Đề tài Quy chế pháp lý chung về hợp đồng bảo hiểm

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng khá cao, có nhiều sản phẩm cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế xã hội đăch biệt đã thu hút được nguồn vốn nhàn dỗi từ phí bảo hiểm đầu tư vào phát triển kinh tế quốc dân. Số lượng sản phẩm bảo hiểm cũng gia tăng mạnh, đến nay đã có gần 1000 sản phẩm. Trong đó có những sản phẩm cho những ngành quan trọng như dầu khí, hàng không, đóng tàu, xây dựng cầu đường… đã gián tiếp tăng cường vốn đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước vào lĩnh vực bảo hiểm. Cũng chính vì thế mà những thách thức của thị trường bảo hiểm là rất khó kiểm soát, cạnh tranh ác liệt và những thay đổi lớn về cơ cấu kết hợp với nhau là những nét đặc trưng của hoạt động bảo hiểm. Các lĩnh vực, các nghiệp vụ và các sản phẩm bảo hiểm ngày càng được mở rộng, các hợp đồng bảo hiểm được kí kết ngày càng nhiều. Việt Nam cần có hệ thống pháp luật hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và có hiệu quả.

doc13 trang | Chia sẻ: ducpro | Ngày: 15/10/2012 | Lượt xem: 2677 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Quy chế pháp lý chung về hợp đồng bảo hiểm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
QUY CHẾ PHÁP LÝ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng khá cao, có nhiều sản phẩm cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế xã hội đăch biệt đã thu hút được nguồn vốn nhàn dỗi từ phí bảo hiểm đầu tư vào phát triển kinh tế quốc dân. Số lượng sản phẩm bảo hiểm cũng gia tăng mạnh, đến nay đã có gần 1000 sản phẩm. Trong đó có những sản phẩm cho những ngành quan trọng như dầu khí, hàng không, đóng tàu, xây dựng cầu đường… đã gián tiếp tăng cường vốn đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước vào lĩnh vực bảo hiểm. Cũng chính vì thế mà những thách thức của thị trường bảo hiểm là rất khó kiểm soát, cạnh tranh ác liệt và những thay đổi lớn về cơ cấu kết hợp với nhau là những nét đặc trưng của hoạt động bảo hiểm. Các lĩnh vực, các nghiệp vụ và các sản phẩm bảo hiểm ngày càng được mở rộng, các hợp đồng bảo hiểm được kí kết ngày càng nhiều. Việt Nam cần có hệ thống pháp luật hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và có hiệu quả. Phần I. Khái quát chung về pháp luật kinh doanh bảo hiểm I, Hợp đồng kinh doanh bảo hiểm 1.Khái niệm Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. (Đ12 LKDBH) Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Đ567 BLDS) - Đối tượng bảo hiểm bao gồm: *Con người, *tài sản, *trách nhiệm dân sự và các *đối tượng khác theo quy định của pháp luật (Đ569 BLDS) 2 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận tự nguyện giữa các bên chủ thể theo đó quyền và nghĩa vụ của các ben trong hợp đồng được quy định như sau: a, Bên bảo hiểm Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm (Đ17 LKDBH) + Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm: (7) -Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; - Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm; - Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 19, khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật này; K2 Đ19 LKDBH: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây: (2) * Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường; * Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này. K2 Đ20 LKDBH: Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm. K2 Đ35 LKDBH: Trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày, kể từ ngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hai năm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. K3 Đ50 LKDBH: Trong trường hợp người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền ấn định một thời hạn để người được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; nếu hết thời hạn này mà các biện pháp bảo đảm an toàn vẫn không được thực hiện thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm. - Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; - Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; - Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đó bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự; - Các quyền khác theo quy định của pháp luật. + Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm: (6) - Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm; - Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm; - Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; - Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường; - Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; - Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. - Người tham gia Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm (Đ18 LKDBH) + Quyền của bên mua bảo hiểm (6) -Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm; - Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm; - Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20 của Luật này; K3 Đ19 LKDBH: Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật. K1 Đ20 LKDBH: Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm. - Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; - Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật (Đ26 LKDBH ) -Các quyền khác theo quy định của pháp luật. + Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm (6) -Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đó thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; -Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm; - Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm; -Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; -Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; -Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. 3. Hình thức của hợp đồng bảo hiểm Hình thức Hợp đồng bảo hiểm phải thể hiện bằng văn bản do trong những đặc điểm của bảo hiểm là một cam kết dân sự trong đó DNBH đưa ra cam kết bồi thường theo những điều kiện và cách thức nhất định cho những rủi ro tổn thất được bảo hiểm. Điều 14 Luật KDBH quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp Luật  quy định.” Thường thì HĐBH là mẫu soạn sẵn của DNBH để điền những nội dung và được người tham gia bảo hiểm chấp nhận ghi vào giấy yêu cầu bảo hiểm. Theo Bộ Luật  Dân sự những hợp đồng soạn sẵn nếu có điều kiện từ ngữ nào không được đề cập đến hoặc có cách hiểu không rõ ràng thì được giải thích sao cho có lợi cho người tham gia bảo hiểm. Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm là vấn đề quan trọng của hợp đồng bảo hiểm, nó ràng buộc trách nhiệm phải bồi thường của DNBH nếu rủi ro tổn thất được bảo hiểm xảy ra, đồng thời ràng buộc trách nhiệm phải đóng đủ phí của người tham gia bảo hiểm tính từ thời điểm đó. Điều 15 Luật KDBH: “Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.” Việc vừa chấp nhận bảo hiểm xong đã bán hợp đồng bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng. Vì vậy cần phải quy định rõ hợp đồng bảo hiểm nhất thiết phải lập thành văn bản và quy định rõ thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm để gắn chặt nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, bảo vệ quyền lợi khách hàng ngay từ thời điểm phát sinh trên. Phần II. Thực trạng về thực hiện hợp đồng bảo hiểm hiện nay 1. Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hạ phí bảo hiểm nhằm đoạt các hợp đồng bảo hiểm gây ra tình trạng phát triển không lành mạnh của thị trường bảo hiểm. Việc hạ phí bảo hiểm nhằm có được thị phần hay giành được dịch vụ không phải là hình thức cạnh tranh mới song lại đang trở thành công cụ cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay Trên thực tế, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã xuất hiện tình trạng có những sản phẩm bảo hiểm mức phí đã giảm từ 40-50%, thậm chí còn thấp hơn quy định của Bộ Tài chính rất nhiều lần. Để giành được dịch vụ, nhiều công ty bảo hiểm sẵn sàng hạ phí bằng mọi giá mà không tính đến hiệu quả kinh doanh. Vì nôn nóng muốn giành thị phần, các công ty cổ phần bảo hiểm mới ra đời đã sẵn sàng hạ phí bảo hiểm đến “chóng mặt” đối với những khách hàng lớn, có nhiều tiềm năng để khai thác. Một sản phẩm rẻ hơn thông thường không thể có một chất lượng phục vụ tốt. Vì với mức phí bảo hiểm thấp, sản phẩm bảo hiểm đó không thể tái bảo hiểm được. Khi có tổn thất xảy ra, ví dụ trong bảo hiểm hàng hoá đặc biệt là với lô hàng có giá trị lớn, vượt quá khả năng thanh toán, hơn nữa lại không được tái bảo hiểm, khách hàng sẽ là người chịu nhiều thiệt thòi khi các quyền lợi bảo hiểm không được bảo đảm. 2. Trên thị trường bảo hiêmr hiện nay còn tồn tại những hành động cạnh tranh thiếu tính chuyên nghiệp bằng cách dùng các mối quan hệ để gạt các đối thủ tiếp cận khai thác dịch vụ. 3. Doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm nguyên tắc tự do tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm. Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm đã sử dụng các biện pháp hành chính gây sức ép, lôi kéo, ép buộc người tham gia bảo hiểm phải mua bảo hiểm hoặc sử dụng dịch vụ môi giới bảo hiểm tại một doanh nghiệp, trái với quyền tự do lựa chọn và giao kết hợp đồng. Vấn đề này thường xuất hiện trong bảo hiểm về con người . Điển hình là trong nghiệp vụ bảo hiểm học sinh. Một vài doanh nghiệp bảo hiểm mới ra đời hoặc mới triển khai nghiệp vụ, vì muốn chiếm lĩnh thị trường nên đã chấp nhận hỗ trợ nhà trường với nguồn kinh phí lớn, thậm chí còn cao hơn cả phí bảo hiểm thu được. Cách hỗ trợ này đã tạo điều kiện cho nhà trường gây sức ép với các doanh nghiệp bảo hiểm khác, làm xấu đi hình ảnh của bảo hiểm học sinh. Bất cập của pháp luật hiện hành Pháp luật hiện hành quy định chưa hợp lý về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện được bảo hiểm. Theo Điều 16 - LKDBH: “1. Điều khoản; 2. Điều khoản này phải được quy định rõ trong khi giao kết hợp đồng; Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây: a) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý; b) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện được bảo hiểm”. Đây là quy định chung áp dụng cho mọi loại hình hợp đồng bảo hiểm, bao gồm cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Ngoài việc yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm phải quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm để khách từ chối tham gia bảo hiểm, luật pháp cũng có những quy định hạn chế nhất định liên quan đến vấn đề này. Quy định những trường hợp không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm chính là một hạn chế như vậy với mục đích bảo vệ người tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm theo đúng thông lệ và đạo lý xã hội. Như vậy quy định trên chỉ giới hạn đối với đối tượng là “người mua bảo hiểm”- điều này chỉ có thể đúng đối với loại hình bảo hiểm tài sản hay bảo hiểm trách nhiệm dân sự còn đối với bảo hiểm con người thì đối tượng là “người được bảo hiểm” hay “người thụ hưởng” chưa được điều luật này đề cập đến. Vì trong rất nhiều hợp đồng bảo hiểm con người, người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng không trùng là một. Thực tiễn việc áp dụng điều khoản loại trừ trong trường hợp này theo Pháp luật về bảo hiểm các nước cũng như các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đang được các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai tại Việt Nam và các thị trường khác thì doanh nghiệp bảo hiểm không trả tiền bảo hiểm chỉ đối với “hành vi cố ý vi phạm pháp luật của người được bảo hiểm”. Như vậy, riêng đối với loại hình bảo hiểm con người thì cần phải áp dụng điều khoản loại trừ đối với người được bảo hiểm vi phạm pháp luật do cố ý chứ không phải bên mua bảo hiểm mới là hợp lý. Bên cạnh đó, từ quy định của điều 16 - LKDBH, nếu theo tinh thần “được làm những gì mà pháp luật không cấm” thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đưa vào điều khoản loại trừ trách hay người thụ hưởng vi phạm pháp luật do vô ý và chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo người mua bảo hiểm, người thụ hưởng, người được bảo hiểm có được bảo vệ hay không. Rõ ràng đây là một điểm khuyết thiếu cần thiết phải xem xét bổ sung. Hiện nay hầu hết các hợp đồng bảo hiểm, đặc biệt, là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đều dựa theo mẫu của nước ngoài nên khi chuyển đổi ngôn ngữ, một số từ ngữ còn rất mới mẻ và khó hiểu Phần III Giải pháp và kiến nghị Về phía cơ quan chức năng Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng. Việc thông tin và giáo dục về bảo hiểm cũng như pháp luật bảo hiểm cần được tăng cường và phổ biến rộng rãi (các phương tiện thông tin đại chúng, biên sọan và xuất bản các ấn phẩm có liên quan, biên sọan từ điển bảo hiểm...). Tạo điều kiện khuyến khích mạng lưới trung gian bảo hiểm phát triển dưới hình thức môi giới bảo hiểm, đại lý độc lập để giúp người dân tiếp cận bảo hiểm một các dễ dàng và bảo vệ quyền lợi của người mua bảo hiểm. Về phía các nhà bảo hiểm - Tăng cường đào tạo chuyên môn cho các cán bộ - nhân viên; - Tăng cường hệ thống đại lý bảo hiểm về trình độ lẫn đạo đức nghề nghiệp để phục vụ tốt và tận tâm cho khách hàng bảo hiểm Phần IV Tình huống trong thực tế về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm Ông A và Bà B tham