Tiểu luận Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

Thế giới đang bước vào xu thế toàn cầu hoá, với những bước phát triển rõ rệt cùng những thay đổi nhanh chóng trong tổng thể nền kinh tế, kĩ thuật, công nghệ và những biến đổi khác trong chính trị, xã hội. Tất cả đã đem lại cho thời đại một sắc màu riêng. Để hội nhập với nền kinh tế thế giới, các quốc gia đã không ngừng “chuyển mình” để không bị gạt ra khỏi vòng quay của sự phát triển, và sự “chuyển mình” ấy chỉ thực sự đạt hiệu quả khi các quốc gia mở rộng được nguồn vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển (có tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế). Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế, trên cả giác độ vĩ mô và vi mô.Trên giác độ vĩ mô, đầu tư nước ngoài tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người - ba khía cạnh để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Trên giác độ vi mô, đầu tư nước ngoài có tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, vấn đề lưu chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Đầu tư nước ngoài là nhân tố quan trọng và nó đã khẳng định rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế của các nước được đầu tư. Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII). Trong khi FII có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển thì FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, bổ sung vốn trong nước, tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công, tăng nguồn thu cho ngân sách. Thực tế trong những năm qua cũng như dự báo cho giai đoạn tới đã khẳng định tầm quan trọng của FDI với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay. Đánh giá đúng vị trí, vài trò của đầu tư nước ngoài, Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và đề ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là FDI) đối với chiến lược phát triển KT – XH của cả nước.

doc26 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 31/01/2013 | Lượt xem: 8825 | Lượt tải: 55download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI KHOA KINH TẾ VẬN TẢI ((( BÀI TIỂU LUẬN Đề tài: “Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI” Lớp Kinh tế Vận tải Thuỷ Bộ_K51 Hà Nội, năm 2011 LỜI MỞ ĐẦU: T hế giới đang bước vào xu thế toàn cầu hoá, với những bước phát triển rõ rệt cùng những thay đổi nhanh chóng trong tổng thể nền kinh tế, kĩ thuật, công nghệ và những biến đổi khác trong chính trị, xã hội. Tất cả đã đem lại cho thời đại một sắc màu riêng. Để hội nhập với nền kinh tế thế giới, các quốc gia đã không ngừng “chuyển mình” để không bị gạt ra khỏi vòng quay của sự phát triển, và sự “chuyển mình” ấy chỉ thực sự đạt hiệu quả khi các quốc gia mở rộng được nguồn vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển (có tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế). Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế, trên cả giác độ vĩ mô và vi mô.Trên giác độ vĩ mô, đầu tư nước ngoài tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người - ba khía cạnh để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Trên giác độ vi mô, đầu tư nước ngoài có tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, vấn đề lưu chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước... Đầu tư nước ngoài là nhân tố quan trọng và nó đã khẳng định rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế của các nước được đầu tư. Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII). Trong khi FII có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển thì FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, bổ sung vốn trong nước, tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công, tăng nguồn thu cho ngân sách... Thực tế trong những năm qua cũng như dự báo cho giai đoạn tới đã khẳng định tầm quan trọng của FDI với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay. Đánh giá đúng vị trí, vài trò của đầu tư nước ngoài, Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và đề ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là FDI) đối với chiến lược phát triển KT – XH của cả nước. Vì những nguyên do đó mà đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tác động của nó đối với nền kinh tế nước được đầu tư là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của các quốc gia. Và để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm em đã chọn đề tài tiểu luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI với những vai trò của nó tới phát triển kinh tế cũng như mọi khía cạnh của đời sống xã hội của các nước được đầu tư, và theo đó nhóm em cũng xin đưa ra sự liên hệ về FDI với Việt Nam. Tiểu luận của chúng em bao gồm những nội dung sau: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)  I. Khái niệm về FDI 4 1.Định nghĩa 4 1.1. Một số vấn đề chung về đầu tư 4 1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI 6 1.2.1. Khái niệm 6 1.2.2. Nguyên nhân xuất hiện FDI 6 1.2.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp 7 2. Phân loại 7 II. Đặc điểm FDI 9 III. Tác động của FDI và các giải pháp khắc phục 10 1. Tích cực 10 2. Tiêu cực 12 3. Giải pháp 14 IV. Liên hệ với Việt Nam 15 1. Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 15 2. Tiềm năng và thách thức 16 2.1. Tiềm năng 16 2.2. Thách thức 17 3. Tình hình FDI ở Việt Nam 18 3.1. Tình hình FDI theo giai đoạn 18 3.2. Tình hình FDI theo cơ cấu ngành 20 4. Tác động của FDI 22 4.1. Tích cực 22 4.1. Tiêu cực 22 5. Giải pháp khắc phực tiêu cực 24 Tổng kết 25 Sau đây là bài làm chi tiết của nhóm em. I. Khái niệm FDI 1. Định nghĩa 1.1. Một số vấn đề chung về đầu tư - Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân và xã hội. - Phân loại đầu tư: có thể phân thành 2 loại sau: + Đầu tư trực tiếp là sự đầu tư thông qua sản xuất, cung cấp dịch vụ, buôn bán tại nước nhận đầu tư. Hình thức đầu tư này thường dẫn đến sự thành lập một pháp nhân riêng như công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, chi nhánh công ty nước ngoài. Đầu tư trực tiếp góp phần làm tăng tổng sản phẩm quốc nội, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ và phương thức quản lý, kinh doanh tiên tiến, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề việc làm tại nước nhận đầu tư. + Đầu tư gián tiếp là sự đầu tư thông qua việc buôn bán cổ phiếu và các giấy tờ có giá trị, gọi chung là chứng khoán. Hình thức đầu tư này không dẫn đến việc thành lập pháp nhân riêng. Hình thức này mang tính đầu cơ nên có thể thu lãi rất lớn thông qua sự biến động giá chứng khoán (điều này lại liên quan đến nhiều yếu tố khác như tình hình chính trị, phát triển kinh tế, chính sách điều hành vĩ mô, v.v...), nhưng cũng chính vì thế mà có thể phải chịu những rủi ro khó lường trước. Đối với nước nhận đầu tư, hình thức đầu tư góp phần giải quyết sự khan hiếm vốn, nhưng khi các nhà đầu tư đồng loạt rút đi (bằng cách bán lại chứng khoán) sẽ dễ dẫn đến những biến động trên thị trường tiền tệ, ảnh hưởng tới nền kinh tế. 1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI 1.2.1.Khái niệm - FDI viết tắt của Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay tổ chức nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. - Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam có đưa ra định nghĩa như sau về đầu tư trực tiếp (FDI) (phân biệt với đầu tư gián tiếp – FII [Indirect Foreign Investment]). Cụ thể như sau: “Đầu tư trực tiếp FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.” (Điều 3.2 Luật Đầu tư). Khác với FDI, đầu tư gián tiếp (FII) là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. - Theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân người nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hóa hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này. - Tổ chức thương mại thế giới thì lại định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư ) có được một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “ chi nhánh công ty””. - Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý toàn bộ doanh nghiệp”. Phân tích định nghĩa của IMF: + Lợi ích lâu dài (hay mối quan tâm lâu dài): Khi tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài), các nhà đầu tư thường đặt ra các mục tiêu lợi ích dài hạn. Mục tiêu lợi ích dài hạn đỏi hỏi phải có quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp đồng thời có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này. +Quyền quản lý thực sự doanh nghiệp nói đến ở đây chính là quyền kiểm soát doanh nghiệp. Quyền kiểm soát doanh nghiệp là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp như thông qua chiến lược hoạt động của công ty, thông qua phê chuẩn kế hoạch hành động do người quản lý hằng ngày của doanh nghiệp lập ra, quyết định việc phân chia quyền lợi doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên, tức là những quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển, sống còn của doanh nghiệp. =>Kết luận: Nói tóm lại đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản khác vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại một quốc gia đó với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (được gọi chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước ngoài).FDI chỉ ra rằng chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh ngiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nhau.Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với một mức độ sở hữu cổ phần nhất định thì mới được là FDI. 1.2.2 Nguyên nhân xuất hiện FDI Cần phải hiểu rõ vì sao lại có FDI. Theo thông tin mà nhóm thu thập được thì FDI xuất hiện do những nguyên nhân sau: - Sự chênh lệch của vốn giữa các nước: Có những nước thì thừa vốn trong khi đó một số nước khác lại thiếu vốn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên không phải nước nào thiếu vốn cũng được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất. Những doanh nghiệp ấy còn có những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó không thu lại lợi nhuận cao. - Chu kì sản phẩm: Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì sống của sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chin muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Có ý kiến cho rằng sản phẩm mới được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu thị trường trong nước tăng lên nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yêu dựa vào vốn, kĩ thuật của nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện. Hiện