Đồ án Nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý nước thải cho khu dân cư huyện Hóc Môn

Với tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế cũng như dân số của huyện Hóc Môn dẫn đến lượng nước thải phát sinh cũng tăng nhanh. Do đó đòi hỏi phải có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn theo đúng tiêu chuẩn quy định của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường. Nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng số nước thải ở các thành phố, là một nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm nước và vấn đề này có xu hướng ngày càng xấu đi.Tại một số thành phố lớn, thị xã , thị trấn chỉ một số khu vực dân cư, có hệ thống cống rãnh thải nước thải sinh hoạt, song hệ thống này thường dùng chung với hệ thống thoát nước mưa thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên, ao hồ, sông suối hoặc thải ra biển. Hầu như không có hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải riêng biệt. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Thiết kế trạm xử lý nước thải cho khu đô thị Hóc Môn” nhằm đề suất một hệ thống xứ lý nước thải sinh hoạt có hiệu quả cao với giá thành phù hợp để góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt gây ra.

doc59 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 06/06/2013 | Lượt xem: 2002 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đồ án Nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý nước thải cho khu dân cư huyện Hóc Môn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TP.HCM KHOA MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO ĐỒ ÁN MÔN HỌC NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO KHU DÂN CƯ HUYỆN HÓC MÔN GVHD : BIỆN VĂN TRANH SVTH : NGUYỄN NGỌC LAN TP.HCM, 1/2011 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN Kỹ năng tính toán và thiết kế các quy trình hệ thống xử lý nước cấp, nước thải, khí thải, chất thải rắn,…là một trong những nhu cầu chính yếu, không thể thiếu được của sinh viên nghành Kỹ Thuật Môi Trường. qua các môn học lý thuyết sinh viên đã được trang bị hệ thống kiến thức cần thiết. tuy nhiên, để tiếp cận thực tế và nâng cao các kỹ năng này cần kết nối, cụ thể hóa các lý thuyết tính toán. Là mắc xích then chốt trong việc hoàn bị kiến thức sinh viên. Đồ án nước thải đã đáp ứng tốt vai trò này. Trước tiên em chân thành cảm ơn đến thầy Biện Văn Tranh đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đồ án này. Cùng toàn thể các thầy cô khoa Môi Trường, thầy cô Trường Cao Đẳng Tài Nguyên Và Môi Trường, đã giảng dạy, chỉ bảo, truyền đạt nguồn kiến thức và những kinh nghiệm quý báo cho em trong suốt thời gian học tại trường. Xin cảm ơn đến toàn thể bạn bè cùng lớp, đặc biệt là bạn Nguyễn Khắc Đạt đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình làm đồ án này. Mặc dù đã nổ lực hết mình, nhưng với khả năng, kiến thức còn hạn chế không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình thực hiện đồ án này. Kính mong quý thầy cô chỉ dẫn, giúp đỡ em để ngày càng hoàn thiện vốn kiến thức của mình và tự tin bước vào cuộc sống. Em chân thành cảm ơn! MỞ ĐẦU Với tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế cũng như dân số của huyện Hóc Môn dẫn đến lượng nước thải phát sinh cũng tăng nhanh. Do đó đòi hỏi phải có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn theo đúng tiêu chuẩn quy định của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường. Nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng số nước thải ở các thành phố, là một nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm nước và vấn đề này có xu hướng ngày càng xấu đi.Tại một số thành phố lớn, thị xã , thị trấn chỉ một số khu vực dân cư, có hệ thống cống rãnh thải nước thải sinh hoạt, song hệ thống này thường dùng chung với hệ thống thoát nước mưa thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên, ao hồ, sông suối hoặc thải ra biển. Hầu như không có hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải riêng biệt. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Thiết kế trạm xử lý nước thải cho khu đô thị Hóc Môn” nhằm đề suất một hệ thống xứ lý nước thải sinh hoạt có hiệu quả cao với giá thành phù hợp để góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt gây ra. CHƯƠNG I:TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI SINH HOẠT 1.1. Giới thiệu chung về huyện Hóc Môn 1.1.1. Vị trí địa lý Hóc Môn là huyện ngoại thành ở phía Tây Bắc của thành phố Hồ Chí Minh. Phía Bắc giáp huyện Củ Chi. Phía Nam giáp quận 12. Phía Đông giáp huyện Thuận An của tỉnh Bình Dương, ranh giới là sông Sài Gòn. Phía Tây giáp huyện Đức Hoà của tỉnh Long An, huyện Bình Chánh và quận Bình Tân. Về hành chánh, hiện nay huyện bao gồm thị trấn Hóc Môn và 11 xã khác nhau là: Tân Thới Nhì, Tân Hiệp, Thới Tam Thôn, Đông Thạnh, Nhị Bình, Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Thượng, Bà Điểm, Tân Xuân, Trung Chánh, Xuân Thới Đông Nằm ở cửa ngõ của thành phố, Hóc Môn có hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai, tỉnh lộ, hương lộ khá hoàn chỉnh. Sông, kênh rạch cũng là thế mạnh về giao thông đường thủy, tất cả tạo cho huyện một vị trí thuận lợi để phát triển công nghiệp và đô thị hóa, hỗ trợ cho nội thành giảm áp lực dân cư đồng thời là vành đai cung cấp thực phẩm cho thành phố. 1.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội Xã hội Trong 5 năm từ 2001 - 2005, ngành giáo dục huyện phát triển đồng đều ở cả 3 ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên. Năm học 2004-2005, toàn huyện có 20 trường mầm non, mẫu giáo; 9 nhóm nhà trẻ gia đình; 23 trường tiểu học; 12 trường Trung học cơ sở  và 3 đơn vị trực thuộc. Cũng trong năm học này, thành phố đồng ý cho Hóc Môn thành lập 2 trường Trung học phổ thông là trường Nguyễn Hữu Tiến (ở xã Đông Thạnh) và trường Nguyễn Văn Cừ (ở xã Xuân Thới Thượng) Trung tâm văn hóa huyện có một nhà hát với khán phòng 1.234 chỗ ngồi phục vụ biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và không chuyên, tổ chức các hoạt động hội thi, hội diễn, Maketing, họp mặt chuyên đề… cùng với các chức năng có các hoạt động sự nghiệp và để tổ chức các lớp năng khiếu, tập luyện, phòng khiêu vũ, thu âm, hội quán sinh hoạt đờn ca tài tử… với