Đề tài Thực trạng cung ứng dịch vụ của trạm y tế xã ở một số vùng/miền và yếu tố ảnh hưởng

Trạm Y tế là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế Nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện dịch sớm và phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu và đỡ đẻ thông thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, tăng cường sức khỏe. Khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân đến các cơ sở y tế nói chung và trạm y tế xã nói riêng chủ yếu liên quan đến các yếu tố về địa lý, văn hóa, kinh tế (khả năng chi trả), xã hội. Tuy nhiên, quyết định của người bệnh làm gì, đi đến đâu khi bị ốm đau phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng dịch vụ y tế, giá thành, mức thu nhập, loại bệnh và mức độ bệnh cũng như khoảng cách từ nhà tới cơ sở y tế và khả năng tiếp cận với các DVYT của người dân. Hiện nay, cung cấp dịch vụ của nhiều TYT còn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương và có TYT còn chưa thực sự đạt hiệu quả. Nhiều TYT có bác sĩ nhưng kết quả hoạt động chuyên môn chưa cao, chất lượng khám chữa bệnh còn hạn chế. Nhiều TYT có cơ sở hạ tầng khang trang nhưng trang thiết bị y tế xuống cấp không đủ cho bác sỹ thực hành khám chữa bệnh. Hậu quả là người dân ít đến TYTX, dồn lên tuyến trên gây ra tình trạng quá tải tại bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, ảnh hưởng đến hiệu quả trong công tác bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

doc184 trang | Chia sẻ: duongneo | Ngày: 28/07/2017 | Lượt xem: 2335 | Lượt tải: 29download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng cung ứng dịch vụ của trạm y tế xã ở một số vùng/miền và yếu tố ảnh hưởng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ Y TẾ DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC HỆ THỐNG Y TẾ CƠ SỞ MỘT SỐ TỈNH TRỌNG ĐIỂM BÁO CÁO NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CỦA TRẠM Y TẾ XÃ Ở MỘT SỐ VÙNG/MIỀN VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Hà Nội, tháng 12 năm 2014 LỜI CÁM ƠN Chúng tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ Sở Y tế, phòng y tế, trung tâm y tế, bệnh viện huyện, đặc biệt các trạm y tế xã các tỉnh Hà Giang, Hòa Bình, Thái Bình, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Dương, Kon Tum và Kiên Giang trong việc phối hợp triển khai thu thập số liệu tại thực địa. Chúng tôi xin cảm ơn Dự án tăng cường năng lực hệ thống y tế cơ sở một số tỉnh trọng điểm - Bộ Y tế đã cử cán bộ điều phối và hỗ trợ kinh phí cho toàn bộ nghiên cứu. Cuối cùng xin cảm ơn toàn thể nhóm nghiên cứu, các nhà khoa học đã nhiệt tình tham gia nghiên cứu này từ xây dựng đề cương, thiết kế công cụ, thu thập số liệu, xử lý số liệu, viết báo cáo, cũng như đóng góp ý kiến để hoàn chỉnh báo cáo này. THAY MẶT NHÓM NGHIÊN CỨU TS Nguyễn Hoàng Long MỤC LỤC DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BẢNG HÌNH Hình 1 - Mô hình sử dụng DVYT ở Mỹ năm 1968. 4 Hình 2 - Khung sử dụng DVYT 4 Hình 3 - Mô hình cung ứng DVYT theo Massoud.[9]. 5 Hình 4 - Tỷ lệ nhân lực y tế phân theo trình độ và theo tuyến, 2008.