Đề tài WAL – MART và KMART

Wal-Mart là nhà bán lẻ số 1 trên thế giới với hệ thống hơn 4500 cửa hàng, gồm cả các cửa hàng bán giảm giá,cửa hàng kết hợp giảm giá với bán thực phẩm khô và là thành viên duy nhất kho hàng trong hệ thống Sam’s club. Với hơn một thập niên, Wal-Mart đã đóng vai trò chính trong việc đầu tư và xúc tiến thương mại của hệ thống thông tin, nhằm cải thiện các hệ thống xử lý giao dịch và hoạt động kinh doanh cơ bản, quản trị kiểm kê tài sản và kho hàng. Bí quyết thành công của Wal-Mart là chiến lược dựa trên giá bán thấp, đó là kết quả của việc tiên đoán trước những đòi hỏi của khách hàng, cải thiện hệ thống kiểm kê danh mục của mình và những quy trình trong khi hạ thấp chi phí. Wal-Mart cũng xây dựng một hệ thống kinh doanh trên mạng để thường xuyên trao đổi dữ liệu lượng hàng bán, hàng tồn kho từ mỗi cửa hàng đến hàng ngàn nhà cung cấp và người mua. Công ty đã triển khai một trung tâm thương mại tư nhân, để hợp nhất việc thu mua trên thế giới và mời những nhà cung cấp trực tuyến bỏ thầu cho các hợp đồng. Sự thành công của những cải tiến này đối với các hệ thống xử lý giao dịch cơ bản đã cắt giảm chi phí của Wal-Mart, tiết kiệm nhiều hơn cho khách hàng. Bắt đầu năm 2002, Kmart xếp hàng thứ 3 của hệ thống bán lẽ ở Mỹ (sau Wal-Mart, Target) có hơn 2100 cửa hàng ở 50 bang ở Mỹ. Nhưng trong việc xây dựng một cách nhạy bén so với Wal-Mart thì Kmart vẫn chậm hơn. Mặc dù đã ra sức cố gắng nhưng những khó khăn trong việc bán hàng phục vụ “mùa mua sắm”, và sự suy thoái của nhà cung cấp đã khiến cho Kmart chờ phá sản. Công ty đã đóng cửa hơn 200 cửa hàng và sa thải 22000/250000 công nhân. Kmart đang tìm những hình thức giảm giá mới mà đảm bảo doanh thu và chiến dịch “Ánh sáng màu xanh đặc biệt” để thu hút khách hàng với những hình thức siêu khuyến mãi đã tạo ra sự khác biệt lớn về sản phẩm. Kmart vẫn không thể xây dựng cho mình kế hoạch vận chuyển cơ bản, việc thực hiện vận chuyển, và những hệ thống quản lý kiểm kê không mấy hiệu quả với những thay đổi không ngừng về đòi hỏi của khách hàng. Hơn nữa, Kmart không có khả năng cung cấp thông tin thường xuyên và chính xác và để xây dựng được những mối liên kết chặt chẽ với nhà cung cấp của mình, khiến cho Kmart không thể đáp ứng được nhu cầu của nhà bán lẻ. Sự tương phản giữa hai hệ thống quản lý kiểm kê của hai nhà bán lẽ, điều này là hiển nhiên khi chúng ta ghé thăm các cửa hàng của họ. Ở Kmart, chúng ta có thể tìm thấy những kệ hàng trống, với những sản phẩm chất đầy lên phòng lưu trữ. Những kệ hàng của Wal-Mart thì luôn đầy, ở đó hầu như không có chỗ để chất hàng tồn kho. Bởi vì người bán quản lý danh mục yêu cầu nhà cung cấp có trách nhiệm đáp ứng những sản phẩm khi Wal-Mart cần đến chúng, tiêu biểu là những mặt hàng thông dụng đã bán.

