Khóa luận Nghiên cứu phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Được sự đồng ý của ban giám hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp, ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng & Môi trường. Tôi đã thực hiện khoá luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh” Nhân dịp hoàn thành khoá luận, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo T.S. Bế Minh Châu, thầy giáo PGS.TS. Vương Văn Quỳnh, Các CBCNV Trung tâm Bảo vệ rừng số I, UBND, Lâm trường & Hạt Kiểm lâm Hoành Bồ, Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và các thầy cô, bạn đồng nghiệp trong khoa QLTNR&MT đã giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành khoá luận này. Mặc dù đã hết sức cố gắng song do khả năng và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy, cô và các bạn đồng nghiệp góp ý, bổ sung để khoá luận được đầy đủ và hoàn thiện hơn.

docx61 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 06/06/2013 | Lượt xem: 2724 | Lượt tải: 13download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Nghiên cứu phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Được sự đồng ý của ban giám hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp, ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng & Môi trường. Tôi đã thực hiện khoá luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh” Nhân dịp hoàn thành khoá luận, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo T.S. Bế Minh Châu, thầy giáo PGS.TS. Vương Văn Quỳnh, Các CBCNV Trung tâm Bảo vệ rừng số I, UBND, Lâm trường & Hạt Kiểm lâm Hoành Bồ, Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và các thầy cô, bạn đồng nghiệp trong khoa QLTNR&MT đã giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành khoá luận này. Mặc dù đã hết sức cố gắng song do khả năng và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy, cô và các bạn đồng nghiệp góp ý, bổ sung để khoá luận được đầy đủ và hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Xuân Mai, ngày 22 tháng 6 năm 2006 Sinh viên thực hiện Đặng Tuấn Anh PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát sinh, tồn tại và sự phát triển của sinh vật nói chung và con người nói riêng. Vậy mà, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong thời gian gần đây diện tích cũng như chất lượng rừng ngày càng bị giảm sút. Một trong những nguyên nhân đó là do cháy rừng. Cháy rừng là hiện tượng phổ biến, xảy ra ở hầu hết các quốc gia có rừng trên thế giới, trong đó có Việt Nam, cho dù vấn đề này đã nhận được sự quan tâm lớn của các chính phủ, các tổ chức, các nhà quản lý, những nhà chuyên môn và những người quan tâm đến lĩnh vực lâm nghiệp. Cháy rừng đã gây nên những hậu quả tiêu cực lớn đến môi trường sống, nguồn tài nguyên thiên nhiên và thậm chí cả tính mạng con người. Theo số liệu công bố của các tổ chức IUCN, UNDP và WWF (1991) trung bình mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 18 triệu ha rừng, trong đó diện tích mất đi do cháy rừng chiếm khoảng 23%. Ở Việt Nam, theo báo cáo hàng năm của cục Kiểm lâm. trung bình mỗi năm mất đi khoảng từ 30.000- 50.000 ha rừng, trong đó khoảng 10% diện tích rừng mất đi là hậu quả của cháy rừng. Theo số liệu thống kê trên cả nước, trung bình mỗi năm xảy ra 1.413 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 3.616 ha rừng tự nhiên và 3.032 ha rừng trồng. Chính vì những thiệt hại to lớn kể trên mà công tác phòng cháy chữa cháy rừng luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc điểm rừng có liên quan mật thiết với vật liệu cháy- một trong 3 yếu tố hình thành nên đám cháy rừng, tính chất và khối lượng vật liệu cháy chủ yếu do loại hình rừng quyết định. Các khu rừng trồng Thông, Trám, Bạch đàn..., là những loài có chứa tinh dầu hoặc nhựa thường rất dễ bắt lửa và khi cháy thì cháy đượm. Ở những khu rừng tre nứa thuần loài hoặc tre nứa chiếm ưu thế, ngoài thành phần vật liệu rơi rụng còn có trường hợp tre nứa bị “Khuy”, lúc này vật liệu dễ cháy là toàn bộ khu rừng. Các khu rừng trồng thuần loài khả năng cháy thường cao hơn rừng hỗn giao, rừng tự nhiên thường khó cháy hơn rừng trồng. Rừng