Phát hiện tần suất thiếu hụt G6PD ở dân tộc Tày và dân tộc Nùng bằng phương pháp bán định lượng Formazan

Glucose 6 phosphatdehydrogenase (G6PD) là một enzym ôxy hoá khử, là một enzym then chốt trong quá trình chuyển hoá Glucose theo con đường Hexose monophosphate trong hồng cầu. Con đường này chỉ tạo ra năng lượng không đáng kể (10%glucose tham gia vào con đường này) nhưng lại đảm nhiệm hai chức năng quan trọng là cung cấp ribose cho quá trình sinh tổng hợp các nucleotid, acid nucleic và đặc biệt tạo ra một chất khử vô cùng quan trọng là NADPH. Chất này có khả năng chống lại tác nhân gây oxy hóa, loại bỏ H202, giúp bảo vệ cho màng hồng cầu đựơc bền vững, bảo vệ cấu trúc của Hemoglobin, cấu trúc của các enzym có trong hồng cầu để duy trì sự sống cho tế bào hồng cầu. Bệnh thiếu hụt G6PD là một trong những bệnh lý hay gặp nhất của hồng cầu. Cơ sở di truyền học của bệnh này là đột biến gen nằm trên đầu mút tận cùng nhiễm sắc thể X ở đoạn q với các dạng đột biến khác nhau (như Gâoh,Viangchan...) Các dạng đột biến khác nhau có thể tạo những mức độ thiếu hụt G6PD khác nhau và gây ra những biểu hịên lâm sàng khác nhau. Đây là bệnh di truyền gen lặn liên kết nhiễm sắc thể giới tính X không có alen tương ứng trên Y nên gặp nhiều ở nam hơn ở nữ,bệnh mang tính di truyền do đó biểu hiện khác nhau ở những dân tộc khác nhau. Các nghiên cứu gần đây cho thấy những biểu hiện lâm sàng của bệnh cũng đa số xuất hiện do sử dụng các biện pháp điều trị như thuốc hay sử dụng thức ăn có tính oxy hoá, do vậy ở vùng lãnh thổ khác nhau do tập quán sinh hoạt, thói quen và đặc điểm bệnh tật khác nhau nên tỷ lệ thiếu hụt của enzym này cũng thay đổi. Việt Nam là một trong những nước nằm trong bản đồ thiếu hụt G6PD, với tỷ lệ mắc bệnh tương đối cao. Thiếu G6PD thường có những biểu hiện tan máu gây vàng da, đái huyết sắc tố, thiếu máu, suy thận cấp và trường hợp nặng là tử vong. Bệnh xuất hiện khi tiếp xúc với các tác nhân gây oxy hoá như vi sinh vật, hoá chất (thuốc, thực phẩm). Người bình thường với số lượng và chất lượng G6PD đảm bảo thì khi tiếp xúc với hàm lượng cao chất oxy hoá thì vẫn có khả năng sản xuất ra đủ NADPH để loại bỏ tác động của chúng và sẽ không có những biểu hiện lâm sàng trên. Trưòng hợp thiếu hụt nặng enzym thì hay gây ra những cơn tan máu cấp kể cả khi sử dụng rất ít chất õy hoá, nhưng cũng có trưòng hợp do sử dụng một lượng chất oxy hoá tuy ít nhưng kéo dài sẽ dẫn đến hiện tưọng không đủ enzym để tham gia quá trình khử, đây chính là hiện tượng thiếu enzym thứ phát. Bởi vậy việc phát hiện ra sự thiếu hụt G6PD là rất quan trọng. Qua sự phát hiện bằng những phưong pháp định tính, định lượng chúng ta có thể biết được mức độ suy giảm để có được kế hoạch điều trị cũng như cách thức sinh hoạt hợp lý nhằm hạn chế thấp nhất sự biểu hiện của bệnh. Sử dụng phương pháp bán định lượng tạo vòng Formazan với ưu điểm nhanh chóng, đơn giản sẽ giúp cho chúng ta phát hiện được sự thiếu hụt này một cách đồng loạt và có hiệu quả. Tôi tiến hành làm khoá luận tốt nghiệp về đề tài: "Phát hiện tần suất thiếu hụt G6PD ở dân tộc Tày và dân tộc Nùng bằng phương pháp bán định lượng Formazan." Với hai mục tiêu sau đây: - Đánh giá các điều kiện của phản ứng Formazan. - Sử dụng kỹ thuật bán định lượng Formazan để phát hiện tần suất thiếu hụt G6PD ở dân tộc Tày và Nùng.

