vợt vào một cái tô to; một bạn mang bao tay ni lông thực hiện thao tác nhồi, bạn khác cho ít nước chín vào, nhồi tiếp và và bó vắt nước vào một tô khác. . Nhóm tạo màu cam từ quả cam: thực hiện thao tác vắt nước cam lần lượt một nửa quả với dụng cụ vắt cam ( cam đã được gọt võ xanh và bổ đôi ) Sau khi các nhóm thực hiện xong, cùng đặt các tô màu thành hàng ngang để cùng quan sát - Cho trẻ so sánh giữa màu tự nhiên và màu hóa học ( lấy 2 ly nước như nhau, cô lần lượt cho số giọt màu bằng nhau vào, khấy đều cho trẻ nhận xét độ đậm nhạt của nước trong 2 cái ly, cho trẻ suy đoán vì sao màu trong thực phầm được chế biến từ màu hóa học thường có màu đậm, trông rất bắt mắt và không phai màu khi để trong thời gian dài. - Tiếp tục cô cùng trẻ pha chế nước quả với các loại màu tự nhiên vừa tạo nên hoặc cô tiến hành đổ rau câu. Để trẻ thưởng thức được mùi thơm của màu xanh từ lá dứa và mùi béo của màu trắng từ dừa xay. Cô có thể sáng tác lời mới cho bài đồng dao, hò - vè vui, theo đề tài và cho trẻ đọc khi kết thúc hoạt động để khắc sâu kiến thức: “ Rềnh rềnh ràng ràng , Đi chợ mua hàng. Ôi chao nhiều quá ! Hồng hồng cam cam, Xanh xanh đỏ đỏ, Chú ý mẹ ơi ! Thông báo khắp nơi, An toàn thực phẩm. Thức ăn màu đậm, Độc hại vô cùng. Không mua không dùng, ai ơi xin nhớ, Xin nhớ xin nhớ, cái mà xin nhớ. ” - Khi được thưởng thức món ăn có công sức đóng góp của trẻ, trẻ sẽ rất vui, rất ấn tượng và khắc sâu về những kiến thức, kỹ năng, cảm xúc, cảm giác khi được tham gia tất cả các khâu và thực hiện được các yêu cầu của cô trong quá trình diễn ra hoạt động. * Các đề tài khác: So sánh phân loại cô tổ chức cho trẻ chơi trãi nghiệm theo nhóm như: Phân loại: Cô cho các loại đậu có cùng số lượng ( gam ) như nhau ở mỗi nhóm, trộn lẫn các loại đậu vào nhau, đưa ra tình huống: các con suy nghĩ xem có bao nhiêu cách ? để phân loại các loại đậu này, cho trẻ phát biểu nên phân nhóm theo những đặc điểm nào ( trẻ sẽ nêu tự do theo ý trẻ: phân loại theo màu sắc, phân loại theo dạng ( dài, tròn), phân theo kích thước ( to - bé ) Cho trẻ phân theo ý trẻ ở mỗi nhóm. Các nhóm nêu kết quả phân loại ( cho trẻ xem kết quả phân loại không giống nhau của mỗi nhóm ) trẻ học được nhiều điều ở nhóm bạn mình đang tham gia và các nhóm khác. Trẻ chơi với các loại hạt đậu: đậu xanh, đậu đen, đậu hòa lan ( trắng dài), đậu phộng, đậu nành, và các dụng cụ để phân loại: rổ nhỏ; dụng cụ dùng để đong: ly nhựa nhỏ có kích thước không giống nhau ở mỗi nhóm, que kem dùng để gạt khi đong; bịt ni lông ( 2 loại cho mỗi nhóm và số lượng khác nhau) để đổ hạt vào bịt sau khi đong; que nhỏ hoặc số: để ghi nhớ kết quả sau đong, dây dún hoặc dây thun để buột miệng bịt khi bịt đã đầy. So sánh: - Cùng lượng (gam ) hạt như nhau mà đong vào số lượng bịt khác nhau. - Cùng số lượng bịt như nhau mà số lượng ly đong vào khác nhau. - Cùng số lượng hạt như nhau mà đong vào số lượng bịt khác nhau. (do kích cở của bịt không giống nhau )
Luận văn liên quan