Đề tài Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng số 2

Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh là một tất yếu khách quan. Trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế đã và đang diễn ra ngày một sâu và rộng, cạnh tranh lại càng trở nên khốc liệt hơn. Bất kì một doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức để có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng kịp thời nhu cầu luôn biến đổi của thị trường và quan trọng nhất là tìm ra những biện pháp quản lý, sử dụng tiết kiệm chi phí sản xuất, nhằm hạ giá thành sản phẩm. Sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành hợp lý sẽ là lợi thế rất lớn, giúp doanh nghiệp có thể chiến thắng trong cạnh tranh, mở rộng thị phần. Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, đã và đang giữ vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho xã hội, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Sản phẩm của ngành xây dựng chính là nền tảng để đưa đất nước đi lên trở thành một nước công nghiệp. Xuất phát từ những đặc thù riêng của ngành cũng như sản phẩm xây dựng, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xây lắp luôn phải chịu tác động không nhỏ của các yếu tố rủi ro về giá cả, lãi suất, các yếu tố tự nhiên, môi trường kinh tế, chính trị, xã hội. Trong khi đó, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành đã và đang diễn ra ngày một mạnh mẽ, đó là sự cạnh tranh về giá, chất lượng công trình, quy mô hoạt động, cũng như uy tín, thương hiệu. Do đó, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp không những phải am hiểu thật sâu rộng về lĩnh vực này mà còn phải luôn nắm bắt thông tin kinh tế - tài chính của doanh nghiệp mình cũng như thông tin kinh tế chính trị, thông tin thị trường để có thể đưa ra quyết định đúng đắn, nhanh chóng. Kế toán với vai trò là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế - tài chính, có nhiệm vụ thu thập, xử lí và cung cấp các thông tin kịp thời cho việc ra quyết định phù hợp với từng giai đoạn và tình hình hoạt động của công ty. Trong đó, thông tin về chi phí sản xuất và giá thành có vai trò rất quan trọng trong việc phân tích, phản ánh tình hình sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn có hiệu quả… từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm hạ thấp chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và đề ra các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Do vậy, việc tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành là một khâu hết sức quan trọng trong hệ thống kế toán của mỗi doanh nghiệp xây lắp nói riêng và của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nói chung. Xuất phát từ nhận thức về vai trò của các doanh nghiệp xây lắp trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay và tầm quan trọng của việc tổ chức công tác kế toán chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp xây dựng, em đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng số 2” cho Luận văn tốt nghiệp của mình. Nội dung Luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp Chương 2: Tình hình thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Vinaconex. Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần xây dựng số 2 – Vinaconex.

doc121 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 02/01/2013 | Lượt xem: 1502 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng số 2, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh là một tất yếu khách quan. Trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế đã và đang diễn ra ngày một sâu và rộng, cạnh tranh lại càng trở nên khốc liệt hơn. Bất kì một doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức để có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng kịp thời nhu cầu luôn biến đổi của thị trường và quan trọng nhất là tìm ra những biện pháp quản lý, sử dụng tiết kiệm chi phí sản xuất, nhằm hạ giá thành sản phẩm. Sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành hợp lý sẽ là lợi thế rất lớn, giúp doanh nghiệp có thể chiến thắng trong cạnh tranh, mở rộng thị phần. Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, đã và đang giữ vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho xã hội, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Sản phẩm của ngành xây dựng chính là nền tảng để đưa đất nước đi lên trở thành một nước công nghiệp. Xuất phát từ những đặc thù riêng của ngành cũng như sản phẩm xây dựng, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xây lắp luôn phải chịu tác động không nhỏ của các yếu tố rủi ro về giá cả, lãi suất, các yếu tố tự nhiên, môi trường kinh tế, chính trị, xã hội. Trong khi đó, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành đã và đang diễn ra ngày một mạnh mẽ, đó là sự cạnh tranh về giá, chất lượng công trình, quy mô hoạt động, cũng như uy tín, thương hiệu. Do đó, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp không những phải am hiểu thật sâu rộng về lĩnh vực này mà còn phải luôn nắm bắt thông tin kinh tế - tài chính của doanh nghiệp mình cũng như thông tin kinh tế chính trị, thông tin thị trường để có thể đưa ra quyết định đúng đắn, nhanh chóng. Kế toán với vai trò là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế - tài chính, có nhiệm vụ thu thập, xử lí và cung cấp các thông tin kịp thời cho việc ra quyết định phù hợp với từng giai đoạn và tình hình hoạt động của công ty. Trong đó, thông tin về chi phí sản xuất và giá thành có vai trò rất quan trọng trong việc phân tích, phản ánh tình hình sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn có hiệu quả… từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm hạ thấp chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và đề ra các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Do vậy, việc tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành là một khâu hết sức quan trọng trong hệ thống kế toán của mỗi doanh nghiệp xây lắp nói riêng và của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nói chung. Xuất phát từ nhận thức về vai trò của các doanh nghiệp xây lắp trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay và tầm quan trọng của việc tổ chức công tác kế toán chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp xây dựng, em đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng số 2” cho Luận văn tốt nghiệp của mình. Nội dung Luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp Chương 2: Tình hình thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Vinaconex. Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần xây dựng số 2 – Vinaconex. Do thời gian có hạn và khả năng hiểu biết còn nhiều hạn chế nên bài luận văn của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được sự quan tâm góp ý kiến của các thầy cô giáo về nội dung cũng như hình thức để bài luận văn của em được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn! CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1. ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NGÀNH XÂY DỰNG VÀ SẢN PHẨM XÂY LẮP 1.1.1. Đặc trưng cơ bản của ngành xây dựng Thứ nhất, sản phẩm và nơi tiêu thụ sản phẩm đều cố định, nơi sản xuất và địa điểm sản xuất thì lại luôn di động, làm cho sản xuất xây dựng có thể bị gián đoạn, lại nảy sinh thêm nhiều chi phí khác cho khâu di chuyển lực lượng thi công và chi phí để xây dựng các công trình tạm phục vụ thi công, hay chi phí thuê lao động bên ngoài… Thứ hai, chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài do sản phẩm là các công trình xây dựng hoàn chỉnh mang tính chất là TSCĐ; quy mô và mức độ phức tạp về kỹ thuật xây dựng của các công trình, dự án. Thứ ba, sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng, được thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã kí kết với các đơn vị chủ đầu tư sau khi trúng thầu hoặc được chỉ định thầu, tính chất hàng hoá của sản phẩm xây dựng không được thể hiện rõ, việc “mua, bán” sản phẩm được xác định trước khi thi công. Tất cả đều được thống nhất và thể hiện trên hợp đồng xây dựng như: giá cả, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phương thức thanh toán…DN xây lắp hoàn toàn chịu trách nhiệm về kỹ thuật, chất lượng công trình cũng như thời gian hoàn thành bàn giao sản phẩm cho chủ đầu tư. Thứ tư, cơ chế khoán hiện đang được áp dụng ngày càng rộng rãi trong các doanh nghiệp xây lắp với các hình thức giao khoán khác nhau như: khoán gọn công trình (khoán toàn bộ chi phí), khoán theo từng khoản mục chi phí, cho nên phải hình thành bên giao khoán, bên nhận khoán và giá khoán. 1.1.2. Đặc trưng cơ bản của sản phẩm xây lắp: Thứ nhất, sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc,…có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, một công trình có thể gồm nhiều hạng mục công trình, một hạng mục công trình có thể bao gồm nhiều đơn vị công trình…đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn, vật tư lao động, máy thi công nhiều. Thứ hai, sản phẩm xây dựng có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện tự nhiên, địa chất, thuỷ văn, khí hậu… Thứ ba, thời gian thi công công trình thường dài, đòi hỏi phải có kế hoạch, tiến độ thi công, biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rút ngắn thời gian xây dựng, tiết kiệm vật tư, lao động, tiết kiệm chi phí quản lí để hạ giá thành xây dựng. Thứ tư, sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác. 1.2. NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.2.