có mật độ trồng thấp khoảng không gian trống nhiều, cây bụi thảm tươi phát triển mạnh dẫn đến các loại rừng này thường dễ cháy hơn rừng có mật độ cây gỗ lớn.Thực tế cho thấy ở mỗi trạng thái rừng khác nhau thì khả năng cháy của chúng cũng khác nhau. Điều này đặt ra vấn đề là cần phải phân loại rừng theo nguy cơ cháy để có những biện pháp quản lý rừng nói chung và công tác quản lý lửa rừng nói riêng hợp lý và hiệu quả. Quảng Ninh là tỉnh có diện tích rừng lớn của cả nước, tồn tại nhiều loại hình rừng có khả năng xảy ra cháy khác nhau. Trong nhiều năm trở lại đây, cháy rừng vẫn xảy ra, mặc dù ở đây đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong vấn đề dự báo cháy rừng, song việc nghiên cứu một cách tổng thể khả năng cháy của các trạng thái rừng cho khu vực chưa được thực hiện một các hệ thống. Để bổ sung thêm cơ sở phục vụ cho công tác quản lý lửa tại khu vực này tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.” PHẦN II: LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU 2.1. Trên thế giới Những nghiên cứu về phòng chống cháy rừng trên thế giới được bắt đầu vào thế kỷ 20. Thời kỳ đầu, chủ yếu tập trung ở các nước có nền kinh tế phát triển như: Mỹ, Nga, Đức, Thuỵ điển, Canada, Pháp, Úc v.v.... Sau đó là ở hầu hết các nước có hoạt động lâm nghiệp. Người ta phân chia 5 lĩnh vực chính của nghiên cứu phòng chống cháy rừng: bản chất của cháy rừng, phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng, các công trình phòng chống cháy rừng, phương pháp chữa cháy rừng và phương tiện chữa cháy rừng. - Nghiên cứu bản chất của cháy rừng Về vấn đề này, mọi kết quả nghiên cứu đều đã khẳng định rằng cháy rừng là hiện tượng ôxy hoá các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao. Hiện tượng này xảy ra khi có mặt đồng thời của 3 yêú tố (gọi là tam giác lửa): nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của 3 yếu tố trên mà cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi. Vì vậy, về bản chất, những biện pháp phòng chống cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng giảm thiểu và ngăn chặn quá trình cháy. Trong một đám cháy có thể xuất hiện một hay một số loại cháy bao gồm: cháy mặt đất, cháy tán hay cháy ngầm. Tuỳ theo loại cháy rừng mà người ta đưa ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau Kết quả của những nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế xã hội của con người. Thời tiết, đặc biệt là lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi và độ ẩm vật liệu cháy dưới rừng, qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và lan tràn đám cháy. Loại rừng ảnh hưởng đến tính chất vật lý, hoá học, khối lượng và phân bố của vật liệu cháy, qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành và tốc độ lan tràn của đám cháy. Hoạt động kinh tế xã hội của con người như: Nương rẫy, săn bắn, du lịch v.v.. ảnh hưởng đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy. Phần lớn các biện pháp phòng chống cháy rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm của của 3 yếu tố trên trong hoàn cảnh cụ thể của địa phương. - Nghiên cứu phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết, mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí với độ ẩm vật liệu và khả năng xuất hiện cháy rừng. Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hàng ngày của lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ở một số nước, khi dự báo nguy cơ cháy rừng ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng người ta còn căn cứ vào một số yếu tố khác, chẳng hạn ở Đức và Mỹ người ta sử dụng thêm độ ẩm của vật liệu cháy, ở Pháp người ta tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm vật liệu cháy, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió, số ngày không mưa và lượng bốc hơi v.v...Cũng có sự khác biệt nhất định khi Sử dụng các yếu tố khí tượng để dự báo nguy cơ cháy rừng, chẳng hạn ở Thuỵ Điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia người ta sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ khôngkhí cao nhất trong ngày, trong khi đó ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ và độ ẩm không khí lúc 13 giờ. Những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng, trong đó có cả những yếu tố kinh tế xã hội, và nguy cơ cháy rừng được tính theo tổng số điểm của các yếu tố. Mặc dù có những nét giống nhau nhưng cho đến nay vẫn không có phương pháp dự báo cháy rừng chung cho cả thế giới, mà ở mỗi quốc gia, thậm chí mỗi địa phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng. Ngoài ra, vẫn còn rất ít phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng có tính đến yếu tố kinh tế xã hội và kiểu rừng. Đây có thể là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của phòng chống cháy rừng ngay cả ở những nước phát triển. - Nghiên cứu về công trình phòng chống cháy rừng Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng. Nhiều tác giả đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng trên băng xanh cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ, đập để làm giảm nguy cơ cháy rừng. Nghiên cứu hệ thống cảnh báo cháy rừng như chòi canh, tuyến tuần tra, điểm đặt biển báo nguy cơ cháy rừng. Nhìn chung thế giới đã nghiên cứu hiệu quả của nhiều kiểu công trình phòng chống cháy rừng - Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng Khi nghiên cứu các biện pháp phòng chống cháy rừng người ta chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa: (1)- Giảm nguồn lửa bằng cách tuyên truyền không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn than sau khi dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại; (2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy; (3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với ôxy không khí (nước, đất, cát, hoá chất dập cháy v.v…). - Nghiên cứu về phương tiện phòng chống cháy rừng Những phương tiện phòng chống cháy rừng đã được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, Thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy. Các phương pháp dự báo đã được mô hình hoá và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của dự báo nguy cơ cháy rừng. Việc ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích được những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khả năng xuất hiện cháy rừng, phát hiện sớm đám cháy trên những vùng rộng lớn. Những Thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng chống cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng phòng chống cháy rừng và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh, báo địa phương và trung ương, vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v… Những phương tiện dập lửa được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công như: Cào, cuốc, dao, câu liêm... đến các loại phương tiện cơ giới như: Cưa xăng, máy kéo, máy gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, máy phun bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa v.v… Mặc dù các phương pháp và phương tiện phòng chống cháy rừng đã được phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng chống cháy rừng hiện đại như: Mỹ, Úc, Nga vv...Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả. Nhiều người cho rằng, ngăn chặn nguồn lửa để không xảy ra cháy vẫn là quan trọng nhất. Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã hội cho phòng chống cháy rừng. Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng chống cháy rừng chủ yếu được tập trung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng chống cháy rừng, những hình phạt đối với người gây cháy rừng.Thực tế hiện nay, những nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của con người tới nguy cơ cháy rừng không nhiều. 