Đề tài Thất thoát, lãng phí trong đầu tư - Thực trạng và giải pháp

Một trong những tư tưởng về quản lý kinh tế của Hồ chủ tịch đó là sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Hồ Chí coi đây là biện pháp quan trọng để tích luỹ vốn, để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt là ở một nước nghèo nàn và lạc hậu như nước ta. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, thất thoát lãng phí đang gây nhiều bức xúc và tranh cãi. Nó có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương; ở mọi cấp từ trung ương xuống cơ sở; các cơ quan hành chính nhà nước; các doanh nghiệp, các cơ quan sự nghiệp; các tổ chức chính trị -xã hội; trong các gia đình và từng người dân, xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, với mọi đối tượng. Thất thoát lãng phí gây thiệt hại lớn cho Đảng, Nhà nước, tập thể và công dân; ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Nó gây trở ngại lớn đối với quá trình đổi mới xây dựng đất nước; làm thất thoát khoản tài chính, tài sản lớn, làm biến chất cán bộ, công chức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước; làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trong con mắt của cộng đồng thế giới, trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài. Nó là nguy cơ cho tình trạng bất ổn định kinh tế xã hội. Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế thất thoát lãng phí trong đầu tư? Từ vấn đề cấp thiết đó, nhóm em xin đưa ra đề tài “Thất thoát, lãng phí trong đầu tư: thực trạng và giải pháp”.

doc50 trang | Chia sẻ: ducpro | Ngày: 01/11/2012 | Lượt xem: 3887 | Lượt tải: 17download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thất thoát, lãng phí trong đầu tư - Thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Một trong những tư tưởng về quản lý kinh tế của Hồ chủ tịch đó là sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Hồ Chí Minh coi đây là biện pháp quan trọng để tích luỹ vốn, để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt là ở một nước nghèo nàn và lạc hậu như nước ta. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, thất thoát lãng phí đang gây nhiều bức xúc và tranh cãi. Nó có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương; ở mọi cấp từ trung ương xuống cơ sở; các cơ quan hành chính nhà nước; các doanh nghiệp, các cơ quan sự nghiệp; các tổ chức chính trị -xã hội; trong các gia đình và từng người dân, xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, với mọi đối tượng. Thất thoát lãng phí gây thiệt hại lớn cho Đảng, Nhà nước, tập thể và công dân; ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Nó gây trở ngại lớn đối với quá trình đổi mới xây dựng đất nước; làm thất thoát khoản tài chính, tài sản lớn, làm biến chất cán bộ, công chức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước; làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trong con mắt của cộng đồng thế giới, trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài. Nó là nguy cơ cho tình trạng bất ổn định kinh tế xã hội. Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế thất thoát lãng phí trong đầu tư? Từ vấn đề cấp thiết đó, nhóm em xin đưa ra đề tài “Thất thoát, lãng phí trong đầu tư: thực trạng và giải pháp”. Nhóm em rất mong qua sự nghiên cứu lý thuyết và tra cứu thông tin cho đề tài có thể hiểu thêm về vấn đề này và vận dụng vào thực tế để góp phần đưa nước ta hoàn thành quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như mục tiêu đã đề ra của Đảng và Nhà nước ta. CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ Khái quát về đầu tư 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. 2. Phân loại đầu tư 2.1 Đầu tư tài chính Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Với sự hoạt động của hình thức đầu tư  tài chính, vốn bỏ ra đầu tư  được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác). Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư. Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư  nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền. Đây là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư  phát triển. Đầu tư thương mại Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tư  thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung . . Đầu tư phát triển Khái niệm Đầu tư phát triển (ĐTPT) là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. 2.3.2 Vấn đề kết quả và hiệu quả của ĐTPT Kết quả của ĐTPT là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị,…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,…) và tài sản vô hình (những phát minh, sáng chế, bản quyền,…). Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Hiệu quả của ĐTPT phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt kết quả đó. Kết quả và hiệu quả ĐTPT cần được xem xét trên cả phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Đối với đề tài về thất thoát, lãng phí (TTLP) trong đầu tư, chúng ta sẽ xem xét nguyên nhân và giải pháp của vấn đề này theo khía cạnh ĐTPT. TTLP trong ĐTPT Quan niệm về thất thoát, lãng phí 1.1 Thất thoát là gì? Thất thoát vốn trong đầu tư là tất cả các hoạt động tác động tới dự án đầu tư làm mất mát hoặc tổn thương các nguồn lực của dự án. Thất thoát xảy ra đối với khoản tiền đầu tư mà nhà đầu tư bỏ ra để trả cho các chi phí được duyệt trong quyết toán vốn đầu tư. Các khoản chi phí này chưa được kiểm tra, giám sát chặt chẽ dẫn đến gian lận, tham nhũng hay rút ruột công trình gây thất thoát vốn ngay từ khi đồng vốn chưa đi vào dự án. 1.2 Lãng phí là gì Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm. Trong đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), mọi việc làm tăng chi phí đầu tư so với mức cần thiết dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư được coi là sự lãng phí. Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cũng như Pháp lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chúng ta có thể hiểu lãng phí là sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, thời gian... vượt quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đã xác định Lãng phí diễn ra nổi lên ở một số dạng sau đây: Dự án được đầu tư khi chưa thực sự cần thiết phải đầu tư; Dự án được đầu tư với quy mô, công suất không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư ở địa điểm và thời điểm không hợp lý; Thiết bị và công trình của dự án có chất lượng thấp làm giảm tuổi thọ của dự án; Tiến độ dự án bị kéo dài; Một số chi phí chung, chi phí khác, chi phí thiết bị, lao động và vật tư cao hơn thực tế; Một số khoản chi phí trong dự án được chi chưa tiết kiệm. Lãng phí và thất thoát là hai căn bệnh trong đầu tư XDCB. Trong sự lãng phí có thất thoát vì trong số tiền lãng phí có thể có phần bị thất thoát và thất thoát dẫn đễn lãng phí vì thất thoát làm tăng chi phí không cần thiết hoặc làm giảm chất lượng công trình dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư. 2. Các dạng TTLP trong ĐTPT TTLP xuất hiện dưới nhiều hình thức cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau. Dưới đây là một số loại cơ bản 2.1. TTLP trong đầu tư XDCB Đây là một dạng TTLP chi tiêu diễn rất nghiêm trọng. Thường bao gồm các dạng sau: - TTLP trong khâu quy hoạch (không có quy hoạch hoặc quy hoạch không tốt). - TTLP trong khâu xác định chủ trương đầu tư. - TTLP trong khâu thẩm định, phê duyệt, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán. - TTLP trong khâu kế hoạch hoá đầu tư. - TTLP trong khâu đấu thầu xây dựng. - TTLP trong công tác chuẩn bị xây dựng. - TTLP trong khâu tổ chức thực hiện. - TTLP trong cơ chế quản lý giá trong xây dựng. - TTLP trong khâu thanh, quyết toán. 2.2. TTLP khác trong ĐTPT - TTLP trong công nghệ. - TTLP trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực. - TTLP trong thu thuế. III. Những khả năng dẫn đến TTLP từ đặc điểm của ĐTPT Khi nghiên cứu về ĐTPT có thể thấy được rằng các đặc điểm của nó cũng tiềm ẩn những khả năng dẫn đến TTLP Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn có thể dẫn đến TTLP Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Như vậy, nếu không có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm rất dễ gây ra TTLP. Với nguồn vốn đầu tư lớn như thế, nhưng quyết định đầu tư chủ yếu vẫn chạy theo số lượng mà chưa tính đến khả năng bố trí nguồn vốn, chưa chú trọng đúng mức đến hiệu quả đầu tư. Chính điều đó đã dẫn đến những lãng phí nguồn vốn ĐTPT. Lao động cần sử dụng cho các dự án là rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ không tuân thủ một kế hoạch định trước và không hợp lý đã làm chậm tiến độ của dự án và bị ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lại lao động, giải quyết lao động dôi dư… tạo ra TTLP Thời kỳ đầu tư kéo dài gây TTLP các nguồn lực Thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình ĐTPT có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm. Trên thực tế việc đầu tư dàn trải đã dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian thi công các công trình, dự án; nguồn vốn ngân sách lại phải phân tán, “rải mành mành” làm nhiều dự án cùng dở dang, chậm đưa vào sử dụng nên không phát huy hiệu quả đồng vốn đầu tư, gây TTLP các nguồn lực. Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, giảm khả năng TTLP cần tiến hành phân kì đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. TTLP do thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động 2 mặt, cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội… Trong quá trình đầu tư, quản lý quá trình vận hành kết quả đầu tư không tốt, không nhanh chóng đưa thành quả đầu tư vào sử dụng đã làm cho công trình không hoạt động tối đa được công suất, chậm thu hồi vốn và dẫn đến các hao mòn vô hình. Ngoài ra cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đómà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư và rất dễ dẫn đến thất thoát lãng phí. Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư bị thất thoát do ảnh hưởng của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội vùng Các thành quả của hoạt động ĐTPT mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên. Không thể dễ dàng di chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác nên công tác quản lý hoạt động ĐTPT cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau: Trước tiên chính là việc chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư. Đầu tư cái gì, công suất bao nhiêu là hợp lý… cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựa trên những căn cứ khoa học. Đối tượng đầu tư và quy mô đầu tư không thích hợp làm cho dự án đầu tư đó không hiệu quả. Ví dụ, công suất xây dựng nhà máy sàng tuyển than ở khu vực có mỏ than (do đó quy mô vốn đầu tư) phụ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than của mỏ. Do trữ lượng than của mỏ ít mà quy mô của nhà máy sàng tuyển lớn nên không đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết công suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án. Thứ hai là vấn đề lựa chọn địa điểm đầu tư. Để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúng phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hoá… Không đảm bảo xây dựng một bộ tiêu chí khác nhau và nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địa điểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất đã không thể khai thác được tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư cụ thể, không tạo điều kiện phát huy hiệu quả vốn đầu tư gây TTLP. ĐTPT có độ rủi ro cao. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi ro của hoạt động ĐTPT thường cao. Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản phẩm không đạt công suất thiết kế… gây ra những tổn thất về vốn đầu tư. TTLP trong các giai đoạn đầu tư. Theo nghiên cứu của Bộ Xây dựng, tình hình TTLP trong ĐTPT xảy ra ở tất cả các khâu từ quy hoạch, quyết định đầu tư, thực hiện đầu tư, vận hành kết quả đầu tư. Trong khâu quy hoạch Quy hoạch (QH) là khâu rất quan trọng, làm tiền đề cho các quá trình đầu tư. Hiện nay, chất lượng QH phát triển nhiều ngành chưa cao hoặc chậm được phê duyệt, chưa gắn kết chặt chẽ QH phát triển ngành với vùng và địa phương, chưa sát với thực tế, chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa chú trọng thỏa đáng đến yếu tố môi trường và xã hội… Rõ ràng là hiện chưa có sự thống nhất giữa QH “cứng” với quy hoạch “mềm”, giữa QH mang tính định hướng với QH mang tính chỉ tiêu. Chất lượng QH còn hạn chế, thiếu tầm nhìn dài hạn và đồng bộ, chưa tuân thủ tính khách quan của quy luật thị trường. Kế hoạch đầu tư phải chờ điều chỉnh, trong khi QH không sát, dẫn đến có công trình xây dựng xong hiệu quả rất thấp, gây TTLP lớn. Tình trạng lập QH cho có hình thức để đủ thủ tục xin vốn đầu tư, quyết định kế hoạch đầu tư không chuẩn bị kỹ vẫn phổ biến; Khi chất lượng công trình kém, xuống cấp nhanh thì lại đổ cho thời gian, nhiệm vụ gấp, phải bảo đảm tiến độ trên giao… Tính pháp lý của QH thấp, phổ biến tình trạng không tuân thủ nghiêm theo QH, kế hoạch đã được duyệt; Thay đổi bổ sung không đúng thẩm quyền làm sai lệch QH chung, chưa tôn trọng QH của các ngành khác… Trong công tác chuẩn bị đầu tư: Công tác chuẩn bị đầu tư bao gồm: lập và thẩm định dự án đầu tư Các nguyên nhân dẫn tới giảm chất lượng chuẩn bị dự án vừa có tính chất chủ quan bắt nguồn từ chính các chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng ở giai đoạn