doc21 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 17/12/2012 | Lượt xem: 4766 | Lượt tải: 19download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài WAL – MART và KMART, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT KHOA TIN HỌC QUẢN LÝ BÁO CÁO BÀI TẬP TÌNH HUỐNG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ ĐỀ TÀI: WAL – MART VÀ KMART TP.HCM – 2011 DANH SÁCH PHÂN CÔNG NHÓM                                           MỤC LỤC Danh sách phân công nhóm ..1 Mục lục ..2 Bài dịch Case Study ..3 Tóm tắt bài tập tình huống ..5 Nhận xét bài tập tình huống ..6 Bài phân tích ..7 Hệ xử lý giao dịch TPS ..7 TPS là gì? ..7 Đặc điểm của TPS ..7 Các hoạt động kinh doanh hàng ngày mà TPS hỗ trợ ..7 Chiến lược kinh doanh và việc lựa chọn kiểu hệ thống ..8 WalMart – nhà bán lẻ hàng đầu thế giới ..8 Giới thiệu về WalMart ..8 Chiến lược kinh doanh của WalMart ..9 Hệ thống kiểm soát hàng tồn kho của WalMart 10 Kmart và bài học thất bại không bao giờ được quên 11 Giới thiệu về Kmart 11 Chiến lược kinh doanh của Kmart 12 Bài học thất bại của Kmart 12 Ảnh hưởng của chiến lược kinh doanh đối với việc lựa chọn hệ thống áp dụng vào mô hình kinh doanh 12 ERP – Hệ quản trị nguồn lực Doanh nghiệp 13 Giới thiệu ERP 13 Làm việc với ERP như thế nào để mang lại hiệu quả thật sự 13 Kết luận 19 Tài liệu tham khảo 19 BÀI DỊCH CASE STUDY Hệ thống xử lý giao dịch và hệ quản trị nguồn lực Doanh nghiệp [Wal Mart and Kmart] Sự khác biệt trong hệ thống xử lý giao dịch của hai nhà bán lẻ chính ở Mỹ Wal-Mart là nhà bán lẻ số 1 trên thế giới với hệ thống hơn 4500 cửa hàng, gồm cả các cửa hàng bán giảm giá,cửa hàng kết hợp giảm giá với bán thực phẩm khô và là thành viên duy nhất kho hàng trong hệ thống Sam’s club. Với hơn một thập niên, Wal-Mart đã đóng vai trò chính trong việc đầu tư và xúc tiến thương mại của hệ thống thông tin, nhằm cải thiện các hệ thống xử lý giao dịch và hoạt động kinh doanh cơ bản, quản trị kiểm kê tài sản và kho hàng. Bí quyết thành công của Wal-Mart là chiến lược dựa trên giá bán thấp, đó là kết quả của việc tiên đoán trước những đòi hỏi của khách hàng, cải thiện hệ thống kiểm kê danh mục của mình và những quy trình trong khi hạ thấp chi phí. Wal-Mart cũng xây dựng một hệ thống kinh doanh trên mạng để thường xuyên trao đổi dữ liệu lượng hàng bán, hàng tồn kho từ mỗi cửa hàng đến hàng ngàn nhà cung cấp và người mua. Công ty đã triển khai một trung tâm thương mại tư nhân, để hợp nhất việc thu mua trên thế giới và mời những nhà cung cấp trực tuyến bỏ thầu cho các hợp đồng. Sự thành công của những cải tiến này đối với các hệ thống xử lý giao dịch cơ bản đã cắt giảm chi phí của Wal-Mart, tiết kiệm nhiều hơn cho khách hàng. Bắt đầu năm 2002, Kmart xếp hàng thứ 3 của hệ thống bán lẽ ở Mỹ (sau Wal-Mart, Target) có hơn 2100 cửa hàng ở 50 bang ở Mỹ. Nhưng trong việc xây dựng một cách nhạy bén so với Wal-Mart thì Kmart vẫn chậm hơn. Mặc dù đã ra sức cố gắng nhưng những khó khăn trong việc bán hàng phục vụ “mùa mua sắm”, và sự suy thoái của nhà cung cấp đã khiến cho Kmart chờ phá sản. Công ty đã đóng cửa hơn 200 cửa hàng và sa thải 22000/250000 công nhân. Kmart đang tìm những hình thức giảm giá mới mà đảm bảo doanh thu và chiến dịch “Ánh sáng màu xanh đặc biệt” để thu hút khách hàng với những hình thức siêu khuyến