Đồ án Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung quốc giai đoạn 2000-2011

Việt nam và trung quốc là hai nước láng giềng ,có dường biên giới chung dài hơn 1350 km,trong đó việt nam có 6 tỉnh :quảng ninh,lạng sơn ,cao bằng ,hà giang,lai châu và lào cai tiếp giáp với 2 tỉnh (khu tự trị)của trung quốc là quảng tây và vân nam. Trung Quốc vẫn luôn có sự ảnh hưởng lớn đến Việt Nam từ văn hóa đến kinh tế do những yếu tố về địa lí,vị thế địa chính trị,lịch sử quan hệ lâu đời kéo dài hàng nghìn năm giữa hai nước.Chính vì vậy,chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và nhà nước Việt Nam cũng như là đề tài được nghiên cứu bởi rất nhiều những nhà lãnh đạo cấp cao và các nhà ngoại giao hàng đầu. Nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc trong giai đoạn 2000-2011” ko chỉ bởi tầm quan trọng của quan hệ Việt Nam-Trung Quốc như đã nêu ở trên mà giai đoạn 2000-2011 là một giai đoạn mà mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc có rất nhiều biến động đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc tranh chấp 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Ngoài ra,nền kinh tế của Trung Quốc trong thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 21 đã có những bước tiến rất mạnh mẽ và đang ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế thế giới.Do đó,chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc trong giai đoạn này có vai trò rất quan trọng đối với lợi ích của đất nước cũng như sự phát triển của Việt Nam trên trường quốc tế Đề tài này giành được nhiều sự quan tâm nên nó cũng đã được rất nhiều chuyên gia nghiên cứu.Mục đích của nhóm chúng em là cố gắng đi sâu hơn đối với những chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc trong giai đoạn này và những hệ quả của nó.Đối tượng nghiên cứu trong bài là các chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc và những kết quả đạt được của Việt Nam với những chính sách đó,phạm vi nghiên cứu là từ giai đoạn 2000-2011.Trong bài tiểu luận này chúng em sẽ sử dụng nhiều các phương pháp phân tích,phương pháp luận ,phương pháp tổng hợp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong bài Với vai trò và vị trí của Trung Quốc như dã nói ở trên Việt Nam rất coi trọng phát triển quan hệ với Trung Quốc Việt Nam coi Trung Quốc là đối tác chiến lược quan trọng nhất . Chủ trương của Đảng và nhà nước ta là phát triẻn quan hệ hợp tác toàn diện trên tát cả các mặt chính trị văn hoa thể thao với Trung Quốc Việt Nam coi trọng kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc coi đó là hình mẫu phát triển nên đã cử rất nhiều đoàn sang Trung Quốc học hỏi kinh nghiệm Việt Nam coi Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất . Trung Quốc là thị trường rất lớn cho các hàng hóa của Việt Nam , quan hệ thương mại Việt Trung phát triển sẽ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Trung Quốc , góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế của Việt Nam Hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn bất đồng về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo hoàng sa và trường sa ( quàn đảo hoàng sa thuộc chủ quyền VN nhưng đang bị TQ chiếm giữ trái phép từ năm 1974; cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền dối với quần đảo Trường sa ) chính sách của Việt Nam là ko để nhưng bất đồng trên ảnh hưởng đến quan hệ 2 nước . Việt Nam chủ trương giải quyết nhưng vấn đề trên bằng phương pháp hòa bình . Trên thực tế Việt Nam và Trung Quốc có lợi ích trong việc bảo vệ ổn định khu vực biển đông

