Luận văn Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội

Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là điều không thể tránh khỏi. Trước những diễn biến phức tạp của thị trường tài chính - tiền tệ nước ta thời gian gần đây, nhiều chuyên gia tài chính đã dự đoán, năm 2008 sẽ là một năm kinh doanh không mấy dễ dàng với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) của Việt Nam và điều đó sẽ càng khắc nghiệt với những ngân hàng mới thành lập Vì vậy các ngân hàng cần phải có chiến lược kinh doanh vững chắc, an toàn và hiệu quả, có sự kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế các rủi ro thông qua công tác quản trị rủi ro ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có rất nhiều loại rủi ro xảy ra như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, nhưng rủi ro đặc thù và khó phòng ngừa nhất của ngân hàng là rủi ro lãi suất. Khi lãi suất thị trường biến động gây ảnh hưởng đến nguồn thu từ danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán cũng như chi phí trả lãi đối với các khoản tiền gửi, các nguồn vay của ngân hàng. Những tác động này có thể làm giảm chi phí nguồn vốn, giảm thu nhập từ tài sản và hạ thấp vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Điều này làm thay đổi tiêu cực đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng. Do vậy, công tác quản trị rủi ro ở ngân hàng là rất cần thiết nhằm giúp các ngân hàng hạn chế được các thiệt hại khi lãi suất thị trường biến động.

pdf63 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 6335 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Luận văn Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội MỤC LỤC trang Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ 0 LỜI NÓI ĐẦU 01 CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT 03 1. Khái niệm rủi ro lãi suất 03 1.1.Khái niệm rủi ro lãi suất 03 1.2.Ví dụ về rủi ro lãi suất 04 2. Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất 05 2.1. Sự không phù hợp về kì hạn của nguồn và tài sản 05 2.2. Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng 06 2.3. Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng 06 3. Khái niệm quản trị rủi ro lãi suất 07 4. Các kĩ thuật quản trị rủi ro lãi suất 08 4.1. Quản trị khe hở lãi suất 08 4.2. Quản trị khe hở kì hạn 09 4.3. Sử dụng các nghiệp vụ phát sinh 11 4.3.1. Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng kì hạn 11 4.3.2. Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai 12 4.3.3. Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng quyền chọn 13 4.3.4. Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng hoán đổi lãi suất 14 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT Ở NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI 15 1. Tổng quan về ngân hàng TMCP Quân đội 15 1.1. Giới thiệu chung về ngân hàng TMCP Quân đội 15 1.1.1. Phương châm hoạt động 15 1.1.2. Các sản phẩm và dich vụ của ngân hàng 16 1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Quân đội 21 2. Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Quân đội 26 3. Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro lãi suất ở ngân hàng TMCP Quân đội 30 3.1. Thành tựu đạt được trong hoạt đông quản trị rủi ro lãi suất 30 3.2. Hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất 30 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT Ở NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI 39 1. Định hướng hoạt động của ngân hàng TMCP Quân đội và yêu cầu đặt ra đối với quản trị rủi ro lãi suất ở ngân hàng 39 1.1. Định hướng hoạt động của ngân hàng TMCP Quân đội 39 1.2. Yêu cầu đặt ra đối với quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng 43 2. Các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro lãi suất 45 2.1. Nâng cao trình độ nhận thức nhà quản trị, cán bộ ngân hàng và khách hàng 45 2.2. Hoàn thiện hệ thống kế toán thống kê ngân hàng 46 2.3. Nghiên cứu, dự báo biến động lãi suất 47 2.4. Hoàn thiện văn bản pháp lý về đo lường và quản lý rủi ro lãi suất 48 3. Các điều kiện để thực hiện giải pháp 48 3.1. Hiện đại hóa cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ Ngân hàng 48 3.2. Nâng cao chất lượng cán bộ ngân hàng và nhà quản trị ngân hàng 50 3.3. Hoàn thiện bộ máy quản trị nội bộ 52 3.4. Sự điều chỉnh của ngân hàng nhà nước 52 Kết luận 55 Nhận xét của cơ sở thực tập 57 Danh mục tài liệu tham khảo DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần NHTM : Ngân hàng thương mại NHNN : Ngân hàng nhà nước TCTD : Tổ chức tín dụng XHTD : Xếp hạng tín dụng MB : Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ BẢNG 1: BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI TỪ NĂM 1994-2007. ĐỒ THỊ 1: TỔNG TÀI SẢN CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI TỪ NĂM 1994-2007. ĐỒ THỊ 2: TỔNG VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI TỪ NĂM 1994-2007. ĐỒ THỊ 3: TỔNG DƯ NỢ CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI TỪ NĂM 1994-2007. ĐỒ THỊ 4: LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI TỪ NĂM 1994-2007. LỜI NÓI ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là điều không thể tránh khỏi. Trước những diễn biến phức tạp của thị trường tài chính - tiền tệ nước ta thời gian gần đây, nhiều chuyên gia tài chính đã dự đoán, năm 2008 sẽ là một năm kinh doanh không mấy dễ dàng với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) của Việt Nam và điều đó sẽ càng khắc nghiệt với những ngân hàng mới thành lập… Vì vậy các ngân hàng cần phải có chiến lược kinh doanh vững chắc, an toàn và hiệu quả, có sự kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế các rủi ro thông qua công tác quản trị rủi ro ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có rất nhiều loại rủi ro xảy ra như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, … nhưng rủi ro đặc thù và khó phòng ngừa nhất của ngân hàng là rủi ro lãi suất. Khi lãi suất thị trường biến động gây ảnh hưởng đến nguồn thu từ danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán cũng như chi phí trả lãi đối với các khoản tiền gửi, các nguồn vay của ngân hàng. Những tác động này có thể làm giảm chi phí nguồn vốn, giảm thu nhập từ tài sản và hạ thấp vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Điều này làm thay đổi tiêu cực đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng. Do vậy, công tác quản trị rủi ro ở ngân hàng là rất cần thiết nhằm giúp các ngân hàng hạn chế được các thiệt hại khi lãi suất thị trường biến động. Hiện nay công tác nghiên cứu và quản trị rủi ro đã bắt đầu được các ngân hàng thương mại quan tâm tuy nhiên trình độ cũng như nghiệp vụ phòng chống rủi ro lãi suất của các ngân hàng vẫn còn có nhiều hạn chế. Chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài: “ Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội”. Đây là đề tài mang tính thực tiễn cao khi Việt Nam đã là thành viên thứ 150 tổ chức thương mại thế giới WTO, việc quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Quân đội sẽ xác định được giá trị của ngân hàng trong hệ thống. Tuy nhiên, do kiến thức chưa đầy đủ và thời gian có hạn nên bài viết của em chắc còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, các cán bộ ngân