mãi đã tạo ra sự khác biệt lớn về sản phẩm. Kmart vẫn không thể xây dựng cho mình kế hoạch vận chuyển cơ bản, việc thực hiện vận chuyển, và những hệ thống quản lý kiểm kê không mấy hiệu quả với những thay đổi không ngừng về đòi hỏi của khách hàng. Hơn nữa, Kmart không có khả năng cung cấp thông tin thường xuyên và chính xác và để xây dựng được những mối liên kết chặt chẽ với nhà cung cấp của mình, khiến cho Kmart không thể đáp ứng được nhu cầu của nhà bán lẻ. Sự tương phản giữa hai hệ thống quản lý kiểm kê của hai nhà bán lẽ, điều này là hiển nhiên khi chúng ta ghé thăm các cửa hàng của họ. Ở Kmart, chúng ta có thể tìm thấy những kệ hàng trống, với những sản phẩm chất đầy lên phòng lưu trữ. Những kệ hàng của Wal-Mart thì luôn đầy, ở đó hầu như không có chỗ để chất hàng tồn kho. Bởi vì người bán quản lý danh mục yêu cầu nhà cung cấp có trách nhiệm đáp ứng những sản phẩm khi Wal-Mart cần đến chúng, tiêu biểu là những mặt hàng thông dụng đã bán. Khi đọc chương 9, điểm chú ý là những điểm sau: Những hoạt động kinh doanh hàng ngày nào mà TPS (hệ thống xử lý giao dịch) phải hỗ trợ? Chiến lược kinh doanh của công ty đã ảnh hưởng như thế nào đối với kiểu hệ thống mà nó sử dụng? Các hệ thống được tích hợp tinh vi làm việc như thế nào để mang lại hiệu quả thật sự? TÓM TẮT BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Case study tóm tắt: Walmart là nhà bán lẻ số 1 trên thế giới với hơn 3.800 cửa hàng ở nước Mỹ và hơn 2.600 ở nước ngoài. Được thành lập vào năm 1962, trụ sở chính của Walmart được đặt tại Bentonville,Arkansas, Mỹ; người sáng lập là Sam Walton (1918 – 1992). Bí quyết thành công của Wal-Mart là chiến lược dựa trên giá bán thấp. Với chiến lược đó, Wal – Mart đã lựa chọn hệ thống thông tin nào để đạt được thành công như ngày hôm nay, họ đã sử dụng hệ thống thông tin thích hợp như thế nào để đem lại hiệu quả tốt nhất. Bắt đầu năm 2002, Kmart xếp hàng thứ 3 của hệ thống bán lẽ ở Mỹ (sau Wal-Mart, Target) có hơn 2100 cửa hàng ở 50 bang ở Mỹ. Kmart được thành lập tại Michigan từ năm 1897. Sau 105 năm hoạt động, Công ty bán lẻ Kmart đã đệ nạp hồ sơ phá sản tại toà án phá sản quận hạt BắcIllinois (ở Chicago). Đối mặt với hai gã khổng lồ lớn là WalMart và Target, Kmart đã lựa chọn gì trong kế hoạch kinh doanh của họ, và tại sao Kmart lại nhanh chóng đứng trên vực thẳm phá sản? Bài viết này nói về cách thức kinh doanh và hệ thống được sử dụng để áp dụng vào chiến lược của hai nhà bán lẻ đối lập: WalMart – chiến lược bán sản phẩm với giá thấp và hệ thống kiểm kê hàng tồn kho, cùng với sự tích hợp hệ thống thông tin Kmart – lạc lối trong chiến lược kinh doanh và thất bại do ngủ quên trên chiến thắng. Câu hỏi: Những hoạt động kinh doanh hàng ngày nào mà TPS (hệ thống xử lý giao dịch) phải hỗ trợ? Chiến lược kinh doanh của công ty đã ảnh hưởng như thế nào đối với kiểu hệ thống mà nó sử dụng? Các hệ thống được tích hợp tinh vi làm việc như thế nào để mang lại hiệu quả thật sự? NHẬN XÉT BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Lớp: K09406 Nhóm