[22] 14 Hình 3.1 - Tỷ lệ mắc các bệnh của người dân theo địa dư 26 Hình 3.2 - Kiến thức của người dân về tiêm chủng phòng các bệnh cho trẻ 27 Hình 3.3 - Kiến thức của người dân về chăm sóc trẻ trong 6 tháng đầu 28 Hình 3.4 - Tình hình sử dụng thẻ BHYT của người dân khi bị mắc bệnh mạn tính 32 Hình 3. 5 - Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ theo địa dư 36 Hình 3. 6 - Thực trạng sẵn có điện năng tại Trạm y tế trong năm theo địa dư 38 Hình 3. 7 - Thực trạng các phương tiện vận chuyển cấp cứu tại Trạm y tế xã theo địa dư 38 Hình 3. 8 - Thực trạng các tiện nghi cơ bản tại trạm y tế xã trong nămtheo địa dư 39 Hình 3. 9 - Thực trạng đạt về cơ sở vật chất của Trạm y tế trong năm theo địa dư 40 Hình 3. 10 - Thực trạng TTB y tế cơ bản tại trạm y tế xã trong năm 43 Hình 3. 11 - Tình trạng thuốc thiết yếu tại trạm Y tế theo chuẩn Quốc gia trạm y tế xã 48 Hình 3. 12 - Thực trạng Trạm Y tế đạt chuẩn Quốc gia về nhân lực năm qua theo địa dư 51 Hình 3. 13 - Thực trạng tính sẵn sàng dịch vụ KHHGĐ tại Trạm Y tế 53 Hình 3. 14 - Thực trạng tính sẵn sàng dịch vụ CSTS tại trạm y tế 54 Hình 3. 15 - Thực trạng tính sẵn sàng dịch vụ điều trị STIs tại trạm y tế 56 Hình 3. 16 - Thực trạng tính sẵn sàng dịch vụ điều trị và dự phòng lao tại trạm y tế 57 Hình 3. 17 -Thực trạng tính sẵn sàng dịch vụ điều trị sốt rét tại trạm y tế 59 Hình 3. 18 - Thực trạng tính sẵn sàng dịch vụ điều trị và quản lý tiểu đường tại TYT 61 Hình 3. 19 - Thực trạng tính sẵn sàng dịch vụ điều trị và quản lý tăng huyết áp tại TYT 61 Hình 3. 20 - Thực trạng tính sẵn sàng dịch vụ tiểu phẫu/phẫu thuật tại trạm y tế 64 BẢNG Bảng 2. 1 - Các tỉnh nghiên cứu theo vùng sinh thái 19 Bảng 2. 2 - Chi tiết bộ công cụ nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 23 Bảng 3. 1 - Thông tin chung về đối tượng trả lời phỏng vấn (n=600) 25 Bảng 3.2 - Nhu cầu chăm sóc sản phụ khoa cho các bà mẹ (n=431). 27 Bảng 3.3 - Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân khi bị các bệnh cấp tính 29 Bảng 3.4 - Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân khi mắc bệnh mạn tính 30 Bảng 3.5 - Lý do không đến và điều kiện đến TYTX của người dân khi mắc bệnh 31 Bảng 3.6 - Tình hình sử dụng các dịch vụ CSSKSS 33 Bảng 3.7 - Sử dụng dịch vụ khi mắc bệnh phụ khoa của người dân tại 3 vùng địa dư 34 Bảng 3. 8 - Tỷ lệ kỹ thuật so với phân tuyến kỹ thuật thực hiện tại Trạm Y tế xã theo địa dư 34 Bảng 3. 9 - Kết quả cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh nội trú và ngoại trú tại 35 Bảng 3. 10 - Kết quả cung cấp dịch vụ cận lâm sàng tại Trạm Y tế theo địa dư 35 Bảng 3. 11 - Số lượt khám chữa bệnh/ngày tại Trạm Y tế trung bình theo ngày theo địa dư 35 Bảng 3. 12 - Kết quả dịch vụ CSSKSS tại Trạm Y tế xã trong năm theo vùng 36 Bảng 3. 13 - Kết quả dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ mang thai tại TYT xã theo địa dư 37 Bảng 3. 14 - Thực trạng các phương tiện truyền thông tại Trạm y tế xã trong năm 37 Bảng 3. 15 - Thực trạng các tiện nghi về môi trường tại Trạm y tế xã trong năm 39 Bảng 3. 16 - Thực trạng sự sẵn có về các phòng của Trạm y tế trong nămtheo địa dư 40 Bảng 3. 17 - Thực trạng số lượng trang thiết bị tại Trạm Y tế trong năm 41 Bảng 3. 