doc11 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 21/05/2013 | Lượt xem: 2438 | Lượt tải: 24download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đồ án Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung quốc giai đoạn 2000-2011, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục Lời mở đầu Chương I : Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung quốc giai đoạn 2000-2011 1 Chính Trị 2 Kinh tế 3 Văn hóa xã hội Chương 2 : Kết quả đạt được của chính sách đối ngoại 1 Về Chính Trị 2 Về Kinh tế 3 Văn hóa xã hội Chương 3 : Các vấn đề đặt ra trong quan hệ hai nước Việt Nam Trung Quốc 1 Kinh tế 2 Biên giới lãnh thổ Kết luận Tài liệu tham khảo : boxitvn.wordpress.com vietnamnet.com.vn Giáo trình chính sách đối ngoại II Tập chí nghiên cứu Trung Quốc Lời mở đầu Việt nam và trung quốc là hai nước láng giềng ,có dường biên giới chung dài hơn 1350 km,trong đó việt nam có 6 tỉnh :quảng ninh,lạng sơn ,cao bằng ,hà giang,lai châu và lào cai tiếp giáp với 2 tỉnh (khu tự trị)của trung quốc là quảng tây và vân nam. Trung Quốc vẫn luôn có sự ảnh hưởng lớn đến Việt Nam từ văn hóa đến kinh tế do những yếu tố về địa lí,vị thế địa chính trị,lịch sử quan hệ lâu đời kéo dài hàng nghìn năm giữa hai nước.Chính vì vậy,chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và nhà nước Việt Nam cũng như là đề tài được nghiên cứu bởi rất nhiều những nhà lãnh đạo cấp cao và các nhà ngoại giao hàng đầu. Nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc trong giai đoạn 2000-2011” ko chỉ bởi tầm quan trọng của quan hệ Việt Nam-Trung Quốc như đã nêu ở trên mà giai đoạn 2000-2011 là một giai đoạn mà mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc có rất nhiều biến động đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc tranh chấp 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Ngoài ra,nền kinh tế của Trung Quốc trong thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 21 đã có những bước tiến rất mạnh mẽ và đang ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế thế giới.Do đó,chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc trong giai đoạn này có vai trò rất quan trọng đối với lợi ích của đất nước cũng như sự phát triển của Việt Nam trên trường quốc tế Đề tài này giành được nhiều sự quan tâm nên nó cũng đã được rất nhiều chuyên gia nghiên cứu.Mục đích của nhóm chúng em là cố gắng đi sâu hơn đối với những chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc trong giai đoạn này và những hệ quả của nó.Đối tượng nghiên cứu trong bài là các chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc và những kết quả đạt được của Việt Nam với những chính sách đó,phạm vi nghiên cứu là từ giai đoạn 2000-2011.Trong bài tiểu luận này chúng em sẽ sử dụng nhiều các phương pháp phân tích,phương pháp luận ,phương pháp tổng hợp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong bài Với vai trò và vị trí của Trung Quốc như dã nói ở trên Việt Nam rất coi trọng phát triển quan hệ với Trung Quốc Việt Nam coi Trung Quốc là đối tác chiến lược quan trọng nhất . Chủ trương của Đảng và nhà nước ta là phát triẻn quan hệ hợp tác toàn diện trên tát cả các mặt chính trị văn hoa thể thao với Trung Quốc Việt Nam coi trọng kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc coi đó là hình mẫu phát triển nên đã cử rất nhiều đoàn sang Trung Quốc học hỏi kinh nghiệm Việt Nam coi Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất . Trung Quốc là thị trường rất lớn cho các hàng hóa của Việt Nam , quan hệ thương mại Việt Trung phát triển sẽ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Trung Quốc , góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế của Việt Nam Hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn bất đồng về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo hoàng sa và trường sa ( quàn đảo hoàng sa thuộc chủ quyền VN nhưng đang bị TQ chiếm giữ trái phép từ năm 1974; cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền dối với quần đảo Trường sa ) chính sách của Việt Nam là ko để nhưng bất đồng trên ảnh hưởng đến quan hệ 2 nước . Việt Nam chủ trương giải quyết nhưng vấn đề trên bằng phương pháp hòa bình . Trên thực tế Việt Nam và Trung Quốc có lợi ích trong việc bảo vệ ổn định khu vực biển đông Chương I : Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung quốc giai đoạn 2000-2011 1 Chính Trị Năm 2000, Việt Nam và Trung Quốc ký Tuyên