hàng cùng các bạn sinh viên để bài làm thêm phần hoàn thiện. Em xin chân thành cám ơn cô giáo: Thạc sĩ Đinh Lê Hải Hà đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này, càm ơn cán bộ ngân hàng và ban lãnh đạo của ngân hàng TMCP Quân đội đã tạo điều kiện cho em tìm hiểu với thực tế để bài viết của em mang tính thực tiễn cao hơn. Nội dung nghiên cứu gồm 3 chương: - Chương 1: Lý thuyết chung về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất. - Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất ở Ngân hàng TMCP Quân đội - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt đôngj quản trị rủi ro lãi suất ở Ngân hàng TMCP Quân đội. Chương 1: Lý thuyết chung về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất. 1. Khái niệm rủi ro lãi suất: 1.1. Khái niệm về rủi ro lãi suất: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn rủi ro, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh và uy tín của chính ngân hàng và có tính lây chuyền, ảnh hưởng rất mạnh đến toàn bộ đời sống, kinh tế, chính trị của một quốc gia. Vì vậy, để hoạt động ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và hiệu quả, cần phải kiểm soát và hạn chế được rủi ro thông qua công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Rủi ro là những sự kiện bất ngờ không mong đợi, khi nó xảy ra thì gây ra những tổn thất ngoài dự kiến cho con người. Rủi ro tồn tại khách quan và song hành với quá trình kinh doanh. Vì vậy trong kinh doanh ngân hàng luôn tồn tại và ẩn chứa những rủi ro đe dọa. Một trong những rủi ro thường gặp nhất trong kinh doanh ngân hàng đó là rủi ro về lãi suất. Rủi ro về lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính của ngân hàng. Rủi ro lãi suất phát sinh khi có chênh lệch về kỳ hạn tái định giá giữa tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng. Ở Việt Nam, từ tháng 8/2000 đến giữa năm 2002 Ngân hàng nhà nước điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất cơ bản. Theo đó lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng vừa chứa đựng yếu tố thị trường vừa chứa đựng yếu tố can thiệp hành chính của NHNN. Từ đó đến nay có thể coi lãi suất VND đã được xác định hoàn toàn dựa trên quy định cung - cầu về tín dụng thị trường. Đến ngày 30/5/2002 Ngân hàng nhà nước đã ra quyết định số 546/2002/QĐ – NHNN quy định: từ ngày 01/6/2002 lãi suất cho vay bằng VND được thực hiện theo cơ chế lãi suất thả nổi (lãi suất thị trường) nhằm giảm sự can thiệp của nhà nước đối với các tổ chức tín dụng. Điều này đã giúp cho các tổ chức tín dụng có quyền chủ động hơn trong kinh doanh và quản lý kinh doanh có hiệu quả. Như vậy lãi suất của các ngân yhàng sẽ luôn thay đổi và khó dự đoán, các ngân hàng luôn phải đối mặt với nguy cơ tiềm ẩn rủi ro lãi suất. 1.2. Ví dụ về rủi ro lãi: Giả sử ngân hàng X có nhu cầu cho vay 2 món: 200 triệu thời hạn 1 năm với lãi suất cố định là 10%/ năm và 200 triệu thời hạn 2 năm với lãi suất cố định là 11%/ năm Ngân hàng X tìm kiếm nguồn cho vay bằng cách vay trên thị trường liên ngân hàng 400 triệu với lãi suất cố định là 6%/ năm nếu vay 1 năm và 7%/ năm nếu vay 2 năm. - Trường hợp kì hạn của tài sản lớn hơn kì hạn của nguồn tiền: Nếu ngân hàng X vay trên thị trường liên ngân hàng kì hạn 1 năm. Đối với khoản cho vay 1 năm ngân hàng thu được lãi suất là: 10% - 6% = 4% Sau 1 năm thì 200 triệu cho vay được trả và 400 triệu đi vay cần trả, để có tiền trả 200 triệu còn lại ngân hàng cần vay thêm 200 triệu trên thị trường liên ngân hàng (tái tài trợ). lãi suất ngân hàng phải trả khi tái tài trợ có ảnh hưởng đến chênh lệch lãi suất mà ngân hàng thu được. Nếu