các trang thiết bị phục vụ các hoạt động nêu trên. Kinh tế Giai đoạn 2001 - 2005, cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch từ Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp, Nông nghiệp, Thương mại - Dịch vụ sang cơ cấu Công nghiệp – Tiểu tủ công nghiệp, Thương mại – Dịch vụ, Nông nghiệp. Dự kiến giai đoạn 2006 - 2010 sẽ giữ vững cơ cấu này. Dự báo đến năm 2010 tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm chỉ còn dưới 10% trong tổng giá trị sản xuất - kinh doanh - dịch vụ. Huyện đã mời gọi đầu tư cơ sở hạ tầng nhiều khu dân cư và khu Công nghiệp. Nhiều cụm dân cư mới đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng như: cụm dân cư của công ty Việt Tân, công ty Hoàng Hải, công ty Đại Hải, DNTN Anh Toàn, Công ty Thịnh Hưng Phú, Công ty xây dựng và Phát triển Nhà Gò Môn, Công ty Xuất Nhập Khẩu; cụm công nghiệp Xuân Thới Sơn đang xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhiều cụm dân cư và cụm công nghiệp đang được lập dự án đầu tư. 1.1.3. Quy hoạch phát triển Trong những năm tới, huyện sẽ tiếp tục phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế và xã hội. Trong đó, tập trung điều chỉnh quy hoạch tổng mặt bằng và hoàn thiện qui hoạch chi tiết 1/2000. Thực hiện qui hoạch chi tiết 1/500 khi có nhà đầu tư. Đẩy mạnh và hoàn thiện các dự án cụm dân cư tập trung và công nghiệp - dân cư đã xác định quy hoạch. Cải tạo và nâng cấp đường giao thông nông thôn; Từng bước thực hiện kết nối giao thông của huyện với các đường vành đai do Bộ và thành phố đầu tư. Tiếp tục thực hiện quy hoạch mạng lưới tiêu thoát nước: hoàn thiện hệ thống tiêu thoát nước đầu mối, tiêu thoát nước dọc theo các tuyến đường; hoàn chỉnh tiêu thoát nước ở các khu dân cư tập trung, các khu thường bị ngập úng. Phát triển mạng lưới cung cấp nước công nghiệp theo nguồn nhà máy nước sông Sài Gòn; tiếp tục thực hiện chương trình nước sạch nông thôn. 1.2. Tổng quan về nước thải sinh hoạt 1.2.1. Ô nhiễm nước Ô nhiễm nước: là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. 1.2.2. Khái niệm nước thải sinh hoạt Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt của cộng đồng: tắm, giặt giũ, tẩy rửa, vệ sinh cá nhân,.... Thông thường nước thải sinh hoạt của hộ gia đình được chia làm 2 loại chính: nước đen và nước xám. Nước đen là nước thải từ nhà vệ sinh, chứa phần lớn các chất ô nhiễm, chủ yếu là: chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh và cặn lơ lửng. Nước xám là nước phát sinh từ các quá trình rửa, tắm, giặt với thành phần các chất ô nhiễm không đáng kể. 1.2.3. Nguồn thải Nước thải sinh hoạt thường được thải ra từ các căn hộ, cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ, và các công trình công cộng khác. Lượng nước thải sinh hoạt của một khu dân cư phụ thuộc vào dân số, vào tiêu chuẩn cấp nước và đặc điểm của hệ thống thoát nước. Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt cho một khu dân cư phụ thuộc vào khả năng cung cấp nước của nhà máy nước hay trạm cấp nước hiện có. Các trung tâm đô thị có tiêu chuẩn cấp nước cao hơn so với các vùng ngoại thành và nông thôn. Nước thải sinh hoạt ở các trung tâm đô thị thường được thoát bằng hệ thống thoát nước dẫn ra sông rạch, còn ở các vùng ngoại thành và nông thôn do không có hệ thồng thoát nước nên nước thải thường được tiêu thoát tự nhiên vào các ao hồ hoặc thoát bằng biện pháp tự thấm. 1.2.4. Thành phần và tính chất nước thải sinh hoạt - Nước thải sinh hoạt có màu nâu đen hoặc nâu, có mùi vị lạ đặc trưng của nước thải sinh hoạt do chứa nhiều tạp chất. - Đục do các chất hoà tan vào nước rồi sau đó kết tủa thành hạt rắn, do đất hoà vào nước ở dạng phân tán. Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ đễ bị phân huỷ sinh hoc, ngoài ra còn có cả các thành phần vô cơ. Chất hữu cơ chứa trong nước thải sinh hoạt bao gồm các hợp chất như protein (40 ÷ 50%); hydratcarbon (40 ÷ 50%), gồm hồ tinh bột, đường và xenlulô; và các chất béo (5 ÷ 10%). Nồng độ chất hưu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150 ÷ 450 mg/L theo trọng lương khô. Có khoảng 20 ÷ 40% chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học. Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt, đặc biệt là trong phân đó là các loại mầm bệnh lây truyền bởi các loại vi sinh vật có trong phân. Vi sinh vật gây bệnh từ nước thải có khả năng lây lan qua nhiều nguồn khác nhau, qua tiếp xúc trực tiếp, qua môi trường (đất, nước, không khí, vật nuôi, cây trồng....), thâm nhập vào cơ thể con người qua thức ăn, nước uống, hô hấp....và sau đó có thể gây bệnh. Vi sinh vật gây bệnh cho con người bao gồm các nhóm chính là virut, vi khuẩn, nguyên sinh bào và giun sán. gỞ các khu dân cư đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém, nước thải sinh hoạt không được xử lý thích đáng là một trong những nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng. Bảng 1.1: Đặc điểm của nước thải sinh hoạt Thông số Nồng độ BOD 450-540 mg/l COD 720-1.020 mg/l SS 700-1.450 mg/l N tổng số 60-120 mg/l Amoni 24-48 mg/l Tổng coliform 106-109/100 ml Feacal coliform 105-106/100 ml Trứng giun,sán 103/100 ml Bảng1.2: Thành phần Các chất Mức độ ô nhiễm Nặng Trung bình Thấp Tổng chất rắn 1000 500 200 Tổng nitơ 85 50 25 Chất rắn không tan 300 150 8 Tổng chất rắn lơ lửng 600 350 120 BOD5 300 200 100 Tổng phospho (mg/l) - 8 0 Chất béo 40 20 50 CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI 2.1. Phương pháp xử lý cơ học Phương pháp xử lý cơ học sử dụng nhằm mục đích tách các chất không hoà tan và một phần các chất ở dạng keo ra khỏi nước thải. Những công trình xừ lý cơ học bào gồm: 2.1.1. Song chắn rác Song chán rác, chắn giữ các cặn bẩn có kích thước lớn hay ở dạng sợi: giấy, rau cỏ, rác, túi nilong, vỏ cây và các tạp chất lớn có trong nước thải nhằm đảm bảo cho máy bơm, các công trình và thiết bị xử lý nước thải hoạt động ổn định. Hình 2.1: Song chắn rác Song chắn rác là các thanh đan sắp xếp kế tiếp nhau với khe hở từ 16 đến 50 mm, các thanh có thể bằng thép, nhựa hoặc gỗ. Tiết diện các thanh này là hình chữ nhật, hình tròn hoặc elip. Số lượng song chắn rác trong trạm xử lý nước thải tối thiểu là 2. Các song chắn đặt song song với nhau, nghiêng về phía dòng nước chảy để giữ rác lại. Song chắn rác thường đặt nghiêng