bố chung về Quan hệ hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, được coi như bộ khung cho quan hệ song phương. Đại hội IX của Đảng ta là Đại hội mở đường cho đất nước vững  bước vào thế kỷ 21, phương châm cho hoạt động đối ngoại là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Tuyên bố chính sách của Đại hội chúng ta là: "Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" Tại Đại hội IX (tháng 4-2001) và Đại hội X (tháng 4-2006), chủ trương nhất quán về mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng ta được khẳng định: “Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền” Năm 2006, hai nước thống nhất thành lập Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc và tới tháng 6/2008, quan hệ hai bên được nâng lên thành "đối tác chiến lược" để rồi một năm sau đó lại nâng lên tiếp thành "đối tác hợp tác chiến lược". Việt Nam đã chủ động đàm phán và ký kết với nhiều nước trong và ngoài khu vực những khuôn khổ quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện cho Hiệp định về biên giới trên bộ, Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá với Trung Quốc đường lối, đối ngoại, định ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước giai đoạn 2006 - 2010. Về đối ngoại, Đại hội khẳng định, chúng ta "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực" Đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh "đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc ta lúc này" là phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn để "phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn" Đại hội X đã tiếp tục khẳng định "chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế" với phương châm Việt Nam là "bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế" Đại hội X đã đề ra, công tác đối ngoại cần tập trung vào thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là với các nước láng giềng, chúng ta sẽ tiếp tục các nỗ lực để xây dựng và củng cố đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đặc biệt là triển khai và hoàn thành việc phân giới, cắm mốc với Trung Quốc năm 2008 như đã thỏa thuận Từ tháng 3/2009, lãnh đạo Việt Nam - Trung Quốc đã thiết lập đường dây nóng để thảo luận các vấn đề cấp thiết, đặc biệt là xung đột trên Biển Đông. Hai nước thường xuyên trao đổi các đoàn đại biểu trong các lĩnh vực và các cấp. Riêng năm 2009, có tới 267 đoàn khác nhau, trong đó 108 đoàn là cấp thứ trưởng trở lên. 2 Kinh tế Các chuyến thăm thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đã tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy quan hệ toàn diện giữa hai bên không ngừng nâng cao. Việc nâng quan hệ hai nước trở thành mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, việc thành lập và đi vào hoạt động của Ban chỉ đạo quan hệ song phương giữa Chính phủ hai nước đã góp phần hết sức quan trọng trong việc giải quyết kịp thời các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển toàn diện quan hệ song phương, nhất là đưa quan hệ hợp tác kinh tế thương mại lên tầm cao mới. Bên cạnh đó, các bộ, ngành của hai nước đã thường xuyên gặp gỡ, trao đổi và điều chỉnh, bổ sung nội dung các hiệp định trong các lĩnh vực hợp tác kinh tế thương mại nhằm không ngừng hoàn thiện hành lang pháp lý cho hợp tác kinh tế và trao đổi thương mại. Những kết quả trên cũng không tách rời vai trò tác dụng to lớn có hiệu quả của các chương trình xúc tiến quốc gia, sự nỗ lực của các địa phương, nhất là các tỉnh biên giới phía Bắc và sự chủ động của cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng Việt Nam. Với việc hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền và đẩy mạnh đàm phán các vấn đề trên biển đã góp phần ổn định và tăng cường môi trường hợp tác, thương mại đầu tư giữa hai nước. Các kỳ họp của Uỷ ban hợp tác kinh tế liên Chính phủ hai nước vừa qua và kết quả các cuộc họp giữa các bộ ngành hai nước trong lĩnh vực quản lý, chất lượng kiểm nghiệm kiểm dịch đã từng bước tháo gỡ những