nhận xét : Case study đánh giá : Ghi số điểm vào ô vuông: (với mỗi nội dung chỉ cho điểm vào 1 trong các ô)  Rất kém 0 – 1 – 2  Kém 3 – 4  Trung bình 5 – 6  Tốt 7 – 8  Rất tốt 9 – 10   Nội dung trình bày        Phong cách thuyết trình        Trả lời câu hỏi        TỔNG CỘNG    Ý kiến nhận xét khác: ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... BÀI PHÂN TÍCH Hệ xử lý giao dịch TPS: TPS là gì? TPS là chữ viết tắt của Transaction Process System, là hệ thống thực hiện và ghi vết các giao dịch, như xử lý yêu cầu đặt hàng, đặt chỗ trong khách sạn, giao nhận, tính cước,… Mục đích của TPS là để thực hiện tự động các công việc xử lý dữ liệu thường lặp lại nhiều lần theo các quy tắc quản lý đã ban hành, và duy trì tính đúng đắn cho các hồ sơ (hoặc cơ sở dữ liệu) về các tác vụ đã thực hiện TPS giúp cho người nhân viên không làm sai, đồng thời tường thuật một cách chi tiết và trung thực về hoạt động của tổ chức cho người quản lý (cung cấp dữ liệu cho bộ phận xử lý thông tin) Đặc điểm của TPS: Thao tác trên dữ liệu chi tiết, phản ánh (ghi vết) một cách chi tiết về các hoạt động sản xuất của tổ chức. Dữ liệu của TPS diễn tả đúng những gì đã xảy ra (không dự báo hoặc khuyến nghị). Dữ liệu tạo ra được sử dụng chung cho nhiều vai trò quản lý khác nhau. Liên kết chặt chẽ với các quy tắc và quy trình đã được thiết kế tối ưu cho các xử lý. Chỉ cung cấp một vài thông tin từ xử lý đơn giản như tính tổng doanh thu trong tháng, tính mức tăng/giảm doanh thu tháng hiện tại so với tháng truớc… Là nguồn cung cấp thông tin chính cho các HTTT khác. Các hoạt động kinh doanh hàng ngày mà TPS hỗ trợ: Như chính tên của chúng đã nói rõ các hệ thống xử lý giao dịch xử lý các dữ liệu đến từ các giao dịch mà tổ chức thực hiện hoặc với khách hàng, với nhà cung cấp, những người này cho vay hoặc với nhân viên của nó. Các giao dịch sản sinh ra các tài liệu và các giấy tờ thể hiện những giao dịch đó. Các hệ thống xử lý giao dịch có nhiệm vụ tập hợp tất cả các dữ liệu cho phép theo dõi các hoạt động của tổ chức. Chúng trợ giúp các hoạt động ở mức tác nghiệp. Có thể kể ra các nghiệp vụ kinh doanh có sự hỗ trợ của TPS như: Nghiệp vụ trả lương. Lập đơn đặt hàng Làm hóa đơn Theo dõi khách hàng Theo dõi nhà cung  cấp Kiểm kê hàng tồn kho Cập nhật tài khoản ngân hàng Tính thuế phải trả của những người nộp thuế Thu ngân ở siêu thị. Bán vé máy bay… Chiến lược kinh doanh và việc lựa chọn kiểu hệ thống: WalMart – nhà bán lẻ hàng đầu thế giới: Giới thiệu về WalMart: Thành lập: 1962 tại Rogers, Bang Arkansas của Mỹ; Trụ sở chính: Bentonville, Arkansas, Mỹ; người sáng lập là Sam Walton (1918 – 1992); Lãnh đạo chủ chốt: H.Lee Scott, tổng giám đốc điều hành; S.Robson Walton, chủ tịch hội đồng quản trị; Tom Schowe, giám đốc tài chính. Ngành: kinh doanh bán lẻ; Sản phẩm: Chuỗi cửa hàng giảm giá, đại siêu thị và các thị trường lân cận; Doanh thu: 373,80 tỉ USD (2007) Lợi nhuận dòng sau thuế: 12,88 tỉ USD (2007) Tổng tài sản: 151,193 tỉ USD (2007) Tổng giá trị cổ phiếu phát hành ra thị trường: 61,573 tỉ USD Số lượng nhân viên: 1.9 triệu (2007), hơn 1.3 triệu là ở Mỹ Thị trường của WalMart: Mỹ, Mêxicô, Anh, Nhật, Argentia, Braxin, Canađa, Trung Quốc, Puerto Rico,…WalMart hoạt động với hơn 3.800 cơ sở ở nước Mỹ và hơn 2.600 ở nước ngoài. Trung bình cứ một siêu của WalMart mở ra, giá cả hàng hoá của các siêu thị khác sẽ phải giảm 10-15%. Khoảng 30% loại mùng mền, giấy toitlet, xà phòng kem đánh răng, 20% thức cho các loại thú nuôi trong nhà và 15-20% đĩa CD, đầu máy Video và đĩa DVD khác.,.. Việc WalMart giảm giá thực phẩm đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Mỹ tối thiểu 50 tỉ USD/năm. Song, điều này không có nghĩa WalMart chịu thiệt hòi. Doanh số và lợi nhuận trước thuế của người khổng lồ này vẫn bỏ xa các đối thủ “lực lưỡng” khác. Với hơn 176 triệu lượt khách hàng mỗi tuần viến thăm cữa hàng WalMart trên toàn thế giới, trong đó ở Mỹ là 127 triệu lượt mỗi tuần. Chiến lược kinh doanh “dẫn đầu nhờ chi phí thấp” của WalMart: Trong chiến lược này, sản phẩm hay dịch vụ mà WalMart hay Target cung cấp hoàn toàn giống với sản phẩm hay dịch vụ của các đối thủ. Chẳng hạn, các mặt hàng được WalMart và Target bán có thể lấy từ nhiều nguồn khác nhau như pin Duracell, ống nhòm Minolta, máy ảnh Canon, phim Kodak, quần jeans Wrangler, đồ lót Hanes, lưỡi dao cạo râu Gillette, bút Bic... Vậy tại sao nhiều người lại thích tìm đến WalMart và Target để mua những món hàng này mà bỏ qua những địa điểm bán hàng của đối thủ? Vì họ tin rằng họ sẽ mua được cũng những món hàng như vậy nhưng với giá rẻ hơn. Hai tập đoàn này đã được xây dựng đặc biệt với lợi thế chi phí thấp như một phần chính trong chiến lược tổng thể của mình. Chìa khóa để sử dụng cho sự thành công của chiến lược chi phí thấp là đem lại giá trị mà khách hàng mong đợi ở mức chi phí đảm bảo khả năng sinh lợi thỏa đáng. Để thành công trong chiến lược này, WalMart đã tận dụng công nghệ mới để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí. Walton biết rằng chìa khóa để thành công trong kinh doanh lợi nhuận thấp là phải kiểm soát gắt gao các chi phí. Wal-Mart là một trong những nhà bán lẻ quy mô đầu tiên sử dụng máy rà điện tử tại quầy thu ngân đã được gắn hệ thống kiểm soát hàng tồn kho để họ có thể biết ngay lập tức mặt hàng nào bán chạy và để dễ đặt hàng khi cần thiết. Hệ thống kiểm soát hàng tồn kho của WalMart: WalMart có thể cắt giảm hàng tồn kho kém hiệu quả bằng cách cho phép các cửa hàng quản lí kho hàng của chính họ, cắt giảm kích thước các kiện hàng cho nhiều loại hàng hóa khác nhau và giảm giá đúng kịp thời. Thay vì cắt giảm hàng tồn kho một cách triệt để, WalMart tận dụng năng lực của đội ngũ IT để tạo ra nhiều hàng tồn kho hơn có sẵn trong container mà khách hàng cần nhất, trong khi đó cắt giảm toàn bộ mức tồn kho. WalMart cũng kết nối với các nhà cung cấp của nó thông qua những máy tính. WalMart hợp tác với P&G nhằm duy trì lượng tồn kho trong các cửa hàng của nó và xây dựng hệ thống tái đặt hàng tự động, kết nối với tất cả các máy tính giữa P&G và các cửa hàng và các trung tâm phân