18 - Thực trạng trang thiết bị cơ bản của Trạm y tế xã trong năm 42 Bảng 3. 19 - Thực trạng thiết bị khử trùng tại Trạm y tế xã trong năm qua 43 Bảng 3. 20 - Thực trạng biện pháp và dụng cụ xử lý chất thải sắc nhọn cuối cùng tại Trạm Y tế 44 Bảng 3. 21 - Các biện pháp và dụng cụ xử lý chất thải sắc nhọn ngoài hộp tại trạm y tế 45 Bảng 3. 22 - Sự sẵn sàng về các biện pháp xử lý chất thải y tế an toàn tại trạm y tế 45 Bảng 3. 23 - Sự sẵn có về các trang thiết bị ngăn ngừa nhiễm khuẩn tại Trạm Y tế 46 Bảng 3. 24 - Tình trạng có tài liệu/phác đồ chuyên môn cho nhiệm vụ CSSK tại TYTX 46 Bảng 3. 25 - Nhóm thuốc sẵn có tại Trạm y tế xã trong năm qua theo địa dư 47 Bảng 3. 26 - Thực trạng số lượng cán bộ y tế tại Trạm y tế xã trong năm qua 50 Bảng 3. 27 - Thực trạng cơ cấu cán bộ y tế tại Trạm y tế xã trong năm qua 50 Bảng 3. 28 - Tính sẵn sàng về năng lực và dịch vụ cung cấp về kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) tại trạm y tế 52 Bảng 3. 29 - Tính sẵn sàng của các thiết bị cho KHHGĐ tại trạm y tế 53 Bảng 3. 30 - Tính sẵn sàng về năng lực và các dịch vụ chăm sóc trước sinh (CSTS) được cung cấp tại trạm y tế 53 Bảng 3. 31 - Tính sẵn sàng của các thiết bị cho dịch vụ CSTS tại trạm y tế 54 Bảng 3. 32 - Tính sẵn sàng về năng lực cung cấp dịch vụ điều trị STIs tại trạm y tế 55 Bảng 3. 33-Tính sẵn sàng của các thiết bị và thuốc cho dịch vụ điều trị STIs tại trạm y tế 55 Bảng 3. 34 - Tính sẵn sàng về năng lực cung cấp dịch vụ điều trị và dự phòng lao tại Trạm Y tế 56 Bảng 3. 35- Tính sẵn sàng của các loại thuốc cho dịch vụ điều trị và dự phòng lao tại Trạm Y tế 57 Bảng 3. 36 - Tính sẵn sàng về năng lực cung cấp dịch vụ chẩn đoán và điều trị SR tại Trạm Y tế 58 Bảng 3. 37 - Tính sẵn sàng về thuốc điều trị sốt rét tại trạm y tế 58 Bảng 3. 38 - Tính sẵn sàng về năng lực cung cấp dịch vụ chẩn đoán và điều trị tiểu đường tại trạm y tế 59 Bảng 3. 39 - Tính sẵn sàng về năng lực cung cấp dịch vụ chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp tại trạm y tế 60 Bảng 3. 40 - Tính sẵn sàng về trang thiết bị cho dịch vụ chẩn đoán và điều trị tiểu đường/tăng huyết áp tại trạm y tế 60 Bảng 3. 41 - Tính sẵn sàng về thuốc cho dịch vụ chẩn đoán và điều trị tiểu đường/tăng huyết áp tại trạm y tế 60 Bảng 3. 42 - Tính sẵn sàng về năng lực cung cấp dịch vụ chẩn đoán và điều trị sốt rét tại trạm y tế 62 Bảng 3. 43 - Tính sẵn sàng của các dịch vụ phẫu thuật/tiểu phẫu của trạm y tế 62 Bảng 3. 44 - Tính sẵn sàng của các danh mục/trang thiết bị cho dịch vụ phẫu thuật/tiểu phẫu của trạm y tế 63 Bảng 3. 45 - Tính sẵn sàng của các loại hóa chất/thuốc cho dịch vụ tiểu phẫu/phẫu thuật tại trạm y tế 63 Bảng 3. 46 - Sự thiếu hụt các cấu phần trong việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ tại TYT 64 Bảng 3. 47 - Sự thiếu hụt các cấu phần trong việc cung cấp dịch vụ CSTS tại trạm y tế 65 Bảng 3. 48 - Sự thiếu hụt các cấu phần trong việc cung cấp dịch vụ điều trị STIs tại Trạm Y tế 65 Bảng 3. 49 - Sự thiếu hụt các cấu phần trong việc cung cấp dịch vụ điều trị sốt rét tại Trạm y tế 65 Bảng 3. 