khó khăn, khắc phục những mặt hạn chế trong lĩnh vực thương mại. 3 Văn hóa xã hội Hai bên cũng khuyến khích các hoạt động hợp tác và giao lưu trên các lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, triển lãm, hợp đồng xuất bản các tác phẩm ưu tú, cử cán bộ thăm viếng trao đổi lẫn nhau. Ngoài ra, hai bên còn ký các văn bản thoả thuận khác như: Kế hoạch thực hiện Hiệp định văn hoá Việt Nam - Trung Quốc; kế hoạch thực hiện hợp đồng văn hoá năm 2000 - 2001; chương trình hợp tác văn hoá giữa hai nước giai đoạn 2002 - 2003 v.v… Nhờ vậy, các hoạt động giao lưu văn hoá giữa hai nước đã phát triển mạnh mẽ. Sự hợp tác về giáo dục giữa hai nước cũng được coi trọng và phát triển. Ngành giáo dục hai nước đã tiến hành những cuộc hội đàm và ký kết các văn bản thoả thuận về giao lưu và hợp tác giáo dục. Tính đến nay, có hơn 20 trường đại học của Việt Nam có quan hệ giao lưu hợp tác với hơn 40 trường đại học và học viện của Trung Quốc. Hàng năm, Chính phủ Trung Quốc cấp 45 suất học bổng cho lưu học sinh Việt Nam đến Trung Quốc học tập. Phía Việt Nam cũng cấp khoảng 5 - 10 suất học bổng cho lưu học sinh Trung Quốc sang Việt Nam học tập Trong hợp tác về khoa học và công nghệ, sự hợp tác về khoa học kỹ thuật nông nghiệp được hai nước rất coi trọng và đẩy mạnh như hợp tác trong chế biến nông sản, xây dựng khu sản xuất hàng nông nghiệp áp dụng công nghệ cao (như dự án lúa lai và rau quả chất lượng cao). Ngoài ra, hai bên còn có các dự án hợp tác trong việc khôi phục, giữ gìn và nhân rộng giống một số cây quả ngon, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng; hợp tác nghiên cứu quản lý , sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nước sông Mê Kông, sông Hồng; hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường v.v… Davkt Lkd: Trong lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (Việt Nam) đã ký các Hiệp định hợp tác với Viện Khoa học xã hội Trung Quốc và một số Viện Khoa học xã hội các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên v.v… Đặc biệt trong năm 2000 giới lý luận và khoa học xã hội nhân văn hai nước đã tổ chức thành công hai cuộc hội thảo khoa học; Hội thảo "Chủ nghĩa xã hội - cái phổ biến và cái đặc thù" (Bắc Kinh, tháng 6.2000) và Hội thảo "Chủ nghĩa xã hội - kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc" (Hà Nội, tháng 11.2000). Chương 2 : Kết quả đạt được của chính sách đối ngoại 1 Về Chính Trị - Các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao được duy trì thường xuyên. Hai bên đã thành lập Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc và đã tiến hành 4 phiên họp. Hai bên đã tổ chức trọng thể nhiều hoạt động thiết thực và có ý nghĩa dịp kỷ niệm lần thứ 60 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc và Năm Hữu nghị Việt-Trung 2010. - Hợp tác giữa hai Đảng được đẩy mạnh. Hai bên duy trì trao đổi đoàn và thiết lập cơ chế hợp tác, giao lưu giữa các Ban Đảng, đã tổ chức 6 cuộc hội thảo về lý luận, kinh nghiệm xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, về đổi mới, cải cách mở cửa, hội nhập quốc tế. - Việc giao lưu giữa thế hệ trẻ 2 nước được duy trì, tháng 1/2010, Đoàn đại biểu 100 thanh niên Trung ương Đoàn thanh niên Trung Quốc thăm Việt Nam, tiến hành gặp gỡ hữu nghị thanh niên hai nước lần thứ 10; Liên hoan thanh niên Việt - Trung tại Quảng Tây (tháng 8/2010). - Quan hệ giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, an ninh, quốc phòng được tiếp tục được đẩy mạnh. Quan hệ giữa các địa phương hai bên cũng được tăng cường với nhiều hình thức đa dạng và thiết thực như trao đổi đoàn các cấp, ký kết các văn bản hợp tác, cùng nhau tổ chức hội thảo, triển lãm... 2 Về Kinh tế a. Về thương mại: - Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm 2010, kim ngạch thương mại hai chiều tăng mạnh đạt 27 tỷ USD (số liệu của TQ là 30 tỷ USD), vượt mục tiêu 25 tỷ USD mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đề ra. - Lãnh đạo cấp cao hai nước đã dành nhiều thời gian trao