gia Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ thời hạn 15 năm cho chính mình với số tiền bảo hiểm (STBH) ghi tại Phụ lục 1- Mục III của Hợp đồng Bảo hiểm như sau: + STBH của Hợp đồng chính (Bảo hiểm và tiết kiệm): 20.000.000 đồng + STBH của Điều khoản riêng I(Bảo hiểm thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn): 20.000.000 đồng + STBH của Điều khoản riêng II (Bảo hiểm chi phí phẫu thuật): 20.000.000 đồng Đến ngày đáo hạn Hợp đồng bảo hiểm nói trên, Công ty bảo hiểm nhân thọ PT đã thanh toán cho Ông A và Bà B với STBH của Hợp đồng chính cho mỗi người là 20.000.000 đồng cộng với lãi chia thêm. Được sự tư vấn của Văn phòng Luật sư C, ông A và bà B đã làm đơn yêu cầu Bảo Việt Nhân thọ PT thanh toán thêm STBH của các điều khoản riêng I, II với lý do viện dẫn là tại Điều 2 điểm 2.1 điều khoản Hợp đồng chính có ghi: “Đến ngày đáo hạn hợp đồng bảo hiểm, Công ty sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm đã cam kết tại Phụ lục 1- Mục III của Hợp đồng Bảo hiểm”. Trong trường hợp này yêu cầu của bà có được chấp thuận hay không? Trả lời : Yêu cầu của bà không được chấp thuận bởi các lý do sau : Thực tế, đề nghị của bà B với sự viện dẫn như trên là không có cơ sở pháp lý do đã hiểu điều khoản này một cách quá cứng nhắc, máy móc mà không căn cứ vào các cách thức giải thích hợp đồng đã được quy định tại Điều 408 Bộ luật dân sự năm 1995 (do tại thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm của bà B và ông A, Bộ luật dân sự 2005 chưa ra đời nên Bảo Việt lấy Bộ luật dân sự 1995 để giải thích). Lý do như sau: Thứ nhất, bản chất của hợp đồng chính và điều khoản riêng I, II mà ông A và bà B đã tham gia là hoàn toàn khác nhau. Hợp đồng chính là loại sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp vừa tiết kiệm vừa bảo hiểm (nghĩa là trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng nếu người được bảo hiểm (NĐBH) gặp rủi ro thương tật toàn bộ vĩnh viễn hoặc bị tử vong thì Công ty bảo hiểm sẽ trả STBH và nếu khi hợp đồng đáo hạn mà NĐBH còn sống thì sẽ được nhận STBH). Còn điều khoản riêng I (Bảo hiểm thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn) và riêng II (Bảo hiểm chi phí phẫu thuật) đơn thuần là sản phẩm bảo hiểm rủi ro (nghĩa là chỉ có rủi ro quy định trong các điều khoản riêng này xảy ra đối với NĐBH thì Công ty bảo hiểm mới trả tiền bảo hiểm theo các điều khoản riêng này). Điều này được giải thích rõ ngay tại Điều 2 điều khoản riêng I, II “Số tiền bảo hiểm theo điều khoản này được hiểu là giới hạn trách nhiệm tối đa của Công ty bảo hiểm đối với hậu quả của từng rủi ro được bảo hiểm xảy ra đối với Người được bảo hiểm”. Đây cũng là lý do tại sao số phí bảo hiểm của hợp đồng chính lại gấp rất nhiều lần số phí bảo hiểm của điều khoản riêng trong khi có cùng STBH . Thứ hai, giới hạn trách nhiệm của Công ty bảo hiểm nhân thọ PT đối với người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm đã được phân định rõ ràng, tách biệt tại phần quyền lợi bảo hiểm của điều khoản hợp đồng chính và điều khoản riêng I, II. Theo đó, Công ty bảo hiểm thanh toán STBH cho NĐBH khi hợp đồng đáo hạn chỉ được đề cập tại Điều 2 của điều khoản hợp đồng chính còn tại điều khoản riêng I, Công ty bảo hiểm chỉ trả STBH khi “NĐBH bị thương tật bộ phận vĩnh viễn do tai nạn” (phần III) và điều khoản riêng II khi “NĐBH bị phẫu thuật do bệnh tật hoặc tai nạn”(Điều 5 phần II). Nếu không bị rủi ro, tai nạn trong thời gian hợp đồng bảo hiểm thì khi đáo hạn, NĐBH không được nhận số tiền theo điều khoản riêng này. Với những lý do trên, mặc dù Điều 2 điểm 2.1 của bản điều khoản Hợp đồng chính có ghi: “Đến ngày đáo hạn hợp đồng bảo hiểm, Công ty sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm đã cam kết tại Phụ lục 1- Mục III của Hợp đồng Bảo hiểm” nhưng vì quy định này chỉ nằm trong điều khoản hợp đồng chính (chứ không nằm trong điều khoản riêng I, II) nên “toàn bộ số tiền bảo hiểm” mà ông A và bà B viện dẫn phải được hiểu là toàn bộ và chỉ số tiền của hợp đồng chính (20.000.000 đồng) chứ không thể bao gồm cả STBH của các điều khoản riêng và cũng không thể coi điều khoản này là “không rõ ràng”. Việc giải thích hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng không chỉ đơn thuần căn cứ vào câu chữ trong điều khoản, theo hướng có lợi cho người mua bảo hiểm mà phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với ý chí đích thực của các
Luận văn liên quan