50 - Sự thiếu hụt các cấu phần trong việc cung cấp dịch vụ điều trị, dự phòng lao tại trạm y tế 66 Bảng 3. 51 - Sự thiếu hụt cấu phần trong cung cấp dịch vụ điều trị và quản lý 66 Bảng 3.52 - Sự thiếu hụt cấu phần trong cung cấp dịch vụ điều trị và quản lý THA tại TYT 67 Bảng 3. 53: Sự thiếu hụt trong việc cung cấp dịch vụ tiểu phẫu/phẫu thuật tại trạm y tế 67 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DVYT : Dịch vụ y tế NVYT : Nhân viên y tế HGĐ : Hộ gia đình CSSK : Chăm sóc sức khỏe TYT : Trạm y tế TYTX : Trạm y tế xã CBYT : Cán bộ y tế SKSS : Sức khỏe sinh sản TTB : Trang thiết bị YHCT : Y học cổ truyền KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình KCB : Khám chữa bệnh BYT : Bộ y tế UBND : Ủy ban nhân dân TTYT : Trung tâm y tế BHYT : Bảo hiểm y tế WHO : World Health Organization( Tổ chức Y tế Thế giới) PVS : Phỏng vấn sâu TLN : Thảo luận nhóm CB : Cán bộ BV : Bệnh viện CSSKTE : Chăm sóc sức khỏe trẻ em CSSKSS : Chăm sóc sức khỏe sinh sản ĐẶT VẤN ĐỀ Trạm Y tế là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế Nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện dịch sớm và phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu và đỡ đẻ thông thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, tăng cường sức khỏe. Khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân đến các cơ sở y tế nói chung và trạm y tế xã nói riêng chủ yếu liên quan đến các yếu tố về địa lý, văn hóa, kinh tế (khả năng chi trả), xã hội. Tuy nhiên, quyết định của người bệnh làm gì, đi đến đâu khi bị ốm đau phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng dịch vụ y tế, giá thành, mức thu nhập, loại bệnh và mức độ bệnh cũng như khoảng cách từ nhà tới cơ sở y tế và khả năng tiếp cận với các DVYT của người dân. Hiện nay, cung cấp dịch vụ của nhiều TYT còn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương và có TYT còn chưa thực sự đạt hiệu quả. Nhiều TYT có bác sĩ nhưng kết quả hoạt động chuyên môn chưa cao, chất lượng khám chữa bệnh còn hạn chế. Nhiều TYT có cơ sở hạ tầng khang trang nhưng trang thiết bị y tế xuống cấp không đủ cho bác sỹ thực hành khám chữa bệnh. Hậu quả là người dân ít đến TYTX, dồn lên tuyến trên gây ra tình trạng quá tải tại bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, ảnh hưởng đến hiệu quả trong công tác bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đề án giảm quá tải bệnh viện đã chú trọng đầu tư, nâng cấp các TYT xã đạt chuẩn quốc gia theo quy định, gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới. Các nỗ lực nâng cao năng lực của nhân lực y tế từng bước được chú trọng. Bên cạnh đó, để hỗ trợ người dân tiếp cận theo địa lý, Việt Nam đã ưu tiên phát triển mạng lưới y tế cơ sở trên toàn quốc. Ngoài ra, BHYT và các chính sách hỗ trợ KCB cho người nghèo đã góp phần quan trọng về mặt tài chính để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ KCB. Năm 2010, khoảng 60% dân số Việt Nam đã tham gia BHYT. Hơn 70% số trạm y tế xã/phường đã thực hiện khám chữa bệnh ban đầu cho người có thẻ BHYT. Vậy thực sự khả năng tiếp cận, sử dụng dịch vụ TYT và việc cung ứng dịch vụ TYT hiện nay ra sao? Hiện đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này nhưng đa số mới chỉ thực hiên tại một vùng, địa phương nhất định hoặc nghiên cứu mới chỉ dừng lại từ phía nhà cung cấp dịch vụ chứ chưa gồm nhu cầu của phía người dân - người sử dụng dịch vụ trên phạm vi toàn quốc. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Thực trạng cung ứng dịch vụ của Trạm y tế xã ở một số vùng/miền và yếu tố ảnh hưởng. Việc mô tả bức tranh tổng thể này sẽ giúp đề xuất ra những giải pháp khuyến khích phù hợp người dân đến TYTX cũng như cải thiện chất lượng CSSK nhân dân. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng nhu cầu vàsử dụng dịch vụ tại trạm y tế xã của người dân ở một số vùng/miền Việt Nam năm 2014. Mô tả khả năng cung ứng dịch vụ y tế của trạm y tế xã ở một số vùng/miền năm 2014. Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới cung ứng dịch vụ y tế của trạm y tế xã ở một số vùng/miền. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NHU CẦU VÀ CUNG ỨNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ Nhu cầu y tế. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Theo quan điểm A.Maslow chia nhu cầu thành 5 bậc: nhu cầu vật chất (sinh lý), nhu cầu an toàn (bảo vệ), nhu cầu giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự khẳng định mình. Dịch vụ y tế Định nghĩa. Dịch vụ y tế ( DVYT) là dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người về CSSK [1], [2], [3]. DVYT là một trong bốn dịch vụ xã hội cơ bản - hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận. DVYT là một dịch vụ khá đặc biệt. DVYT là một loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường không thể tự mình lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế) - trực tiếp ở đây là trạm y tế xã [3]. Sử dụng dịch vụ y tế. Sử dụng DVYT có thể được phân chia theo loại dịch vụ, vị trí, mục đích sử dụng và thời gian sử dụng. Cơ sở DVYT được sử dụng: TYT, bệnh viện, hiệu thuốc, thầy thuốc tư nhân... Năm 1968, Anderson và Rosentock đã đưa ra mô hình sử dụng DVYT ở Mỹ và các yếu tố ảnh hưởng như các nhân tố cơ bản, nhóm yếu tố về khả năng và nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) đến đến lựa chọn DVYT [4], [5]. Nhóm yếu tố khả năng Lòng tin vào y tế Nguồn lực của gia đình Tình trạng sức khỏe bản thân Cấu trúc xã hội Sử dụng DVYT Nhu cầu KCB Yếu tố đặc trưng của gia đình Nguồn lực Cộng đồng Tình trạng sức khỏe do người cung cấp DVYT đánh giá Nhóm nhân tố cơ bản Hình 1 - Mô hình sử dụng DVYT ở Mỹ năm 1968. Ngoài ra, Andersen and Newman cũng đưa ra khung sử dụng DVYT trong mối liên quan với môi trường, đặc điểm dân số, hành vi sức khỏe và kết quả sử dụng DVYT [6]: Hình 2 - Khung sử dụng DVYT Năm 1981, Fiedler đã sửa lại mô hình sử dụng DVYT của Anderson và Rosentock. Tuy vậy, cho đến nay thì mô hình này vẫn thường được sử dụng để thiết kế nghiên cứu về sử dụng DVYT [7], [8]. Cung ứng DVYT. Khái niệm: Theo tổ chức y tế Thế giới (WHO), cung ứng DVYT là các yếu tố đầu vào được kết hợp để cho phép cung cấp một loạt các biện pháp can thiệp hoặc các hoạt động y tế (WHO 2001) [9]. Theo Báo cáo y tế thế giới năm 2000, toàn bộ hệ thống y tế thường được xác định với chỉ một sự cung ứng DVYT. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng cung ứng DVYT là một nhiệm vụ chính mà hệ thống y tế nói chung cần phải thực hiện [9]. Mô hình cung ứng dịch vụ Hình 3 - Mô hình cung ứng DVYT theo Massoud.[9]. Mô hình của Massoud đã chỉ rõ cung ứng DVYT là cả một quá trình từ nguồn lực sẵn có, quy trình thực hiện cũng như kết quả đạt được từ các dịch vụ CSSK người dân.Hiện nay, trên thế giới còn có khung cải tiến của mô hình cung ứng DVYT. Khung mới này tập trung vào hai lĩnh vực lớn là: Quy trình kinh doanh (chung cho hầu hết các tổ chức) và Quy trình y học (riêng cho Tổ chức DVYT) [10]. THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ Thực trạng sử dụng y tế của người dân Một số nghiên cứu trên thế giới Từ những năm 1970, cuộc điều tra phỏng vấn hộ gia đình (HGĐ) về việc sử dụng DVYT của người dân đã được tiến hành rộng khắp ở các nước Châu Á, Châu Mỹ - La Tinh và Châu Phi [7], [11]. Tại Hoa Kỳ, hằng năm đều đầu chi 14% GDP cho y tế nhưng vẫn còn khoảng 35 triệu người không được hưởng các dịch vụ CSSK cần thiết vì giá thành cao so với khả năng chi trả của người bệnh [12]. Tại Trung Quốc, một nghiên cứu tại 30 huyện nghèo cho thấy 33% số hộ thu nhập thấp đã không sử dụng DVYT trong một khoảng thời gian nhất định so với 16% các hộ thuộc nhóm thu nhập cao [13]. Cũng ở đất nước đông dân nhất thế giới này, chi phí cho y tế là khoảng 12% so với tổng chi phí của HGĐ, trong đó 17,5% số hộ phải vay tiền để chi phí cho việc CSSK, 8,8% số hộ nợ tiền bệnh viện, 3,3% số hộ phải nhờ đến viện trợ của Chính Phủ dành cho bệnh tật [14]. Một điều tra về việc sử dụng dịch vụ CSSK ở vùng nông thôn Ấn Độ trên 200 HGĐ cho thấy: 52% sử dụng y học hiện đại, 26% sử dụng YHCT, 6% tự xử lý và 16% sử dụng kết hợp [8]. Nghiên cứu ở Thái Lan năm 1970 cũng cho thấy ở nông thôn chỉ có 15,5% và 0,8 lần tiếp xúc/người/năm tìm kiếm DVYT nhà nước [12]. Nhìn chung, các nghiên cứu đã cho thấy rằng các quốc gia trên thế giới đã quan tâm đầu tư nhiều cho y tế. Tuy nhiên, số lượng người dân thực sự được sử dụng các dịch vụ y tế chất lượng có đạt được như mong muốn hay không thì dường như lại ít được chú ý. Một số nghiên cứu trong nước. Theo nghiên cứu của Trần Thị Kim Lý, tỷ lệ người bệnh chọn TYT để khám bệnh là cao nhất 37,7%, kế đến là y tế tư nhân 26,8%, không đi khám hoặc tự chữa ở nhà là 18,5%, bệnh viện là 17%. Tuy nhiên, lý do mà người dân chọn TYT lại chủ yếu là do gần nhà (70,94%) và có BHYT (52,99%) mà không hề đề cập đến chất lượng kỹ thuật cũng như là chất lượng của CBYT tại TYT [3]. Theo viện chiến lược và chính sách BYT năm 2010, người dân xã Diên Sơn lựa chọn dịch vụ KCB tại TYT chiếm tỷ lệ rất cao: 44,3%, mua thuốc tại hiệu thuốc là 21,%, thấp nhất là ở bệnh viện tỉnh chiếm 6,6%. Cùng với đó, số lần khám trung bình/người/năm ở xã là 1,3 cao gấp 2 lần so với Chuẩn Quốc gia y tế xã và cao tương đương số liệu KCB tại tỉnh Cao Bằng (cao nhất là 1,4 lần) trong nghiên cứu của viện Chiến lược và chính sách năm 2010 [15]. