Đề tài Tình huống hình sự- Chứng minh đồng phạm và xác định lỗi

Hành vi phạm tội của C, D là hành vi không hành động phạm tội. Trong luật Hình sự, hành vi được hiểu là những “ biểu hiện” của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt được mục đích có chủ định và mong muốn. Hành vi không hành động phạm tội là một hình thức thể hiện của hành vi. Không hành động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm. Qua nghiên cứu tình huống trên ta thấy hành vi của C, D thỏa mãn đủ điều kiện của hành vi không hành động phạm tội: - Người đó phải có nghĩa vụ hành động: Việc cứu giúp A, B không chỉ là việc mang tính nhân đạo mà còn mang tính pháp lí, buộc không chỉ C, D mà bất kì những người nào trong hoàn cảnh của C, D đều phải làm. Nghĩa vụ này phát sinh do pháp luật quy định: việc cứu giúp A, B là trường hợp cụ thể đã được pháp luật khái quát quy định trong điều 102 Bộ luật Hình sự: “ Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm”. Khoản 1Điều 102 BLHS quy định: “ Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ hai tháng đến ba năm”

doc3 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 23/05/2013 | Lượt xem: 2116 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tình huống hình sự- Chứng minh đồng phạm và xác định lỗi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a.Hành vi phạm tội của C và D là hành động phạm tội. Khẳng định trên là : Sai Giải thích: Hành vi phạm tội của C, D là hành vi không hành động phạm tội. Trong luật Hình sự, hành vi được hiểu là những “ biểu hiện” của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt được mục đích có chủ định và mong muốn. Hành vi không hành động phạm tội là một hình thức thể hiện của hành vi. Không hành động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm. Qua nghiên cứu tình huống trên ta thấy hành vi của C, D thỏa mãn đủ điều kiện của hành vi không hành động phạm tội: Người đó phải có nghĩa vụ hành động: Việc cứu giúp A, B không chỉ là việc mang tính nhân đạo mà còn mang tính pháp lí, buộc không chỉ C, D mà bất kì những người nào trong hoàn cảnh của C, D đều phải làm. Nghĩa vụ này phát sinh do pháp luật quy định: việc cứu giúp A, B là trường hợp cụ thể đã được pháp luật khái quát quy định trong điều 102 Bộ luật Hình sự: “ Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm”. Khoản 1Điều 102 BLHS quy định: “ Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ hai tháng đến ba năm” Người có đầy đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ này. C, D có điều kiện cứu giúp nhưng không cứu giúp: C, D là những thanh niên trong làng, theo đề bài thì hoàn toàn có khả năng cứu giúp (có thể C, D biết bơi, có thể có đầy đủ các phương tiện để cứu giúp…). Mặt khác A, B là người đang ở trong tình trạng nguy hiểm, tính mạng của họ đang trực tiếp bị đe dọa, đòi hỏi phải có sự cứu giúp kịp thời của người khác. Nếu không có sự cứu giúp của C, D thì sự thiệt hại về tính mạng của A, B là một tất yếu. Ngoài ra, việc cứu giúp không gây nguy hiểm lớn cho bản thân C, D hay những người khác. Khả năng của bản thân cũng như điều kiện bên ngoài khác hoàn toàn cho phép C, D cứu giúp A, B – người đang nguy hiểm tính mạng, không hành động là một biểu hiện của trạng thái tiêu cực! Nhưng C, D đã không cứu giúp, không thực hiện việc làm mà pháp luật cũng như đạo đức đòi hỏi phải làm. C, D sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này vì A chết. Hậu quả cái chết của A là do không được cứu giúp. Nếu được C, D cứu giúp thì hậu quả sẽ không xảy ra. b. Lỗi của C, D khi phạm tội là lỗi cố ý. * Khẳng định trên là: Đúng. * Giải thích : Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Cụ thể lỗi của C, D là lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu qủa xảy ra( Điều 9 BLHS). Xét về mặt lí trí: Để nhận thấy các dấu hiệu của mặt lí trí cần trả lời câu hỏi: Liệu C, D có thấy trước hậu quả chết người hay không? Câu trả lời là có. C, D nhận thức rõ hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình, thấy trước được hành vi đó có thể gây hậu quả cho xã hội. Cụ thể là C, D với tư cách là chủ thể của tội phạm đã được định tội( Tội không cứu giúp người đang ở trong tình thế nguy hiểm đến tính mạng) thì sẽ hoàn toàn khả năng nhận thức được A, B đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, nếu không cứu được thì sẽ chết và biết rõ mình có điều kiện cứu mà cố tình không cứu. Chỉ cần hành động cứu giúp của C, D thì sẽ có thể cứu sống được hai con người. Nhưng trên thực tế A đã chết do không được cứu, còn B chỉ may mắn sống xót. Việc C, D không cứu đã xâm phạm đến tính mạng của con người – quan hệ xã hội mà pháp luật Hình sự bảo vệ. Về mặt ý chí. Câu hỏi đưa ra để lí kiểm tra lí trí của người phạm tội: C, D mong muốn hay có ý thức chấp nhận hậu quả chết người xảy ra hay loại trừ khả năng hậu quả xảy ra? Đó là câu hỏi về thái độ chủ quan đối với hậu quả đã thấy trước. Trong tình huống này, C, D không mong muốn cái chết sẽ đến với A, B mà có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Cái chết của A, B mà C, D đã thấy trước không phù hợp với mục đích của C,D. C, D cho rằng hậu quả có như thế nào cũng không liên quan đến họ. Việc thực hiện hành vi phạm tội không hành động này của C, D nhằm mục đích khác, ví dụ như C, D mắc nợ A, B nên để mặc A,B chết để không phải trả nợ…Chính vì mục đích này mà C, D bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Sự bỏ mặc cho hậu quả xảy ra được biểu hiện ra ngoài bằng hành vi không hành động – không cứu giúp. Trong tình huống này, hoàn toàn có cơ sở có thể lên án hành vi trái pháp luật của C, D. Cả C, D đều có tự do ý chí. Tự do ý chí là khả năng của con người có thể tự mình lựa chọn và thực hiện biện pháp xử sự trong những điều kiện xã hội nhất định. C, D đã lựa chọn biện pháp bỏ mặc trong khi có thể cứu giúp thì đương nhiên C, D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Luận văn liên quan