theo dòng chảy một góc 50 đến 900. Song chắn rác phải dễ tháo dỡ, dễ lấy rác và tổn thất áp lực qua nó phải nhỏ. Người ta phân loại song chắn rác theo cách vớt như sau: Song chắn rác vớt thủ công, dùng cho trạm xử lý có công suất nhỏ lượng rác hàng ngày dưới 0,1 m3/ngày. Song chắn rác vớt rác cơ giới bằng các băng cào dùng cho trạm xử lý nước thải lớn hơn 0,1 m3/ngày. Rác được vớt 2 đến 3 lần trong ngày và được nghiền để đưa về bể ủ bùn hoặc xả trực tiếp phía trước thiết bị. Trường hợp lượng rác nhỏ (dưới 0,1 m3/ngày) rác có thể tập trung vào thùng chứa thuê các công ty môi trường đô thị vận chuyển về bãi chôn lấp. Thiết bị chắn rác bố trí tại máng dẫn nước thải trước trạm bơm nước thải và trước các công trình xử lý nước thải. 2.1.2. Bể lắng cát Hình 2.2: Bể lắng cát Trong thành phần cặn lắng nước thải thường có cát với độ lớn thủy lực u>=18 mm/s. Đây là các phần tử vô cơ có kích thước và tỷ trọng lớn. Mặc dù không độc hại, nhưng chúng cản trở hoạt động của các công trình xử lý nước thải như tích tụ trong bể lắng, bể mêtan…làm giảm dung tích công tác của công trình, gây khó khăn cho việc xả bùn cặn, phá hủy quá trình công nghệ của trạm xử lý nước thải,… để đảm bảo cho các công trình xử lý sinh họcnước thải hoạt động ổn định cần phải có công trình và thiết bị lắng cát phía trước. Dưới tác động của lực trọng trường, các phần tử rắn (cát, sỉ) có tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng của nươc sẽ được lắng xuống đáy bể trong quá trình chuyển động. Bể lắng cát phải được tính toán với vận tốc dòng chảy trong đó đủ lớn đẻ các phần tử hữu cơ nhỏ không lắng được và đủ nhỏ để cát và tạp chất rắn vô cơ giữ lại được trong bể. Bể thường được cấu tạo để giữ lại các hạt cát có đường kính bằng 0,2 mm và lớn hơn. Vì vậy vận tốc dòng chảy trong bể không lớn hơn 0,3 m/s và không nhỏ hơn 0,15 m/s. 2.1.3. Bể lắng đứng Trong nước thải, khoảng 20% chất bẩn ở dạng không hòa tan, phần là cát, xỉ được giữ ở bể lắng cát (khoảng 20% lượng chất không hòa tan này). Lượng chất bẩn không hòa tan chủ yếu là chất hữu cơ sẽ được giữ lại trong bể lắng đợt 1. Các chất bẩn hữu cơ không hòa tan hình thành trong quá trình xử lý sinh học (bùn thứ cấp) sẽ lắng tại bể lắng đợt 2. Bể lắng (đợt 1), để tách các chất lơ lửng có trọng lượng riêng lớn hơn trọng lượng riêng của nước. Chất lơ lửng nặng hơn sễ từ từ lắng xuống đáy, còn chất lơ lửng nhệ hơn sễ nổi lên mặt nước. Dùng những thiết bị thu gom và vận chuyển các chất bẩn lắng và nổi lên công trình xử lý cặn. Bể lắng đứng thường có dạng hình tròn trên mặt bằng (trong một số trường hợp có thể dùng bể dạng hình vuông), đường kính từ . Nước thải chuyển động trong vùng lắng theo hướng thẳng đúng từ dưới lên. Trong bể lắng đứng nước thải được dẫn vào ống trung tâm và từ đấy được dẫn động từ dưới lên theo phương thẳng đứng. Chiều cao công tác Hct của vùng lắng từ 2,7 đến 3,8 m. Vận tốc dòng chảy trong vùng công tác không lớn hơn 0,7 mm/s. Thời gian lắng thường từ 1,0 đến 2,0h. Nước trong được tập trung vào máng thu phía trên, cặn lắng được chứa vào phần bình nón hoặc chóp cụt phía dưới và được xả ra ngoài bằng bơm