tượng này diễn ra theo chu kì và do đó dẫn đến sự hình thành FDI. Có ý kiến lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn. - Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia: Các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đó sẽ chọn nơi nào có các điều kiện về lao động, đất đai, chính trị… cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty này thường có lợi thế lớn về vốn và về công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng… - Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Trong thương mại thường có các xung đột thương mại song phương. Ví dụ: Nhật Bản thường bị Mĩ và các nước Tây Âu phàn nàn do có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Do đó Nhật Bản đã đối phó bằng cách tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất sản phẩm ngay tại Mĩ và Châu Âu để giảm phí xuất khẩu. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mĩ và Châu Âu. - Khai thác chuyên gia và công nghệ: Không phải FDI chỉ theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Các nước kém phát triển nếu có điều kiện về vốn họ sẽ đầu tư vào các nước có kinh tế phát triển hơn. Để từ đó thu hút được các chuyên gia và công nghệ mới, khai thác tiềm năng của chúng, thu về những sản phẩm mang tính hiện đại, khoa học. - Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có những nguồn nguyên liệu cần thiết, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú mà đất nước đó lại khan hiếm về tài nguyên này. 1.2.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp: 1. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài. 2. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. 3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT. 4. Đầu tư phát triển kinh doanh. 5. Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư. 6. Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. 7. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác 2. Phân loại FDI Có nhiều cách phân loại FDI theo các tiêu chí khác nhau, trong đó về cơ bản có thể phân chia FDI thành các loại sau: 2.1.Theo bản chất đầu tư - Có hai hình thức chủ yếu là: Đầu tư mới (Greenfield Investment (GI)) và Mua lại và sáp nhập (Cross-border Merger and Acquisition(M&A), ngoài ra còn hình thức Brownfield Investment + Đầu tư mới là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại. Với loại hình này phải bỏ nhiều tiền để đầu tư nghiên cứu thị trường, chi phí liên hệ cơ quan nhà nước và sẽ có nhiều rủi ro. + Mua lại và sáp nhập qua biên giới là hình thức FDI đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động. Với hình thức này, có thể tận dụng lợi thế của đối tác ở nơi tiếp nhận đầu tư ( tận dụng tài sản sẵn có của thị trường), vì vậy tiết kiệm được thời gian, giảm thiểu rủi ro. Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Hợp nhất hóa doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hợp thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị hợp nhất. Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát , chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới. Sáp nhập theo chiều ngang là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công ty trong cùng một ngành kinh doanh ( hay có thể nói là giữa các đối thủ cạnh tranh). Sáp nhập theo chiều dọc là hình thức sáp nhập của các công ty khác nhau trong cùng một dây chuyền sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Back ward: giữa nhà cung cấp và công ty sản xuất. Forward: giữa công ty sản xuất và nhà phân phối. Sáp nhập hỗn hợp: là hình thức sáp nhập giữa các công ty kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau. 2.2. Theo tính chất dòng vốn. + Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty. + Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm + Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau. 2.3. Theo mục đích, động cơ đầu tư. + Vốn tìm kiếm tài nguyên Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh. + Vốn tìm kiếm hiệu quả Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v... + Vốn tìm kiếm thị trường Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu. II. Đặc điểm của FDI 1. Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư đặc biêt là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nước mình, tránh tình trạnh FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư. 2. Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỉ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật các nước thường không quy định giống nhau về vấn đề này. 3. Tỷ lệ đóng góp cuả các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia theo tỷ lệ này. 4. Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kêt quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. 5. Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư được quyền chọn lĩnh vực đầu tư, hình thúc đầu tư, thị trường đầu tư ,quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đố sẽ tự đưa ra quyết định có lợi nhất cho họ. 6. FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. III.Tác động của FDI và các giải pháp khắc phục Tích cực - Bổ sung cho nguồn vốn trong nước Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI. FDI mở rộng các nguồn thu thuế ở
Luận văn liên quan