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất 1.2.1.1. Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất trong DN xây lắp là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN đã chi ra trong quá trình hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, thực hiện dịch vụ, lao vụ, được biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định. Nó là bộ phận cơ bản và chủ yếu hình thành nên giá thành sản phẩm xây lắp. 1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của DN xây lắp bao gồm rất nhiều loại có công dụng và mục đích khác nhau, cho nên để thuận tiện cho công tác quản lí, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định đầu tư một cách nhanh chóng và chính xác nhất, cần phân loại chi phí sản xuất theo những tiêu thức phù hợp. Trong DN xây lắp, để phục vụ cho công tác quản lí chi phí và tính giá thành sản phẩm, CFSX thường được phân loại chủ yếu theo mục đích, công dụng. Theo tiêu thức này, CFSX bao gồm các khoản mục sau: - Chi phí NVL trực tiếp: là toàn bộ chi phí NVL được sử dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, thực hiện dịch vụ, lao vụ của DN xây lắp. - Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, cung cấp dịch vụ, không phân biệt lao động thuê ngoài hay lao động thuộc DN quản lí như: tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả,… - Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ các chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây, lắp công trình. Bao gồm: Chi phí nhân công, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao máy thi công, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác. - Chi phí sản xuất chung: gồm toàn bộ chi phí liên quan đến việc tổ chức, quản lí, và phục vụ thi công của các đội xây lắp ở các công trường xây dựng. Bao gồm: + Chi phí nhân viên phân xưởng: phản ánh các khoản tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên quản lý đội xây dựng, và các khoản trích theo lương theo quy định phải trả cho nhân viên trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lí đội (thuộc biên chế của DN). + Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu dùng cho đội xây dựng, như: vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, công cụ, dụng cụ thuộc đội xây dựng quản lí và sử dụng… + Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ xuất dùng cho hoạt động quản lý của đội xây dựng. + Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội xây dựng. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động của đội xây dựng như: Chi phí sửa chữa, chi phí điện, nước, điện thoại, các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế…không thuộc TSCĐ được tính theo phương pháp phân bổ dần vào chi phí của đội. + Chi phí bằng tiền khác: phản ánh các chi phí bằng tiền ngoài các chi phí đã kể trên phục vụ cho hoạt động của đội xây dựng. Theo cách phân loại này có thể theo dõi, quản lí chi phí chi tiết đến từng tổ, đội thi công theo từng khoản mục chi phí nhằm phục vụ cho công tác tập hợp CFSX để tính giá thành thực tế của khối lượng sản phẩm hoàn thành bàn giao, từ đó đối chiếu với giá thành dự toán của CT, HMCT, biết được chi phí đó phát sinh ở đâu, tăng hay giảm so với dự toán. Mặt khác, cách phân loại này còn phục vụ cho công tác kế hoạch hoá, phân tích và tính giá thành theo khoản mục, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và tìm ra biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, CFSX còn có thể phân loại theo một số tiêu thức sau: - Căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế: Theo cách phân loại này, tất cả các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế không phân biệt nơi chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào được xếp vào cùng một loại gọi là yếu tố chi phí, bao gồm: + Chi phí nguyên liệu, vật liệu + Chi phí nhân công + Chi phí khấu hao máy móc thiết bị + Chi phí dịch vụ mua ngoài + Chi phí khác bằng tiền. Theo cách phân loại này, cho biết nội dung, kết cấu tỉ trọng từng loại chi phí mà DN đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng CFSX toàn doanh nghiệp, phục vụ cho việc phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, cung cấp số liệu để lập thuyết minh báo cáo tài chính. - Căn cứ vào mối quan hệ giữa khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí, gồm hai loại: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. - Căn cứ vào mối quan hệ giữa CFSX với khối lượng sản phẩm hoàn thành, gồm ba loại: Chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp. 1.2.2. Giá thành và các loại giá thành 1.2.2.1. Khái niệm giá thành Trong DN xây dựng, sản phẩm xây lắp bao gồm các CT, HMCT hay khối lượng xây lắp hoàn thành đạt điểm dừng kỹ thuật theo tiêu chuẩn chất lượng được xác định trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt. Do vậy: Giá thành sản phẩm xây lắp là CFSX tính cho từng CT, HMCT hay khối lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước, sẵn sàng đưa vào sử dụng, chuẩn bị nghiệm thu bàn giao, và được chấp nhận thanh toán. Mỗi một CT, HMCT hay khối lượng xây lắp khi đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lí, đến giai đoạn hoàn thành theo quy ước đều phải tính giá thành thực tế. Thông qua chỉ tiêu giá thành của mỗi sản phẩm xây lắp cho ta biết mức độ của từng khoản mục chi phí đã bỏ ra để hoàn thành sản phẩm đó là bao nhiêu, so với dự toán chênh lệch là bao nhiêu, tỷ trọng từng loại chi phí, khả năng hạ thấp các loại chi phí này để có thể hạ giá thành sản phẩm mà không ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thi công, sản xuất. 1.2.2.2. Các loại giá thành Có nhiều cách phân loại giá thành, tuy nhiên trong lĩnh vực sản xuất xây lắp, cần phân biệt các loại giá thành sau đây: - Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành sản phẩm xây lắp. Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá chi phí do Nhà nước quy định. Giá thành này nhỏ hơn giá trị dự toán ở phần thu nhập chịu thuế tính trước và thuế GTGT đầu ra: Giá thành dự toán CT, HMCT  =  Giá trị dự toán của CT, HMCT  -  Thu nhập chịu thuế tính trước  -  Thuế GTGT đầu ra   - Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xây dựng trên cơ sở những điều kiện cụ thể của DN về các định mức, đơn giá, biện pháp tổ chức thi công. Giá thành kế hoạch thường nhỏ hơn giá thành dự toán xây lắp ở mức hạ giá thành. - Giá thành thực tế: phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành sản phẩm xây lắp. Giá thành này được tính trên cơ sở số liệu kế toán về CFSX đã tập hợp được cho sản phẩm xây lắp thực hiện trong kỳ. Ngoài ra, do thời gian thi công công trình thường dài, quy mô, kết cấu và giá trị của sản phẩm xây lắp, kế toán còn phải phân biệt: - Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành: là toàn bộ chi phí sản xuất để hoàn thành một khối lượng sản phẩm xây lắp khi đã đạt đến điểm dừng kỹ thuật nhất định. - Giá thành hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ: là toàn bộ CFSX để hoàn thành HMCT hoặc CT xây lắp đạt giá trị sử dụng. Theo cách phân loại này, cho phép kiểm kê kịp thời tiến độ hoàn thành công việc, phát hiện những nguyên nhân tăng giảm chi phí, từ đó điều chỉnh phù hợp cho giai đoạn sau. 1.2.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chi phí là chỉ tiêu lượng hoá những hao phí mà DN đã bỏ ra trong một kỳ nhất định. Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lí nhằm mục đích hạ thấp chi phí, nâng cao lợi nhuận, hay nói cách khác, giá thành chính là biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất. Như vậy, chi phí chính là nền tảng của giá thành, là cơ sở để đạt được những kết quả nhất định trong sản xuất kinh doanh. Do đó, việc phản ánh đầy đủ và đúng đắn CFSX sẽ quyết định tính chính xác của chỉ tiêu giá thành. Xét về mặt bản chất, CFSX và giá thành sản phẩm giống nhau, vì chúng đều cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Xét về mặt lượng thì chúng lại khác nhau, khi nói đến CFSX là giới hạn cho chúng một thời kỳ nhất định, không phân biệt đối tượng chịu chi phí, mức độ hoàn thành của công việc. Còn khi nói đến giá thành sản phẩm là ta đã xác định một lượng CFSX nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định. Ta có thể thấy rõ hơn mối quan hệ giữa CFSX và giá thành sản phẩm thông qua đẳng thức kinh tế sau: Giá thành sản xuất  =  Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ  +  Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ  -  CFSX dở dang cuối kỳ   Như vậy, tại thời điểm tính giá thành, thì ngoài CFSX thực tế phát sinh trong kỳ, giá thành sản xuất của sản phẩm còn có thể bao gồm cả CFSX