lãi suất không thay đổi thì khoản lãi suất chênh lệch thu được của khoản cho vay thứ 2 là: 11% - 6% = 5% Chênh lệch lãi suất từ 400 triệu đi vay đầu tiên là: ( 4% x 200 + 5% x 200) / 400 = 4,5% Chênh lệch lãi suất bình quân của ngân hàng X là: (4,5% + 5%) / 2 = 4,75% Giả sử năm thứ 2, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm 2% tức là chỉ còn 4%. Khi đó chênh lệch lãi suất năm thứ 2 là: 11% - 4% = 7% Chênh lệch lãi suất bình quân là: (4,5% + 7%) / 2 = 5,75% Giả sử năm thứ 2 lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng lên 4%, chênh lệch lãi suất năm thứ 2 là:11% -10% = 1% Chênh lệch lãi suất bình quân là: (4,5% + 1%) / 2 = 2,75% Như vậy rõ ràng ngân hàng X sẽ có chênh lệch lãi suất bình quân thấp hơn khi lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng lên. Mức lãi suất này không đủ để ngân hàng bù đắp các chi phí hoạt động và các chi phí khác. Như vậy ngân hàng đã bị tổn thất do lãi suất biến động ngoài dự kiến. - Trường hợp kì hạn của tài sản nhỏ hơn kì hạn của nguồn tài trợ: Nếu ngân hàng đi vay trên thị trường liên ngân hàng 400 triệu với kì hạn 2 năm. 200 triệu được hoàn trả năm thứ nhất và thu được lãi suất chânh lệch là: 10% - 7% = 3%. Ngân hàng có thể dung 200 này để tái đầu tư. Nếu lãi suất cho vay giảm thì ngân hàng sẽ bị thiệt, ngược lại nếu lãi suất cho vay tăng thì ngân hàng sẽ thu được thêm lợi nhuận. Kết luận: Như vậy sự không phù hợp về kì hạn giữa tài sản và nguồn vốn trong các hợp đồng sử dụng lãi suất cố định được kết hợp vớithay đổi lãi suất ngoài dự kiến trên thị trường là lí do chính dẫn đến rủi ro về lãi suất tại các ngân hàng. 2. Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất: 2.1. Sự không phù hợp về kì hạn của nguồn và tài sản: Các tài sản và nguồn của ngân hàng có kỳ hạn khác nhau. Khi gắn chúng với lãi suất, các ngân hàng quan tâm đến kì hạn đặt lãi. Căn cứ vào kì hạn khoản vay mà ngân hàng có kì hạn đặt lại lãi suất cho phù hợp. Từ đó ngân hàng sẽ chia tài sản và nguồn vốn thành loại nhạy cảm với lãi suất và loại kém nhạy cảm với lãi suất. Tài sản và nguồn nhạy cảm với lãi suất là loại mà số dư nhanh chóng chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất thị trường thay đổi. Ví dụ như: loại có kì hạn đặt lại giá dưới 12 tháng như tài sản và nguồn ngắn hạn, tài sản và nguồn trung hạn, dài hạn có thời gian đáo hạn dưới 12 tháng,… Sự không phù hợp về kì hạn của nguồn và tài sản được đo bằng khe hở lãi suất: Khe hở lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn nhạy cảm lãi suất Ngân hàng có khe hở dương nếu tài sản nhạy cảm lớn hơn nguồn nhạy cảm nghĩa là kì hạn huy động dài hơn sử dụng và có khe hở âm nếu tài sản nhạy cảm nhỏ hơn nguồn nhạy cảm nghĩa là kì hạn huy động nhỏ hơn sử dụng. Sự khác biệt về kì hạn và kì hạn đặt lại là tất yếu và ngân hàng khó có thể duy trì một sự phù hợp tuyệt đối về kì hạn giữa nguồn và các loại tài sản khác nhau trong mọi thời kì do kì hạn thường do người đi vay và người gửi tiền quyết định. Kì hạn đặt lại thì bị tác động bởi dự đoán về sự biến động lãi suất trong tương lai của ngân hàng và của khách hàng. Khác hàng muốn chọn lãi suất cố định trong trong suốt hợp đồng để tính toán trước chi phí của dự án, trong khi đó thì ngân hàng có xu hướng chia nhỏ kì hạn để hạn chế rủi ro lãi suất. 2.2. Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng: Quan hệ cung- cầu về tín dụng trên thị trường thường xuyên thay đổi, do đó lãi suất thị trường cũng thay đổi theo. Ngân hàng rất khó kiểm soát mức độ và xu hướng biến động của nó. Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương thì sự tăng giảm về chênh lệch lãi suất tỷ lệ thuận với sự tăng giảm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Ngược lại, nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm thì sẽ tỷ lệ nghịch. Ngân hàng chỉ có thể phản ứng điều chỉnh hoạt động của mình theo sự biến động lãi suất để đạt được mục tiêu mong muốn kinh doanh hiệu quả nhất. 2.3. Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng: Trong suốt một thời gian dài trước đây các ngân hàng thương mại Việt Nam sử dụng chế độ lãi suất cố định theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước. Các dự án cho vay trung và dài hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cho vay của Ngân hàng thương mại, mà hầu hết những dự án cho vay này thường áp dụng mức lãi suất cố định do các chủ đầu tư muốn tính được trước chi phí của dự án để có thể xác định được dòng tiền trong tương lai và tính được hiệu quả của dự án. Cũng như vậy, phần lớn những người gửi tiết kiệm cũng yêu cầu lãi suất cố định để phòng ngừa rủi ro. Khi lãi suất thị trường thay đổi thì những hợp đồng này có thể đem lại rủi ro cho ngân hàng và khách hàng. 3. Khái niệm quản trị rủi ro: Quản trị rủi ro lãi suất là việc ngân hàng tổ chức một bộ phận nhằm nhận biết, định lượng những tổn thất đang và sẽ gây ra từ rủi ro lãi suất để từ đó có thể giám sát và kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua việc lập nên những chính sách, chiến lược sử dụng các công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục. Trong những năm gần đây, các Ngân hàng Thương mại và các cơ quan quản lý tại nhiều quốc gia trên thế giới đã giành nhiều thời gian và công sức để phát triển hệ thống giám sát và quản lý rủi ro lãi suất nhằm tách biệt danh mục tài sản có, tài sản nợ và lợi nhuận của ngân hàng khỏi ảnh hưởng tiêu cực của những biến động lãi suất. Dù lãi suất thay đổi, các ngân hàng luôn mong muốn đạt được thu nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định và đây chính là mục tiêu của ngân hàng trong công tác quản lý rủi ro lãi suất. Ở Việt Nam hiện nay, công tác quản lý rủi ro nhất là quản lý rủi ro lãi suất đang trở thành vấn đề được quan tâm của nhiều ngân hàng trong chiến lược kinh doanh của mình. Đây là một vấn đề mang tính chiến lược của nhiều ngân hàng khi Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO: Ngân hàng có nghiên cứu và công tác quản trị rủi ro tốt thì mới khẳng định được dẳng cấp, vị thế và giá trị của ngân hàng mình. Khi lãi suất thị trường thay đổi, những nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán cũng như chi phí trả lãi đối với tiền gửi và các nguồn vay của ngân hàng đều bị tác động. Những thay đổi của lãi suất thị trường có thể tác động tiêu cực tới lợi nhuận ngân hàng do làm tăng chi phí nguồn vốn, giảm thu nhập từ tài sản, hạ thấp giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Vì vậy, sự biến động của lãi suất tác động đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng. Nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý rủi ro lãi suất, không dự đoán được xu hướng biến động của lãi suất thì các ngân hàng có thể bị thiệt hại nặng nề từ loại rủi ro này, thậm chí đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản. 4. Các kĩ thuật quản trị rủi ro lãi suất: 4.1. Quản trị khe hở lãi suất: Các nhà quản trị đã sử dụng khe hở lãi suất như là một chỉ tiêu đo khả năng thu nhập giảm khi lãi suất thay đổi ngoài dự kiến. Khe hở lãi suất càng lớn thì khi lãi suất thay đổi ngoài dự kiến, tổn thất của ngân hàng càng lớn. Khe hở lãi suất = giá trị tài sản nhạy cảm với lãi suất – giá trị nợ nhạy cảm với lãi suất