phối. Hệ thống máy tính ở các cửa hàng của WalMart nhận dạng ra mặt hàng còn ít trong kho và gửi tín hiệu đến P&G. Hệ thống sau đó sẽ gửi đơn đặt hàng cho nhà máy gần nhất của P&G thông qua hệ thống thông tin liên lạc qua vệ tinh. P&G sau đó phân phối hàng đến cả cho trung tâm phân phối của WalMart và trực tiếp đến các cửa hàng có liên quan. Sự phối hợp này giữa WalMart và P&G là một ý tưởng kinh doanh mà có lợi cho cả đôi bên bởi vì WalMart có thể giám sát mức tồn kho trong các cửa hàng một cách liên tục và cũng nhận dạng hàng hóa thứ mà đang bị dời đi nhanh chóng. P&G cũng có thể hạ thấp chi phí và tăng tiết kiệm cho WalMart nhờ vào sự hợp tác tốt đẹp. Công nhân ở các cửa hàng có một máy vi tính cầm tay được kết nối với máy tính bên trong cửa hàng thông qua mạng tần số radio. Những thứ này giúp giữ lại những ghi nhận về tồn kho, những lần giao hàng và lưu giữ hàng hóa trong ở các trung tâm phân phối. Quản trị đơn đặt hàng và lưu kho hàng hóa được thực hiện với sự giúp đỡ của các máy tính thông qua các hệ thống điểm bán hàng. Thông qua hệ thống này, có thể kiểm soát và ghi nhận doanh số và mức tồn kho trên các kệ hàng tại các cửa hàng. WalMart cũng sử dụng hệ thống thuật toán phức tạp để dự đoán số lượng chính xác của mỗi loại hàng hóa được giao, căn cứ vào mức tồn kho ở các cửa hàng. Khi có dữ liệu chính xác, ngay cả hàng hóa số lượng lớn cũng có thể được cung cấp cho các cửa hàng. WalMart cũng sử dụng hệ thống dữ liệu tồn kho tập trung được nhân viên tại các cửa hàng nhận biết mức tồn kho và nơi lưu trữ mỗi loại hàng bất cứ lúc nào. Nó cũng cho thấy rằng sản phẩm đó có đang được dỡ xuống tại trung tâm phân phối không hay đang trên đường vận chuyển. Một khi hàng hóa đã được bốc xuống cửa hàng nào, thì cửa hàng đó sẽ được lấp đầy kho với một mặt hàng cụ thể nào đó và hệ thống dữ liệu tồn kho sẽ được cập nhật ngay lập tức. WalMart cũng sử dụng công nghệ mã vạch và tần số radio để quản lí tồn kho. Sử dụng các máy đọc quang học cố định và máy đọc mã vạch, hàng hóa có thể được chuyển thẳng đến bãi chứa thích hợp, nơi mà chúng sẽ được bốc lên các xe tải cho việc giao hàng. Nó cũng có thể thực hiện việc đóng gói và kiểm kê tồn kho. Năm 1991, WalMart đã đầu tư gần 4 tỉ USD để xây dựng một hệ thống liên hệ các nhà bán lẻ. Hơn 10,000 nhà bán lẻ của WalMart sử dụng hệ thống này để kiểm soát doanh số bán tại các cửa hàng và lấp đầy tồn kho. Chi tiết về các giao dịch hằng ngày, có thể hơn 10 triệu lượt mỗi ngày, được xử lí thông qua hệ thống không thể tách rời này và được cung cấp cho mỗi cửa hàng của WalMart vào lúc 4a.m ngày hôm sau. Tháng 10 năm 2001, WalMart hợp tác với công ty thương mại Atlas nhằm nâng cấp hệ thống kết nối công nghệ Internet.WalMart nắm giữ một hệ thống máy tính quy mô và phức tạp nhất trong từng lĩnh vực riêng. Công ty sử dụng hệ thống máy tính MPP để lưu trữ quá trình vận chuyển hàng hóa và mức tồn kho. Tất cả thông tin liên quan đến doanh số bán và tồn kho đều được chuyển đến thông qua một hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh hiện đại. Nhằm cung cấp việc lưu giữ dữ liệu trong trường hợp có sự ngắt quảng hay đứt đoạn về dịch vụ thì công ty cũng có được một kế hoạch tác chiến một cách bao quát. Bằng cách sử dụng máy tính một cách có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mình, WalMart rất thành công trong việc cung cấp dịch vụ không gián đoạn cho khách hàng, nhà cung ứng, các cổ đông và các đối tác chiến lược. Kmart và bài học thất bại không bao giờ được quên: Giới thiệu về Kmart: Những cửa hàng đầu tiên của Kmart ra đời năm 1897. Đến giữa thế kỷ XX, chuỗi siêu thị Kmart thực sự bắt đầu kỷ nguyên huy hoàng của mình khi trở thành một trong những nhà phân phối hàng đầu tại Hoa Kỳ dựa trên doanh số và số chi nhánh. Tập đoàn vẫn duy trì được tốc độ phát triển trong suốt những năm 70, 80, 90 - dù sức cạnh tranh từ hàng loạt các nhãn hiệu mới ra đời ngày càng gay gắt. Tuy vậy, Kmart đã thất bại khi tiến hành đổi mới và không thu hút được vốn đầu tư. Số liệu bán hàng của các chi nhánh đại diện cho thấy sự sụt giảm đáng kể. Kmart tuyên bố phá sản năm 2002, sau đó được mua lại và hợp nhất với Sears. Dưới sự điều hành yếu kém, với hàng loạt biến đổi cách điệu đến mức vứt bỏ cả cá tính riêng và sức ép dữ dội từ "ông lớn" Wal-Mart, "người khổng lồ" đầy quyền lực của Hoa Kỳ Kmart cuối cùng đành chấp nhận ngậm ngùi nhường lại vị trí số 1. Chiến lược kinh doanh của Kmart: Wal-Mart là tập đoàn siêu thị lớn nhất thế giới với giá bán mọi sản phẩm cực thấp và khách hàng cũng thuộc tầng lớp có thu nhập thấp hơn một chút. Vì thế tập đoàn siêu thị Target ra đời đã định hướng vào nhóm khách hàng cao cấp và tập trung vào các sản phẩm được thiết kế đẹp, sử dụng khẩu hiệu “vừa rẻ, vừa thời thượng”. Mắc kẹt trong thị trường này là một tập đoàn siêu thị khác, Kmart, một tập đoàn lớn nhưng ít lâu sau thì bị phá sản. Vậy Kmart đã quyết định sử dụng chiến lược gì trong kế hoạch kinh doanh của mình. Kmart hướng vào việc hàng tuần tung ra thị trường những mặt hàng đặc biệt để kéo khách hàng thay vì cứ phải chạy theo Wal-Mart Stores Inc. thường bán với giá rất thấp. Kmart tự nói về mình là “một công ty bán nhiều sản phẩm đa dạng, cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chất lượng với hàng loạt thương hiệu và nhãn hiệu độc quyền”. Bài học thất bại của Kmart: Dạo quanh một cửa hàng của Kmart bạn sẽ phát hiện thấy rằng những sản phẩm thời trang lại bị trưng bày ở những nơi tồi tàn như nhà kho. Họ còn bán các dụng cụ nhà bếp của Kenmore – đây là loại hình sản phẩm đòi hỏi phải có sự hỗ trợ tư vấn của người bán hàng nhưng rất nhiều cửa hàng của Kmart lại không có dịch vụ này. Nói tóm lại, Kmart vẫn chưa định hình được một phong cách hoạt động rõ ràng, có thể phản ánh được cả nhu cầu của khách hàng và năng lực của chính họ. Lúc đó, Kmart rõ ràng quá tự hào với truyền thống của mình mà quên đi những ưu thế của các địch thủ cạnh tranh mới nổi. Các nhà phân tích đều cho rằng bài học từ Kmart chính là sự lơi lỏng trong quản lý, kế hoạch kinh doanh không được vạch ra kịp thời và rõ ràn