2.2. Ở Việt Nam - Nghiên cứu về dự báo nguy cơ cháy rừng Công tác dự báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam được bắt đằu từ năm 1981. Tuy nhiên trong thời gian đầu chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo của Nesterop. Đây là phương pháp đơn giản, cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị P bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ thiếu hụt bão hoà của không khí lúc 13 giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn hơn 3mm. Đến năm 1988, nghiên cứu của Phạm Ngọc Hưng đã cho thấy phương pháp của Nesterop sẽ có độ chính xác cao hơn nếu tính giá trị P kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn hơn 5mm. Ngoài ra, trên cơ sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục H (số ngày liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, TS. Phạm Ngọc Hưng cũng đã đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo số ngày khô hạn liên tục. Ông xây dựng một bảng tra cấp nguy hiểm của cháy rừng căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tính thích hợp của một số phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng ở Miền Bắc Việt Nam, TS. Bế Minh Châu (2001) đã khẳng định phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa. Trong những trường hợp như vậy, mức độ liên hệ của chỉ số P và H với độ ẩm vật liệu dưới rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp. Từ 1989-1991, A.N. Cooper- một chuyên gia về quản lý lửa rừng của FAO đã đề nghị khi tính chỉ tiêu P của GS. V.G. Nesterop cho Việt Nam nên tính đến sự ảnh hưởng của yếu tố gió. Chỉ tiêu P của Nesterop sẽ được nhân với hệ số là 1.0, 1.5, 2.0, và 3.0 nếu có tốc độ gió tương ứng là 0-4, 5-15, 16-25, và lớn hơn 25 km/giờ. Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu này vẫn chỉ đang ở giai đoạn thử nghiệm. Mới đây trong hội thảo "Sinh khí hậu phục vụ quản lý bảo vệ rừng và giảm nhẹ thiên tai" tổ chức tại trường Đại học Lâm Nghiệp, nhóm cán bộ của trường đã giới thiệu phần mềm dự báo lửa rừng. Mục đích của nó là tự động hoá việc cập nhật Thông tin, dự báo và tư vấn về giải pháp phòng chống cháy rừng. Phần mềm đã được đánh giá như một sáng kiến trong dự báo lửa rừng Việt Nam. Tuy nhiên, đây là phần mềm dự báo nguy cơ cháy rừng ở những trạm đơn lẻ, chưa liên kết với kỹ thuật GIS và viễn thám, do đó chưa tự động hoá được việc dự báo nguy cơ cháy rừng cho vùng lớn. Nhìn chung đến nay nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam còn rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của kiểu rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến cháy rừng ở địa phương. Ngoài ra, hiện vẫn chưa áp dụng được một cách hiệu quả kỹ thuật của tin học, viễn thám và các phương tiện truyền Thông hiện đại vào dự báo, phát hiện sớm và Thông tin về cháy rừng. Gần đây, PGS. TS. Vương văn Quỳnh đã nghiên cứu đề tài cấp nhà nước: “ Nghiên cứu các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả của cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên”. Tuy nhiên, đề tài chưa tính đến yếu tố xã hội ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng. Đề tài mới chỉ nghiên cứu cho vùng U Minh và Tây Nguyên. Ở Quảng Ninh, chưa có tác giả nào thực hiện nghiên cứu một cách hệ thống nguy cơ cháy rừng, các nghiên cứu mới chỉ mang tính chất đơn lẻ chủ yếu dựa vào các yếu tố tự nhiên khí hậu mà chưa quan tâm đến yếu tố kinh tế xã hội. Diện tích rừng của tỉnh Quảng Ninh rất lớn, tồn tại nhiều loại rừng có nguy cơ cháy cao, đặc biệt là hai huyện Hoành Bồ và Tiên Yên. Mặt khác, hai huyện này có thành phần các dân tộc miền núi đa dạng, đồng bào còn gặp nhiều khó khăn, điều kiện tiếp cận với những nhận thức mới cũng như kỹ thuật mới còn hạn chế, hiện tượng đốt nương làm rẫy một cách bữa bãi vẫn tồn tại. Nguy cơ cháy của rừng luôn tiềm ẩn.Chính vì vậy, đòi hỏi phải tiến hành phân loại rừng theo nguy cơ cháy để công tác quản lý rừng nói chung và quản lý lửa rừng nói riêng được thuận lợi và đạt được hiệu quả cao. PHẦN III: MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu: - Đánh giá được khả năng cháy của các trạng thái rừng chủ yếu tại huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. - Đề xuất các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng cho khu vực nghiên cứu. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Cháy rừng là hiện tượng thường xảy ra rất phức tạp, chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm cả nhân tố chủ quan và yếu tố khách quan. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nghiên cứu một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nguy cơ cháy của các trạng thái rừng như: Cấu trúc của các trạng thái rừng (chiều cao dưới cành, độ tàn che, chiều cao cây bụi), khối lượng vật liệu cháy, khoảng cách từ các trạng thái rừng đến khu dân cư, độ dốc, tính dễ cháy của trạng thái rừng, số vụ cháy của các trạng thái rừng trong vòng 6 năm qua. 3.3. Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tiến hành những nội dung chủ yếu sau: - Nghiên cứu sự phân bố của các trạng thái rừng tại huyện Hoành Bồ và Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. - Nghiên cứu đặc điểm cháy rừng tại khu vực Hoành Bồ và Tiên Yên. - Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng tại khu vực. - Phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho khu vực Hoành Bồ và Tiên Yên. - Đề xuất một số biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng tại khu vực nghiên cứu. 3.4. Phương pháp nghiên cứu 3.4.1. Phương pháp luận “Cháy rừng là sự xuất hiện và lan tràn của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người, gây nên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường”. Cháy rừng chỉ xuất hiện khi có mặt đồng thời cả ba yếu tố: Nguồn lửa, ôxy và vật liệu cháy. Nguồn lửa phát sinh có thể do con người hoặc những hiện tượng trong tự nhiên. Ở Việt Nam, hầu hết các vụ cháy là do con người gây ra bởi các hoạt động kinh tế xã hội. Do vậy, hoạt động kinh tế xã hội là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cháy rừng. Những hoạt động này luôn diễn ra phong phú, đa dạng và sự tác động đến cháy rừng của những hoạt động đó cũng không đơn giản. Vì vậy, đề tài chỉ xét đến yếu tố khoảng cách từ khu dân cư đến trạng thái rừng làm đại diện để nghiên cứu sự ảnh hưởng của hoạt động kinh tế, xã hội đến nguy cơ cháy rừng cho khu vực nghiên cứu. Ôxy là yếu tố không thể thiếu để duy trì đám cháy. Tuy nhiên, yếu tố này luôn tồn tại trong tự nhiên ở mức trên dưới 21%. Sự tác động vào nhân tố này là không thể, nên đề tài không đề cập đến yếu tố này. VLC là sản phẩm hữu cơ do rừng tạo ra. Đây là yếu tố quyết định cả sự phát sinh và phát triển của đám cháy. Những tính chất của VLC về: khối lượng, độ ẩm, thành phần…chủ yếu do đặc điểm trạng thái rừng quyết định. Các trạng thái rừng khác nhau thì nguy cơ cháy rừng cũng có thể khác nhau. Do đó, đề tài sử dụng một số chỉ tiêu cấu trúc rừng như: Chiều cao dưới cành của cây rừng, độ che phủ, chiều cao của lớp cây bụi và khả năng dễ cháy của loài cây để nghiên cứu phân loại các trạng thái rừng theo khả năng cháy cho khu vực nghiên cứu. Tóm lại, phương pháp nghiên cứu chung của đề tài là để có thể đánh giá khả năng cháy của các trạng thái rừng, cần tính đến ảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu tố cả yếu tố tự nhiên và xã hội. 3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu 3.4.2.1. Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, đặc điểm tài nguyên rừng và tình hình cháy rừng của khu vực Đề tài sử dụng phương pháp tham khảo và kế thừa tài liệu có sẵn của UBND huyện, UBND các xã, các hạt Kiểm lâm và của các Lâm trường thuộc khu vực Hoành Bồ và Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Kết quả điều tra về tình hình cháy được ghi vào mẫu biểu 01. Biểu 01: Mẫu biểu điều tra số vụ cháy rừng của khu vực nghiên cứu Huyện Xã Số vụ cháy Thời gian cháy Diện tích cháy Trạng thái cháy 3.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy của các trạng thái rừng Các yếu tố mà đề tài sử dụng để phân loại các trạng thái rừng theo nguy cơ cháy bao gồm: Khối lượng VLC ở các trạng thái rừng, độ dốc, cấu trúc (Hdc, độ che phủ, chiều cao tầng cây bụi), khoảng cách từ khu dân cư đến rừng, số vụ cháy của các trạng thái rừng trong 6 năm qua, tính dễ cháy của trạng thái rừng. Để có Thông tin về các trạng thái rừng và số vụ cháy đã xảy ra đề tài sử dụng phương pháp chung là tham khảo và kế thừa tài liệu sẵn có và kết hợp với điều tra thực tế. Khoảng cách từ các trạng thái rừng đến khu dân cư được xác định bằng phương pháp đo vẽ trên bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng và kết hợp với đo ngoài thực địa bằng máy định vị GPS. Yếu tố này được tính bằng số trung bình của khoảng cách xa nhất và khoảng cách gần nhất từ khu dân cư đến trạng thái