đổi các biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu duy trì đà tăng trưởng kim ngạch song phương đi đôi với cải thiện cán cân thương mại. Hai bên đang trao đổi để sớm ký kết “Quy hoạch 5 năm phát triển kinh tế thương mại Việt – Trung”. Về du lịch: Quan hệ du lịch giữa Việt Nam và Trung Quốc những năm qua và hiện nay phát triển toàn diện cả lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam và khách Việt Nam sang Trung Quốc. Trung Quốc liên tục là nước đứng đầu về số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam từ trước đến nay. Từ năm 2001-2010, số lượng khác du lịch Trung Quốc đến Việt Nam luôn đạt từ trên nửa triệu người đến 800 nghìn lượt người, trong đó năm cao nhất đạt 778,4 nghìn lượt người (2004) và năm thấp nhất là 519 nghìn lượt người ((2009). 8 tháng đầu năm 2010 con số này đã đạt tới 591,3 nghìn lượt người, tăng 96,2% so cùng kỳ năm 2009 và ước tính cả năm sẽ đạt trên 800 nghìn lượt khách, mức cao nhất từ trước đến nay Bước phát triển mới và tăng trưởng cao trong quan hệ kinh tế giữa hai nước những năm qua ngày càng phát huy tác dụng quan trọng đối với mỗi nước. Sự tăng trưởng về kim ngạch xuất nhập khẩu luôn vượt mục tiêu đề ra, các dự án hợp tác kinh tế và đầu tư trực tiếp vào các lĩnh vực ngày càng đa dạng phù hợp với tiềm năng, thế mạnh và nhu cầu mỗi nước đã và đang góp phần nâng cao giá trị hàng hoá của cả hai nước, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc b. Về hợp tác đầu tư: - Quan hệ hợp tác đầu tư có bước phát triển mới, nhiều tập đoàn lớn của Trung Quốc bày tỏ mong muốn đầu tư vào Việt Nam. Tính đến tháng 1/2011, Trung Quốc có 753 dự án đầu tư tại Việt Nam còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 3,26 tỷ USD, đứng thứ 14/93 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. - Trong những năm qua, hai bên đã và đang triển khai một số dự án hợp tác kinh tế lớn, cũng như nhất trí tăng cường thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi. Ngoài tín dụng ưu đãi, Chính phủ Trung Quốc còn hỗ trợ Việt Nam nhiều khoản viện trợ không hoàn lại dùng vào việc tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc; giao lưu thanh thiếu niên; đầu tư trang thiết bị cho một số bệnh viện tại Việt Nam; xây dựng khu nhà ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Cung Hữu nghị Việt - Trung. Từ năm 2001 đến nay nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi từ Trung Quốc đã tăng lên mạnh mẽ và được hai nước ưu tiên sử dụng trong các lĩnh vực mà Việt Nam đang cần. Đó là hợp tác trong lĩnh vực điện với trên 10 dự án, lĩnh vực khai khoáng 10 dự án, lĩnh vực luyện kim 5 dự án, lĩnh vực phân bón, hoá chất 5 dự án, lĩnh vực cơ khí 3 dự án. Ngày 22-10-2008, trong chuyến thăm Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo dã chứng kiến lễ ký các văn kiện hợp tác kinh tế quan trọng: Thỏa thuận giữa Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc và Bộ Tài chính Việt Nam về việc cung cấp tín dụng dự án đường sắt nhẹ Hà Nội - Hà Đông và việc sử dụng tín dụng ưu đãi bên mua; Thỏa thuận hợp tác giữa UBND thành phố Hải Phòng với Chính quyền thành phố Thâm Quyến về việc xây dựng khu kinh tế thương mại Trung - Việt tại Hải Phòng; Thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2009-2010 giữa Hội liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam với Hội Hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc; Thỏa thuận giữa Tập đoàn dầu khí Việt Nam với CMG (Tập đoàn Chiêu Thương) về việc xây dựng, vận hành Cảng Sao Mai - Bến Đình và Thoả thuận hợp tác chiến lược giữa Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam với Công ty dầu khí Hải Dương Quốc gia Trung Quốc (CNOC)… Các hạng mục hợp tác trên đã và đang lần lượt đi vào hoạt động, góp phần đáng kể trong việc phát triển kinh tế, xã hội mỗi nước. 3 Văn hóa xã hội Trong những năm qua, quan hệ trao đổi, hợp tác giữa ta với Trung Quốc trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hoá, thể thao được đẩy