Quy trình quản lý khe hở kì hạn gồm 4 bước: - Lựa chọn thời kì nhằm quản trị (có thể là 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm…) - Lựa chọn giá trị tỷ lệ thu nhập lãi cận biên mục tiêu - Dự báo lãi suất tăng hay giảm - Xác định giá trị tài sản nhạy cảm với lãi suất và giá trị nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất mà ngân hàng sẽ nắm giữ. Yêu cầu với những nhà quản trị: Khi sử dụng kĩ thuật này yêu cầu nhà quản trị phải tiến hành phân tích kì hạn, định giá lại những cơ hội gắn với những tài sản sinh lời của ngân hàng, những khoản tiền gửi cũng như vốn vay trên thị trường. Nếu nhà quản trị thấy rằng mức độ rủi ro là quá lớn, họ sẽ phải thực hiện một số điều chính sao cho giá trị của các tài sản nhạy cảm với lãi suất trở nên phù hợp tới mức tối đa với giá trị nguồn nhạy cảm với lãi suất. Việc quản trị khe hở lãi suất là vô cùng khó khăn và phức tạp đòi hỏi nhà quản trị phải có trình độ và việc xác định thời điểm định giá lại của các tài sản và nguồn của ngân hàng và lựa chọn thời gian thích hợp để cân bằng tài sản và nguồn nhạy cảm với lãi suất là không đơn giản. 4.2. Quản trị khe hở kì hạn: Để phòng chống rủi ro lãi suất ngân hàng thường lựa chọn khe hở kì hạn tiến dần đến 0. Khe hở kì hạn = Kì hoàn vốn TB theo giá trị của danh mục tài sản – Kì hoàn trả TB theo giá trị nguồn vốn Kì hạn hoàn vốn là giá trị kì hạn TB xác định trên cơ sở thời gian xuất hiện các dòng tiền vào được tạo ra từ tài sản. Kì hạn hoàn trả là thước đo thời gian TB của dòng tiền dự tính đi ra khỏi ngân hàng. Để phòng ngừa rủi ro lãi suất phải đảm bảo: Kỳ hạn hoàn vốn Kỳ hạn hoàn trả TB Tổng giá trị nguồn vốn TB theo giá trị = theo giá trị của X ------------------------------- tài sản nguồn vốn Tổng giá trị tài sản Quy trình quản trị khe hở kì hạn gồm 3 bước: - Tính kì hạn hoàn vốn của từng khoản lục trong danh mục - Nhân giá trị kì hạn hoàn vốn vừa tính với tỷ trọng của giá trị thị trường từng khoản mục trong danh mục - Cộng kết quả ở bước 2 để xác định kì hạn hoàn vốn của toàn danh mục. Chúng ta có thể sử dụng mô hình thời lượng để tính toán được kì hạn hoàn vốn của từng khoản mục trong danh mục và lượng hóa được mức độ tổn thất khi xảy ra rủi ro lãi suất. Đây được xem là mô hình hoàn hảo nhất trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản có và tài sản nợ đối với lãi suất do nó đề cập đến tất cả các yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kì hạn đến hạn của tài sản nợ và tài sản có. Tuy nhiên việc áp dụng mô hinh thời lượng vào hoạt động của ngân hàng gặp rất nhiều hạn chế. - Cân xứng thời lượng hai vế bảng cân đối kế toán là rất tốn kém: Trên thực tế việc cơ cấu lại bảng cân đối tài sản bao gồm một danh mục tài sản lớn hơn và phức tạp là một việc làm hết sức khó khăn và tốn kém cả về thời gian và tiền bạc. Điều này đòi hỏi cần phải có một thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ với các nghiệp vụ như: chứng khoán hóa tài sản, mua bán nợ và các nghiệp vụ phát sinh, mua bán vốn. - Sự biến động của mô hình thời lượng: Mô hình thời lượng được xây dựng tren giả thuyết lãi suất thị trường thay đổi ngay lập tức ngay sau khi mua trái phiếu. Trên thực tế thì điều này không phải lúc nào cũng như vậy mà lãi suất thị trường có thể thay đổi trong suốt kì hạn của trái phiếu. Đồng thời , thời lượng của trái phiếu thay đổi theo thời gian. Do đó dòi hỏi nhà quản trị phải thường xuyên cân đối lại thời lượng giữa tài sản có và tìa sản nợ. Điều này là hết sức tốn kém và phức tạp, không phải lúc nào cũng làm được. - Vấn đề lãi suất thả nổi và việc trì hoãn vấn
Luận văn liên quan