áp lực tĩnh qua ống số 2 với độ chênh giữa mực nước trong bể và cao độ trục ống trên 1,5m. Do dòng chảy thay đổi đột ngột từ ống phân phối trung tâm sang vùng công tác nên trong bể thường tạo nhiều vùng xoáy. Để hạn chế hiện tượng này tại ống trung tâm số 1 có bố trí tấm phản xạ để điều chỉnh vận tốc khi ra khỏi phễu phân phối phía dưới ống trung tâm không lớn hơn 0,02 m/s. 2.1.4. Bể lắng ngang Bể lắng ngang có hình dạng chữ nhật trên mặt bằng, tỷ lệ giữa chiều rộng và chiều dài không nhỏ hơn ¼ và chiều sâu đến 4m .Bể lắng ngang dùng cho các trạm xử lý có công suất lớn hơn 15.000 m3/ ngàyđêm. Trong bể lắng nước thải chuyển động theo phương ngang từ đầu bể đến cuối bể và được dẫn tới các công trình xử lý tiếp theo , vận tốc dòng chảy trong vùng công tác của bể không được vượt quá 40 mm/s . Bể lắng ngang có hố thu cặn ở đầu bể và nước trong được thu vào ở máng cuối bể . 2.1.5. Bể lắng ly tâm Bể lắng ly tâm có dang hình tròn trên mặt bằng, đường kính bể từ 16 đến 40 m (có trưòng hợp tới 60m) ,chiều cao làm việc bằng 1/6 – 1/10 đường kính bể .Bể lắng ly tâm được dùng cho các trạm xử lý có công suất lớn hơn 20.000 m3/ngđ . Trong bể lắng nước chảy từ trung tâm ra quanh thành bể .Cặn lắng được dồn vào hố thu cặn được xây dựng ở trung tâm đáy bể bằng hệ thống cào gom cặn ở phần dưới dàn quay hợp với trục 1 góc 450 .Đáy bể thường được thiết kế với độ dốc i = 0,02 – 0,05 .Dàn quay với tốc độ 2-3 vòng trong 1 giờ . Nước trong được thu vào máng đặt dọc theo thành bể phía trên . 2.1.6. Bể vớt dầu mỡ Bể vớt dầu mỡ thường được áp dụng khi xử lý nước thải có chứa dầu mỡ (nước thải công ngiệp) ,nhằm tách các tạp chất nhẹ .Đối với nước thải sinh hoạt khi hàm lượng dầu mỡ không cao thì việc vớt dầu mỡ thực hiện ngay ở bể lắng nhờ thiết bị gạt chất nổi . 2.1.7. Bể lọc Bể lọc nhằm tách các chất ở trạng thái lơ lửng kích thước nhỏ bằng cách cho nước thải đi qua lớp lọc đặc biệt hoặc qua lớp vật liệu lọc. Bể này được sử dụng chủ yếu cho một số loại nước thải công nghiệp . Quá trình phân riêng được thực hiện nhờ vách ngăn xốp, nó cho nước đi qua và giữ pha phân tán lại .Quá trình diễn ra dưới tác dụng của áp suất cột nước . 2.1.8. Bể điều hòa Lưu lượng và chất lượng nước thải từ hệ thống cống thu gom chảy về nhà máy xử lý thường xuyên dao động theo các giờ trong ngày. Khi hệ số không điều hòa K ≥ 14, xây dựng bể điều hòa để các công trình xử lý làm việc với lưu lượng đều trong ngày sẽ kinh tế hơn. Có 2 bể điều hòa: Hình 2.3: Bể điều hòa Bể điều hòa lưu lượng và chất lượng nằm trực tiếp trên đường chuyển động của dòng chảy. Bể điều hòa lưu lượng là chủ yếu, có thể nằm trực tiếp trên đường vận chuyển của dòng chảy hoặc nằm ngoài đường đi của dòng chảy. Tùy theo điều kiện đất đai, và chất lượng nước thải, khi mạng cống thu gom là mạng cống chung thường áp dụng bể điều hòa lưu lượng để tích trữ được lượng nước sau cơn mưa. ở các mạng thu gom là hệ thống cống riêng và ở những nơi có chất lượng nước thải thay đổi thường áp dụng bể điều hòa cả lưu lượng và chất lượng. Bể điều hòa luu lượng và chất lượng: đặt sau bể lắng cát, trước bể lắng đợt 1. Trong bể điều hòa phải