mạnh. - Hàng năm, Trung Quốc cung cấp và duy trì số lượng 130 học bổng dài hạn và 10 học bổng thực tập sinh ngắn hạn cho Việt Nam. Trong 3 năm qua, số lượng lưu học sinh Việt Nam sang du học ở Trung Quốc tăng nhanh. Hiện có khoảng 12.000 lưu học sinh ta đang học tại các trường đại học của Trung Quốc với những ngành nghề đa dạng. Trung Quốc hiện nay có khoảng trên 3500 người đang du học tại Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các ngành tiếng Việt, du lịch và kinh doanh. - Về hợp tác du lịch: Trung Quốc là thị trường nguồn du lịch lớn của Việt Nam. Năm 2010 có hơn 900.000 lượt khách Trung Quốc đi du lịch Việt Nam, tăng 175% so với cùng kỳ. Chương 3 : Các vấn đề đặt ra trong quan hệ hai nước Việt Nam Trung Quốc 1 Kinh tế Trong quan hệ thương mại hai nước còn tồn tại một số hạn chế lớn. Cán cân thương mại hai nước ngày càng mất cân đối, tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam ngày càng tăng. Nếu năm 2000, Việt Nam còn xuất siêu sang Trung Quốc 135,3 triệu USD, thì từ năm 2001 bắt đầu quá trình nhập siêu từ Trung Quốc với số lượng ngày càng tăng với tốc độ nhanh: Năm 2001 là 200 triệu USD, năm 2005 là 2671 triệu USD, năm 2006 là 4,14 tỉ USD, năm 2007 là 9 tỉ USD, năm 2008 là 11,1 tỉ USD, năm 2009 đã tăng lên 11,5 tỉ USD, gấp 55 lần so với năm 2001 và năm 2020 ước gần 12 tỉ USD. Việc tổ chức biên mậu giữa hai nước vẫn còn nhiều bất cập. Tình trạng buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại, hàng giả hàng chất lượng kém vẫn còn tiếp diễn gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh và tâm lý người tiêu dùng. Mức tăng trưởng mậu dịch giữa hai nước tuy tăng nhanh nhưng chưa vững và chưa phản ánh hết tiềm năng rất lớn của mỗi nước. Về đầu tư, hầu hết các dự án đều có quy mô nhỏ vốn ít và tập trung vào các lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên và công nghiệp chế biến với công nghệ trung bình. Quy mô đầu tư FDI của Trung Quốc tại Việt Nam hiện nay gồm các lĩnh vực không phải là thế mạnh của Trung Quốc, nhiều dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, thậm chí gây ô nhiễm môi trường .. Nhiều hạng mục công trình không hoàn thành đúng thời gian đã định. Việc giải ngân nhiều dự án chậm. Đầu tư của Việt Nam sang Trung Quốc những năm gần đây tuy đã có bước tiến mới nhưng quy mô còn nhỏ. Tính đến cuối năm 2009, Việt Nam mới có 8 dự án FDI tại nước này với số vốn đăng ký 11,2 triệu USD. Quan hệ du lịch giữa Việt Nam và Trung Quốc những năm qua và hiện nay phát triển nhưng tính bền vững chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Để khắc phụ những hạn chế trên, các cơ quan hữu quan của hai nước đã tiến hành các cuộc họp của Tiểu ban thương mại và đầu tư giữa hai nước nhằm cụ thể hoá các biện pháp đẩy mạnh khai thác tiềm năng kinh tế và tính bổ sung lẫn nhau, từng bước thuận lợi hoá các thủ tục hành chính, đưa việc quản lý biên mậu, đầu tư giữa hai nước phát triển một cách lành mạnh, góp phần duy trì và làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian tới. 2 Biên giới lãnh thổ Tuy Viêt Nam Trung Quốc là hai nước láng giềng với nhau từ lâu nhưng vẫn thường xảy ra những tranh chấp chủ quyền về biên giới lãnh thổ . Đặc biệt là tranh chấp chủ quyền về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn là hai quần đảo của Việt Nam nhưng Trung Quốc luôn coi quyền sở hữu hai quần đảo đó là của mình - Về vấn đề Trường Sa và Hoàng Sa : Trung Quốc đã xây trên Đá Subi thuộc quần đảo Trường Sa đang tranh chấp ở vùng biển phía nam Trung Quốc.Ngọn hải đăng được dựng trên một khu vực mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Phản ứng trước việc Trung Quốc chính thức khai thông mạng di động ở Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa . Trong hơn 4 năm qua, có 1.186 tàu đánh cá và 7.045 ngư dân Việt Nam bị bắt giữ trong khi hoạt động ở các vùng tranh chấp trên Biển Đông . Trung Quốc thường xuyên cắt cử những tầu ngư chính của mình tới các quần đảo của chúng
Luận văn liên quan