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Dự năm 2007 về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, người dân đến KCB tại TYT xã là 53,5% chiếm tỉ lệ cao nhất so với đến bệnh viện huyện (chiếm 23,2%) và bệnh viện tỉnh (chiếm 14,5%) [16]. Một số nghiên cứu khác chỉ ra số người dân đến trạm y tế KCB có sự chêch lệch tương đối lớn giữa các địa phương. Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng hoạt động KCB và khảo sát nhu cầu đào tạo liên tục của bác sỹ và y sỹ điều trị tuyến xã” của Bộ Y tế và hội khoa học Kinh tế Y tế Việt Nam năm 2012 đã chỉ ra, trung bình các TYT tại 4 tỉnh Bắc Cạn, Kon Tum, Kiên Giang, Hòa Bình, KCB cho 773 lượt người trong 3 tháng, các TYT tại Kiên Giang có số lượt người đến khám cao hơn hẳn so với tỉnh khác (100-200 lượt người/ngày) nhưng có những TYT hầu như lại không có người bệnh đến, trung bình chỉ có 1-3 người/ngày [17]. Theo số liệu điều tra ở 16 trạm y tế phường trong báo cáo nghiên cứu “Tình hình thực hiện chức năng nhiệm vụ TYT khu vực đô thị” năm 2009, trung bình một năm, ở một trạm là 10.600 lượt/ người, trạm ít nhất là 2012 lượt/người, trạm nhiều nhất là 27.200 lượt/người; Trung bình một ngày ở 1 trạm là 29 lượt/người, trạm ít nhất 6 lượt/người, trạm nhiều nhất trên 70 lượt/người. Trong đó khám cho đối tượng có bảo hiểm y tế trung bình một năm/một trạm là 2.450 lượt/người chiếm khoảng 24%.Tuy nhiên, cũng có một số trạm y tế Phường số bệnh nhân đến khám khá đông. Trạm y tế các phường của quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh số bệnh nhân đến khám, cao nhất là gần 100 người, và vắng là 15-16 người/ngày [18]. Trong nghiên cứu về thực trạng sử dụng YHCT trong CSSK tại cộng đồng tỉnh Hà Tây cũ năm 2006 của gần 1000 HGĐ, các tác giả cũng chỉ ra 54,5% người dân lựa chọn sử dụng YHCT trong KCB [19]. Nguyễn Thiên Bảo trong nghiên cứu ở huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc năm 2010 chỉ ra tỷ lệ sử dụng YHCT tại cộng đồng là 39%, tại TYT là 19,1% [20]. Cũng theo Nguyễn Thị Thu Nga, qua điều tra 540 HGĐ cho thấy tỷ lệ sử dụng YHCT ở cộng đồng là 56%. Nhận xét của cán bộ YHCT tại TYT xã cho thấy người dân ngày càng quan tâm hơn đến YHCT [21]. Báo cáo tổng quan chung ngành y tế, vào năm 2009, tỷ lệ người khám chữa bệnh bằng YHCT ở tuyến tỉnh là 7,2%, tuyến huyện là 5,8%, tuyến xã là 20,6% [22]. Về hoạt động chăm sóc trước sinh tại TYT, theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Khải tại 2 xã Tân Dân và Việt Hòa, huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, đa số các bà mẹ có đi khám tại TYT xã chiếm 97,1%, chỉ 2,9% là không đi khám tại TYT xã [23], tỷ lệ này cũng khá cao trong nghiên cứu của Tống Viết Trung ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương [24] và ở khu vực Tây Nguyên tỉ lệ khám thai tại TYT xã là khá cao chiếm 84,5% [25]. Cũng trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Khải [23], đa số các bà mẹ đồng ý việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc trước sinh tại TYT xã chiếm 79,6% cho thấy nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh là khá cao. Thực trạng cung ứng dịch vụ y tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011–2020, nêu rõ 12 định hướng phát triển kinh tế xã hội, đổi mới mô hình