có thiết bị khuấy trộn để đảm bảo hòa tan và san đều nồng độ các chất bẩn trong toàn thể tích bể. Trong bể cũng phải đặt các thiết bị thu gom và xả bọt, váng nổi. Để đưa nước từ bể điều hòa sang bể lắng đợt 1, có thể dùng bơm để bơm đều hoặc tạo độ chênh để nước tự chảy, khi áp dụng sơ đồ tự chảy phải đặt van điều chỉnh lưu lượng ở đầu ống dẫn sao chokhi mực nước trong bể điều hòa thay đổi mà lưu lượng chảy sang bể lắng 1 vẫn không đổi. Bể điều hòa lưu lượng chỉ làm nhiệm vụ điều hòa lưu lượng là chủ yếu, có thể đặt sau song chắn rác trước trạm bơm, bơm đều nước thải lên bể lắng đợt 1. Loại bể này không đòi hỏi có thiết bị khuấy trộn nhưng cần thiết bị vớt vật nổi và bọt, chia bể làm nhiều ngăn, định kỳ có thể tháo khô từng ngăn để xúc cát và cặn lắng ra ngoài. 2.1.9. Làm thoáng sơ bộ và đông tụ sinh học BOD của nước thải giảm 10-20%. Để hầm lượng cặn sau lắng đợt 1 giảm Bể lắng đợt 1 chỉ giữ lại 40-60% các chất không hòa tan trong nước thải; xuống 150 mg/l và thu hồi các kim loại nặng, các chất bẩn khác có ảnh hưởng không tốt đến quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học tiếp theo, người ta thường tiến hành các biện pháp sau đây: Thổi khí sơ bộ kết hợp với cung cấp bùn hoạt tính vào trong công trình làm thoáng. Đông tụ sinh học cặn bằng cách cho bùn màng sinh vật hoặc bùn hoạt tính dư có kết hợp thổi khí trong ngăn đông tụ sinh học của bể lắng. Làm thoáng tự nhiên nước thải kết hợp với lọc nước thải qua tầng cặn lơ lửng. Nguyên tắc của quá trình này là khi thổi khí các hạt bé sẽ kết bông, đông tụ và tạo nên hạt lớn, dễ lắng. khi cho thêm bùn hoạt tính và thổi khí, ngoài các quá trình đông tụ, keo tụ, hấp phụ…còn diễn ra các quá trình oxy hóa các chất hữu cơ hòa tan dễ bị oxy hóa sinh hóa, làm tăng hiệu quả lắng và giảm BOD rõ rệt. Quá trình làm thoáng có thể được tiến hành ngay trên máng dẫn nước thải vào bể lắng, trên các công trình làm thoáng sơ bộ hoặc trong công trình đông tụ sinh học Làm thoáng sơ bộ: Quá trình làm thoáng sơ bộ thực hiện trên máng dẫn nước thải, trong các bể độc lập hoặc trong các ngăn làm thoáng hợp khối trong bể lắng ngang. Quá trình làm thoáng sơ bộ thực hiện trước khi lắng đợt 1. Số ngăn bể làm thoáng sơ bộ lớn hơn hoặc bằng hai, và tất cả chúng đều là ngăn công tác. Có 2 cách làm thoáng sơ bộ: làm thoáng không có bùn hoạt tính (làm thoáng đơn giản) và làm thoáng có cung cấp thêm bùn hoạt tính. Quá trình làm thoáng đơn giản không cho thêm bùn hoạt tính từ bể lắng đợt hai. Thời gian làm thoáng 10-20 phút. Lưu lượng khí nén cấp cho quá trình này là 0,5 m3/m3 nước thải. làm thoáng đơn giản sẽ làm tăng hiệu quả lắng trong bể lắng đợt một lên 5-8%. BOD sau quá trình lắng có làm thoáng sơ bộ sẽ giảm được 5-8% Làm thoáng sơ bộ là ngoài việc cấp khí nén với lưu lượng 0,5m3/m3 nước thải như đã nêu còn cho thêm bùn từ bể lắng đợt hai. Bùn đưa về đây thông thường là bùn hoạt tính dư với liều lượng dưới 50% tổng lượng hình thành hoặc là bùn màng sinh vật với liều lượng từ 50% đến toàn bộ lượng bùn trong bể lắng đợt hai. Trong ngăn làm thoáng sơ bộ cũng sẽ có quá trình đông tụ sinh học diễn ra. Thời gian thổi