của khối lượng sản phẩm xây lắp dở dang đầu kỳ trong trường hợp có sự chuyển tiếp trong quá trình sản xuất, thi công; nhưng loại trừ bộ phận CFSX nằm trong khối lượng sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ. Khi không có sản phẩm dở dang ở đầu kỳ và cuối kỳ hoặc chúng bằng nhau thì giá thành sản phẩm trùng với CFSX tập hợp được trong kỳ. Thực tế ở DN xây lắp, trong một kỳ luôn luôn tồn tại một khối lượng sản phẩm dở dang nhất định, bởi vì thời gian thi công sản xuất thường dài, mà kỳ tính giá thành thường không trùng với chu kỳ sản xuất, nghĩa là không thể đợi đến khi sản phẩm hoàn thành mới tính giá thành toàn bộ. Hơn nữa, giá thành sản phẩm còn mang tính chất chủ quan, việc giới hạn chi phí tính vào giá thành sản phẩm phụ thuộc vào quan điểm tính toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng như quy định của chế độ quản lí kinh tế - tài chính, chế độ kế toán hiện hành. 1.2.4. Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của CFSX và giá thành sản phẩm, kế toán DN cần phải nhận thức rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc tổ chức công tác kế toán chi phí, và tính giá thành sản phẩm. Đó là: - Lựa chọn và xác định đúng đắn đối tượng kế toán CFSX, phương pháp tập hợp CFSX, và đối tượng tính giá thành sao cho phù hợp, khoa học và hợp lý. - Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế toán sao cho phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán, tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán, báo cáo quản trị về chi phí, giá thành sản phẩm đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin, giúp các nhà quản trị DN ra quyết định một cách nhanh chóng, chính xác và phù hợp với quá trình sản xuất - tiêu thụ sản phẩm. - Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt là bộ phận kế toán các yếu tố chi phí. 1.3. ĐỐI TƯỢNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH 1.3.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và căn cứ xác định Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất: là phạm vi giới hạn để chi phí sản xuất được tập hợp theo đó. Việc xác định đối tượng kế toán CFSX là khâu đầu tiên có vai trò quyết định trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất. Bởi đó chính là cơ sở để tổ chức kế toán CFSX, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết CFSX… Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp CFSX là xác định nơi phát sinh chi phí là: phân xưởng, bộ phận sản xuất hay giai đoạn công nghệ nào… hoặc đối tượng chịu chi phí là sản phẩm hay đơn đặt hàng nào… Các căn cứ xác định: - Đặc điểm, công dụng của chi phí trong sản xuất. - Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ của các nhà quản trị doanh nghiệp, của cán bộ, nhân viên kế toán. - Yêu cầu quản lí chi phí, yêu cầu tính giá thành của doanh nghiệp. Do những đặc trưng của ngành và tính chất hoạt động riêng mà đối tượng kế toán CFSX của các doanh nghiệp xây lắp có thể là: - CT, HMCT xây lắp, các giai đoạn quy ước của hạng mục công trình có giá trị dự toán riêng. - Nhóm công trình, các đơn vị thi công (như: xí nghiệp, đội thi công). Các chi phí phát sinh, sau khi đã được tập hợp theo từng đối tượng tập hợp CFSX sẽ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đối tượng tính giá thành đã xác định. 1.3.2. Đối tượng tính giá thành và căn cứ xác định Đối tượng tính giá thành: là các loại sản phẩm xây lắp, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị. Để xác định đối tượng tính giá thành hợp lý cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, chu kỳ sản xuất sản phẩm, tính chất của sản phẩm cụ thể và trình độ, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Do sản xuất xây dựng chủ yếu mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng, cho nên đối tượng tính giá thành có thể là từng CT, HMCT xây lắp, các giai đoạn quy ước của HMCT có giá trị dự toán riêng hoàn thành. 1.3.3. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành Như đã phân tích ở trên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do vậy, đối tượng tập hợp CFSX và đối tượng tính giá thành cũng có những mối liên quan nhất định. Chúng giống nhau về mặt bản chất, bởi vì đây đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp CFSX theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, p

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBAN CHINH LUAN VAN.doc
  • docBANG BIEU - PHU.doc
  • docDANH MUC TU VIET TAT, SO DO, BIEU.DOC
  • docTAILIEUTHAMKHAO, NHANXET.DOC
Luận văn liên quan