Hoàn thiện hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân

Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, với chính sách mở cửa và hội nhập các ngành kinh tế trong nước ngày càng có nhiều cơ hội cũng như những thách thức để trưởng thành hơn. Dịch vụ du lịch là một trong những ngành kinh tế có nhiều cơ hội nhất với lượng khách nước ngoài vào Việt Nam ngày càng đông và nhu cầu tham quan, du lịch của người dân Việt ngày càng tăng tỷ lệ thuận với mức sống của họ. Nắm bắt được thời cơ, cũng như thấy trước được tương lai mở rộng của ngành du lịch, Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân đã đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ vận chuyển phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước. Từ khi đi vào hoạt động đến nay, Công ty luôn nỗ lực tự hoàn thiện mình, mở rộng thị trường với chất lượng xe, chất lượng phục vụ ngày càng cao. Điều đó còn được thể hiện rõ nét ở kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây với lượng doanh thu ngày càng tăng và chi phí sử dụng ngày càng hiệu quả. Để tìm hiểu về tình hình hoạt động của Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân”, nhằm đưa ra một cách chi tiết về tình hình hạch toán chi phí đầu vào cũng như kết quả đầu ra của doanh nghiệp. Bên cạnh đó em đã đưa ra những nhận xét và những giải pháp cụ thể với hy vọng công tác kế toán cũng như công tác quản lý tại Công ty ngày càng hoàn thiện hơn. Luận văn tốt nghiệp của em gồm ba phần: Phần I: Tổng quan về Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân; Phần II: Thực trạng hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân; Phần III: Hoàn thiện hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân.

doc121 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 16/01/2013 | Lượt xem: 2117 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hoàn thiện hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, với chính sách mở cửa và hội nhập các ngành kinh tế trong nước ngày càng có nhiều cơ hội cũng như những thách thức để trưởng thành hơn. Dịch vụ du lịch là một trong những ngành kinh tế có nhiều cơ hội nhất với lượng khách nước ngoài vào Việt Nam ngày càng đông và nhu cầu tham quan, du lịch của người dân Việt ngày càng tăng tỷ lệ thuận với mức sống của họ. Nắm bắt được thời cơ, cũng như thấy trước được tương lai mở rộng của ngành du lịch, Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân đã đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ vận chuyển phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước. Từ khi đi vào hoạt động đến nay, Công ty luôn nỗ lực tự hoàn thiện mình, mở rộng thị trường với chất lượng xe, chất lượng phục vụ ngày càng cao. Điều đó còn được thể hiện rõ nét ở kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây với lượng doanh thu ngày càng tăng và chi phí sử dụng ngày càng hiệu quả. Để tìm hiểu về tình hình hoạt động của Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân”, nhằm đưa ra một cách chi tiết về tình hình hạch toán chi phí đầu vào cũng như kết quả đầu ra của doanh nghiệp. Bên cạnh đó em đã đưa ra những nhận xét và những giải pháp cụ thể với hy vọng công tác kế toán cũng như công tác quản lý tại Công ty ngày càng hoàn thiện hơn. Luận văn tốt nghiệp của em gồm ba phần: Phần I: Tổng quan về Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân; Phần II: Thực trạng hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân; Phần III: Hoàn thiện hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân. Mặc dù đã có nhiều cố gắng của bản thân nhưng những thiếu sót là không thể tránh khỏi, vì vậy em kính mong nhận được sự cảm thông cũng như góp ý của các cô chú, anh chị tại Công ty và Cô giáo hướng dẫn để những bài viết sau em sẽ hoàn thành tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong Công ty liên doanh vận chuyển quốc tế Hải Vân và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Cô giáo ThS Nguyễn Thị Thu Liên đã giúp em hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này. PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ: 1.1.1. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ có ảnh hưởng đến kế toán: Trong bối cảnh nền kinh tế đa phương hoá, toàn cầu hoá, hợp nhất kinh tế quốc tế, ngành du lịch dịch vụ đã và đang phát triển mạnh mẽ với nhiều loại hình kinh doanh phục vụ du khách trong và ngoài nước thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Dịch vụ du lịch là một trong những ngành kinh doanh chuyên cung cấp những lao vụ, dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt và thoả mãn nhu cầu đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Hoạt động kinh doanh dịch vụ có những đặc điểm ảnh hưởng đến công tác kế toán như sau: - Hoạt động kinh doanh dịch vụ là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan tới nhiều mặt khác nhau của đời sống xã hội (hoạt động xã hội, kinh tế, văn hoá, chính trị, giao lưu quốc tế…). Điều này xuất phát từ các nhu cầu phong phú, đa dạng của khách du lịch; đồng thời cũng xuất phát từ tính an toàn và hiệu quả trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Do vậy, kinh doanh dịch vụ thường bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau như kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú, kinh doanh vận chuyển, kinh doanh hàng hoá… - Mỗi loại sản phẩm của hoạt động kinh doanh dịch vụ tạo ra có tính khác nhau, nhưng nhìn chung những sản phẩm này đều có đặc điểm là không có hình thái vật chất, không có quá trình nhập xuất kho, chất lượng sản phẩm cũng nhiều khi không ổn định. Do đó, kế toán trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có nhiều điểm khác biệt so với kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất thông thường. - Trong kinh doanh dịch vụ quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ được tiến hành đồng thời, ngay cùng một địa điểm vì các dịch vụ được thực hiện trực tiếp với khách hàng. - Kinh doanh dịch vụ là ngành kinh tế có hiệu quả cao, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, song đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu phải nhiều. - Hoạt động kinh doanh dịch vụ mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, điều kiện di sản lịch sử văn hoá, phong cảnh chùa chiền độc đáo, hấp dẫn. Đây cũng là một lợi thế cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nếu biết tận dụng và phát huy những điều kiện sẵn có của nước mình để đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp. - Đối tượng phục vụ của ngành du lịch dịch vụ cũng không ổn định và luôn biến động và rất phức tạp. Số lượng khách du lịch cũng như số ngày lưu lại của khách luôn luôn biến động. Trong cùng một đợt nghỉ, nhu cầu của từng nhóm khách về ăn, ở, tham quan cũng rất khác nhau. Tổ chức hoạt động du lịch cũng khá phân tán và không ổn định. Do đó đòi hỏi công tác kế toán tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ không những phải rất chặt chẽ mà còn phải linh động, phù hợp với đặc thù của từng đơn vị. 1.1.2. Vai trò của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ: Cùng với xu hướng đa phương hoá và quốc tế hoá nền kinh tế, nhu cầu thông tin ngày càng đòi hỏi một cách cấp thiết. Kế toán với tư cách là một công cụ cung cấp thông tin hữu hiệu cho các nhà quản lý lại càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết. Dịch vụ du lịch ở Việt Nam hiện nay đang là ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân. Du lịch nước nhà đang có những bước phát triển vượt bậc và vươn xa trên thị trường rộng lớn trên thế giới. Để bền vững và phát triển, việc quản lý vốn, sử dụng tài sản ngày càng được chú trọng. Để làm tốt việc đó, kế toán đặc biệt là kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả đã góp phần không nhỏ vào việc theo dõi kết quả đầu ra, sử dụng hiệu quả chi phí đầu vào cũng như việc quản lý và điều hành quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp dịch vụ. Thật vậy, việc ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh là một vấn đề quan trọng, mang tính chất cấp thiết và không thể thiếu đối với một doanh nghiệp. Qua quá trình cung cấp dịch vụ, sản phẩm dịch vụ chuyển sang hình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Qua việc hạch toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh, doanh nghiệp có thể theo dõi một cách chính xác, đầy đủ về toàn bộ quá trình hoạt động và kịp thời đưa ra những quyết định kinh tế để tăng doanh số đầu ra, giảm chi phí đầu vào, tạo ra lợi nhuận, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế, kết quả của quá trình cung cấp dịch vụ rạo ra nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, để thực hiện được các chính sách kinh tế - chính trị - văn hoá. Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, khi quá trình hội nhập đang phát triển mạnh mẽ thì chất lượng của việc cung cấp các dịch vụ sẽ tạo ra uy tín trên trường quốc tế. Chính vì những ý nghĩa quan trọng đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện công tác kế toán, đặc biệt là kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ: 1.2.1. Kế toán doanh thu trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ: Doanh thu là một trong những yếu tố quan trọng để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Khi được phản ánh theo lĩnh vực và khu vực kinh doanh, doanh thu giúp cho người nhận thông tin có thể hiểu được hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo từng loại hoạt động và từng khu vực, đánh giá rủi ro, mức sinh lời của doanh doanh nghiệp và đưa ra được những nhận định đầy đủ hơn, từ đó có thể đưa ra những quyết định kinh tế đúng đắn. Đối với doanh nghiệp, phân tích doanh thu thực hiện so với doanh thu kế hoạch giúp doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh kế hoạch tiêu thụ và tổ chức công tác bán hàng cũng như các công tác có liên quan. 1.2.1.1. Đặc điểm và phân loại doanh thu: Khái niệm doanh thu: + Theo chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” (Ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính), doanh thu được định nghĩa: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu. + Theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/03/2006 thì doanh thu được định nghĩa: Là tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Các khoản thu hộ bên thứ ba, không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu. Như vậy, Quyết định 15/2003 đã làm rõ hơn về khái