này gồm chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan và vừa có tính chất khách quan phát sinh từ các bất cập trong quy trình quản lý đầu tư xây dựng, trong các định mức kinh tế - kỹ thuật và trong hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn. Trong công tác thực hiện đầu tư Thực hiện đầu tư bao gồm: đấu thầu công trình và thi công dự án Công tác đấu thầu, chỉ định thầu vi phạm các quy định hiện hành. Hạ giá thầu thấp không có căn cứ để trúng thầu hoặc trúng thầu với giá rất thấp nhưng vẫn làm được, chứng tỏ khâu lập thiết kế dự toán không đúng; Hiện tượng thông thầu, tiêu cực, tham nhũng để chọn nhà thầu sai dẫn đến những hiện tượng rất nghiêm trọng như vụ Thuỷ cung Thăng Long, một số vụ của Tổng Công ty Dầu khí... Trong việc thi công công trình, những sai sót trong kỹ thuật thiết kế và thi công , vi phạm về nghiệm thu, thanh quyết toán, có tiêu cực xảy ra ở phía chủ đầu tư, cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công và cả phía nhà cung cấp. Đồng thời hiện tượng tráo đổi vật tư, thiết bị đưa vào công trình, nâng giá, khai khống khối lượng, cắt xén vật tư cũng đưa lại những TTLP cho công trình. Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác; hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ và có hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đã được đề ra trong dự án đầu tư. Việc kéo dài thời gian vận hành kết quả đầu tư làm cho mức rủi ro trong đầu tư cao hơn, dễ gây ra những lãng phí đối với công trình, dự án. V. Các nhân tố tác động đến TTLP trong đầu tư 1. Nhân tố con người Công tác cán bộ là cốt lõi để giải quyết mọi vấn đề. Trong hoạt động đầu tư có nhiều chức danh cán bộ như: khảo sát, tư vấn, thiết kế, soát, kiểm tra, giám sát, thẩm định, kiểm định, phản biện, quản lý doanh nghiệp tư vấn, người có thẩm quyền quyết định phê chuẩn, quản lý dự án, quản lý thi công,… Mỗi chức danh nhiều khi không có các nhân nào chịu trách nhiệm chính, cá nhân nào liên đới trách nhiệm, vậy nên đã xảy ra tình trạng “rất nhiều người có quyền, song rất ít người chịu trách nhiệm cụ thể” tồn tại trong quản lý điều hành và triển khai dự án nên thất thoát dễ dàng xảy ra. Vậy nguyên nhân là do đâu? 1.1 Phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý con người yếu kém Phẩm chất đạo đức là yếu tố cơ bản đầu tiên của người cán bộ. Cán bộ có giỏi nhưng phẩm chất kém cũng không mang đến hiệu quả trong công tác. Đó là sự sa sút, biến chất về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ, công nhân, viên chức, lợi dụng cương vị được giao cố ý làm trái, thông đồng, móc ngoặc với nhau để làm ăn phi pháp trong đầu tư XDCB, coi việc nhận dự án công trình XDCB như một cơ hội làm ăn để tăng thu nhập, làm giàu bất chính và thăng tiến, làm giảm hiệu lực của các nguyên tắc pháp lý, phá vỡ các quy trình quy phạm trong ĐTXD, gây nên những hậu quả đáng tiếc. Điển hình nhất là vụ PMU18 ở Bộ GTVT. Hiện nay, tình trạng thiếu trách nhiệm, không sâu sát thực tế, vì lợi ích cục bộ của ngành, địa phương và vì thành tích đã có những quyết định chủ trương đầu tư sai là nguyên nhân quan trọng gây ra dàn trải, TTLP không nhỏ, ảnh hưởng về lâu dài. Tuy chưa có số liệu đầy đủ nhưng nhiều chuyên gia cho rằng trong đầu tư và xây dựng, lãng phí ở các khâu do các quyết định không sát, không đúng chiếm khoảng 60-70% tổng số TTLP. Chưa kể tình trạng cố ý làm sai, vi phạm pháp luật, vụ lợi trong đầu tư XDCB còn diễn ra ở nhiều dự án. 1.2 Trình độ chuyên môn thấp Ngoài việc một số chủ thể tham gia quá trình triển khai các dự án cố ý vi phạm các quy định quản lý dự án thì ở nhiều trường hợp khác, năng lực hạn chế, trình độ chuyên môn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp của các chủ thể cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng, giá thành của dự án. Tại Hội thảo toàn quốc về nguồn nhân lực ngành xây dựng mới đây đã thống nhất nhận định: nguồn nhân lực trong XDCB vừa thiếu vừa yếu ở tất cả các khâu, các chủ thể tham gia quản lý triển khai (chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tư vấn khảo sát, thiết kế, giám sát, đến nhà thầu xây lắp). Thực tế này cũng đã được Đoàn giám sát của UBTVQH ghi nhận trong quá trình làm việc với các bộ, ngành địa phương. Báo cáo của Đoàn giám sát cho biết: Một số Ban quản lý dự án không có kỹ sư xây dựng; Việc phân cấp mạnh cho huyện, xã trong XDCB tỏ ra vượt quá khả năng chuyên môn của cán bộ thuộc các cấp này...
Luận văn liên quan