niệm doanh thu so với Quyết định số 149/2001. + Doanh thu về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thoả mãn tất cả 4 điều kiện sau: Doanh thu được xác định là tương đối chắc chắn; Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ; Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán; Xác định được các chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó. Đặc điểm doanh thu dịch vụ: Du lịch, dịch vụ là ngành kinh tế tổng hợp phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí kết hợp với các hoạt động nghiên cứu tìm kiếm cơ hội đầu tư… của khách du lịch. Là ngành kinh doanh đặc biệt, hoạt động vừa mang tính sản xuất vừa mang tính phục vụ văn hoá – xã hội nên kinh doanh dịch vụ gồm nhiều hoạt động khác nhau như: hoạt động hướng dẫn du lịch, vận tải du lịch, kinh doanh vật tư, đồ lưu niệm và các hoạt động khác. Do đó, để phản ánh doanh thu dịch vụ, kế toán phải mở sổ chi tiết doanh thu dịch vụ đối với từng hoạt động dịch vụ này. Phân loại doanh thu: + Theo nội dung, doanh thu bao gồm: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là doanh thu thực hiện công việc đã thoả thuận theo hợp đồng trong một hay nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch. Doanh thu bán hàng nội bộ: Là doanh thu của số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp, là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng hoá, sản phẩm cung cấp dịch vụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc trong cùng một công ty tổng công ty tính theo giá bán nội bộ. Doanh thu hoạt động tài chính: Là doanh thu tiền lãi cho vay, lãi tiền gửi ngân hàng, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu; tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia; chênh lệch tỷ giá do bán ngoại tệ; thu nhập về hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có các khoản giảm trừ doanh thu, bao gồm: Chiết khấu thương mại: Là khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng hoá, dịch vụ với khối lượng lớn và theo thoả thuận bên bán sẽ dành cho bên mua một khoản chiết khấu thương mại (đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hàng hoá, dịch vụ). Giảm giá hàng bán: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng do các nguyên nhân thuộc về người bán như hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian, địa điểm trong hợp đồng… Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ (đã chuyển giao quyền sở hữu, đã thu tiền hay được người mua chấp nhận) nhưng bị người mua trả lại và từ chối thanh toán. + Căn cứ vào nguồn hình thành, doanh thu của một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bao gồm: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh: Là toàn bộ tiền bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp được hưởng hoặc sẽ được hưởng sau khi trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu. Doanh thu từ hoạt động tài chính: Là những khoản thu do hoạt động đầu tư tài chính hoặc kinh doanh về vốn đem lại. Doanh thu từ hoạt động bất thường: Là các khoản thu từ hoạt động xảy ra không thường xuyên ngoài các khoản thu trên như thu nhập từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; thu được phạt, thu hồi nợ khó đòi, thu nợ vô chủ; thu nhập quà biếu, quà tặng; các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bỏ sót; các khoản tiền thưởng của khách hàng liên quan đến tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm dịch vụ không tính trong doanh thu. + Theo loại tiền, doanh thu bao gồm doanh thu ngoại tệ và doanh thu nội tệ. + Theo đối tượng tiêu dùng thì doanh thu bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bên ngoài và doanh thu tiêu thụ nội bộ. + Ngoài ra, tuỳ theo từng doanh nghiệp cụ thể mà doanh thu có thể được phân chia theo loại hình dịch vụ, theo nơi tiêu thụ… Dựa trên việc phân loại trên, doanh nghiệp và những người sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp có thể nắm bắt được tình hình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, hiệu quả mang lại từ các khoản đầu tư và các hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp. 1.2.1.2. Tài khoản sử dụng: Ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính thì các tài khoản thuộc loại doanh thu bao gồm: - Nhóm TK 51 – Doanh thu, có 3 tài khoản: + Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; + Tài khoản 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ; + Tài khoản 515 – Doanh thu hoạt động tài chính. - Nhóm TK 52, có 1 tài khoản: + Tài khoản 521 - Chiết khấu thương mại. - Nhóm TK 53, có 2 tài khoản: + Tài khoản 531 – Hàng bán bị trả lại; + Tài khoản 532 – Giảm giá hàng bán. TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”: Tài khoản này phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp và các khoản giảm trừ doanh thu trong một kỳ kế toán của hoạt động SXKD từ các giao dịch và nghiệp vụ cung cấp dịch vụ. Tổng số doanh thu bán hàng ghi nhận ở đây có thể là tổng giá thành toán (với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp cũng như đối với các đối tượng không chịu thuế GTGT) hoặc giá bán không có thuế GTGT (với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ). - Kết cấu TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”: Bên Nợ: + Số thuế phải nộp (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp) tính trên doanh thu bán hàng thực tế của sản phẩm, hàng hoá dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng và được xác định là đã bán trong kỳ kế toán. + Các khoản giảm trừ doanh thu, chiết khấu thương mại… + Doanh thu thuần kết chuyển vào TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh” Bên Có: + Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, bất động sản đầu tư và cung cấp dịch vụ thực tế phát sinh trong kỳ hoặc giá bán trả ngay chưa có thuế GTGT (theo phương pháp khấu trừ), giá thanh toán cả thuế GTGT (theo phương pháp trực tiếp) với hình thức trả chậm, trả góp. Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ. - Tài khoản 511 gồm các tài khoản chi tiết: + TK 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của khối lượng hàng hoá được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp. + TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán. + TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”: Phản ánh các khoản thu từ trợ cấp, trợ giá của Nhà nước cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước + TK 5117 “Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư”: Phản ánh doanh thu cho thuê bất động sản đầu tư, doanh thu bán, thanh lý bất động sản đầu tư. TK 512 “Doanh thu bán hàng nội bộ”: Tài khoản này phản ánh doanh thu và các khoản ghi giảm doanh thu về số hàng hoá dịch vụ tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị chi nhánh trực thuộc cùng một công ty. Ngoài ra, tài khoản này còn sử dụng để theo dõi các khoản được coi là tiêu thụ nội bộ khác như sử dụng hàng hoá, dịch vụ vào trả lương, thưởng cho người lao động. - Kết cấu của TK 512 tương tự như TK 511. - Tài khoản 512 bao gồm các tài khoản chi tiết: + TK 5121: Doanh thu bán hàng hoá; + TK 5122: Doanh thu bán thành phẩm; + TK 5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ; TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính”: Tài khoản này phản ánh toàn bộ các khoản doanh thu và các khoản ghi giảm doanh thu thuộc hoạt động tài chính được coi là thực hiện trong kỳ, không phân biệt các khoản doanh thu đó thực tế đã thu hay sẽ thu trong kỳ sau. - Kết cấu TK 515: Bên Nợ: + Các khoản ghi giảm doanh thu hoạt động tài chính (giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại, doanh thu hàng bán bị trả lại); + Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính sang TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh”. Bên Có: Doanh thu hoạt động tài chính thực tế phát sinh trong kỳ. Tài khoản 515 không có số dư cuối kỳ và được mở chi tiết theo từng hoạt động tài chính tuỳ theo yêu cầu của công tác quản lý. Tài khoản 521 “Chiết khấu thương mại”: Tài khoản này dùng để theo dõi khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc cam kết mua bán hàng. Kết cấu TK 521: Bên Nợ: Tập hợp các khoản chiết khấu thương mại (bớt giá, hồi khấu) đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng. Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang TK 511. - Tài khoản 521 không có số dư cuối kỳ và chi tiết thành 3 tài khoản: + Tài khoản 5211 “Chiết khấu hàng hoá”; + Tài khoản 5212 “Chiết khấu thành phẩm”; + Tài khoản 5213 “Chiết khấu dịch vụ”. Tài khoản 531 “Hàng bán bị trả lại”: Tài khoản này dùng để theo dõi doanh thu của số hàng hoá, sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại. Đây là tài khoản điều chỉnh của tài khoản 511, tài khoản 512 để tính toán doanh thu thuần về tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ. - Kết cấu của TK 531: Bên Nợ: Tập hợp doanh thu của số hàng đã tiêu thụ bị trả lại. Bên Có: Kết chuyển doanh thu của số hàng bán bị trả lại. Tài khoản 531 không có số dư cuối kỳ. Tài khoản 532 “Giảm giá hàng bán”: Tài khoản này dùng để theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán chấp nhận cho khách hàng trên giá bán đã thoả thuận về lượng hàng hoá, sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ do lỗi thuộc về người bán. - Kết cấu TK 532: Bên Nợ: Tập hợp các khoản giảm giá hàng bán chấp thuận cho người mua trong kỳ. Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số giảm giá hàng bán vào bên Nợ của tài khoản 511, tài khoản 512. Tài khoản 532 cuối kỳ không có số dư. 1.2.1.3. Trình tự hạch toán doanh thu: Tuỳ theo phương pháp tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, hàng hoá khác nhau và loại doanh thu khác nhau mà có các phương pháp và trình tự hạch toán doanh thu nhất định. Hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu nội bộ: Sơ đồ 1.1. Hạch toán doanh thu với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Sơ đồ 1.2. Hạch toán doanh thu với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Sơ đồ 1.3. Hạch toán doanh thu bán hàng trả góp, trả chậm Hạch toán doanh thu hoạt động tài chính: Sơ đồ 1.4. Hạch toán doanh thu hoạt động tài chính 1.2.2. Kế toán chi phí trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ: 1.2.2.1. Đặc điểm và phân loại chi phí: - Khái niệm chi phí (theo VAS 01): Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Trong đó: + Hao phí về lao động sống được gọi là những tiê
Luận văn liên quan