doc40 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 14/01/2013 | Lượt xem: 2324 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát hiện tần suất thiếu hụt G6PD ở dân tộc Tày và dân tộc Nùng bằng phương pháp bán định lượng Formazan, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẶT VẤN ĐỀ Glucose 6 phosphatdehydrogenase (G6PD) là một enzym ôxy hoá khử, là một enzym then chốt trong quá trình chuyển hoá Glucose theo con đường Hexose monophosphate trong hồng cầu. Con đường này chỉ tạo ra năng lượng không đáng kể (10%glucose tham gia vào con đường này) nhưng lại đảm nhiệm hai chức năng quan trọng là cung cấp ribose cho quá trình sinh tổng hợp các nucleotid, acid nucleic và đặc biệt tạo ra một chất khử vô cùng quan trọng là NADPH. Chất này có khả năng chống lại tác nhân gây oxy hóa, loại bỏ H202, giúp bảo vệ cho màng hồng cầu đựơc bền vững, bảo vệ cấu trúc của Hemoglobin, cấu trúc của các enzym có trong hồng cầu để duy trì sự sống cho tế bào hồng cầu. Bệnh thiếu hụt G6PD là một trong những bệnh lý hay gặp nhất của hồng cầu. Cơ sở di truyền học của bệnh này là đột biến gen nằm trên đầu mút tận cùng nhiễm sắc thể X ở đoạn q với các dạng đột biến khác nhau (như Gâoh,Viangchan...) Các dạng đột biến khác nhau có thể tạo những mức độ thiếu hụt G6PD khác nhau và gây ra những biểu hịên lâm sàng khác nhau. Đây là bệnh di truyền gen lặn liên kết nhiễm sắc thể giới tính X không có alen tương ứng trên Y nên gặp nhiều ở nam hơn ở nữ,bệnh mang tính di truyền do đó biểu hiện khác nhau ở những dân tộc khác nhau. Các nghiên cứu gần đây cho thấy những biểu hiện lâm sàng của bệnh cũng đa số xuất hiện do sử dụng các biện pháp điều trị như thuốc hay sử dụng thức ăn có tính oxy hoá, do vậy ở vùng lãnh thổ khác nhau do tập quán sinh hoạt, thói quen và đặc điểm bệnh tật khác nhau nên tỷ lệ thiếu hụt của enzym này cũng thay đổi. Việt Nam là một trong những nước nằm trong bản đồ thiếu hụt G6PD, với tỷ lệ mắc bệnh tương đối cao. Thiếu G6PD thường có những biểu hiện tan máu gây vàng da, đái huyết sắc tố, thiếu máu, suy thận cấp và trường hợp nặng là tử vong. Bệnh xuất hiện khi tiếp xúc với các tác nhân gây oxy hoá như vi sinh vật, hoá chất (thuốc, thực phẩm). Người bình thường với số lượng và chất lượng G6PD đảm bảo thì khi tiếp xúc với hàm lượng cao chất oxy hoá thì vẫn có khả năng sản xuất ra đủ NADPH để loại bỏ tác động của chúng và sẽ không có những biểu hiện lâm sàng trên. Trưòng hợp thiếu hụt nặng enzym thì hay gây ra những cơn tan máu cấp kể cả khi sử dụng rất ít chất õy hoá, nhưng cũng có trưòng hợp do sử dụng một lượng chất oxy hoá tuy ít nhưng kéo dài sẽ dẫn đến hiện tưọng không đủ enzym để tham gia quá trình khử, đây chính là hiện tượng thiếu enzym thứ phát. Bởi vậy việc phát hiện ra sự thiếu hụt G6PD là rất quan trọng. Qua sự phát hiện bằng những phưong pháp định tính, định lượng chúng ta có thể biết được mức độ suy giảm để có được kế hoạch điều trị cũng như cách thức sinh hoạt hợp lý nhằm hạn chế thấp nhất sự biểu hiện của bệnh. Sử dụng phương pháp bán định lượng tạo vòng Formazan với ưu điểm nhanh chóng, đơn giản sẽ giúp cho chúng ta phát hiện được sự thiếu hụt này một cách đồng loạt và có hiệu quả. Tôi tiến hành làm khoá luận tốt nghiệp về đề tài: "Phát hiện tần suất thiếu hụt G6PD ở dân tộc Tày và dân tộc Nùng bằng phương pháp bán định lượng Formazan." Với hai mục tiêu sau đây: - Đánh giá các điều kiện của phản ứng Formazan. - Sử dụng kỹ thuật bán định lượng Formazan để phát hiện tần suất thiếu hụt G6PD ở dân tộc Tày và Nùng. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những hiểu biết về G6PD: 1.1.Đại cương: G6PD được Warburg và Christan phát hiện năm 1931 ở hồng cầu ngưạ, động vật, vi sinh vật, men bia và hồng cầu người. Năm 1936 G6PD đã được nghiên cứu và tiến hành chiết suất làm sạch nhưng phải 25 năm sau mới thành công. Bước đầu nghiên cứu enzym đã đựơc tìm hiểu về cấu trúc phân tử, dạng có hoạt tính sinh học, các dạng biến thể của enzym. Quá trình tách chiết enzym ra khỏi hồng cầu cũng ngày càng đạt được độ tinh sạch cao hơn, trải qua các bước như điện di, phương pháp sắc ký trao đổi ion, sắc ký ái lực độ tinh sạch của enzym đã đạt đựơc tới 1448,2 lần [2]. Cùng với sự phát triển của sinh học phân tử các dạng đột biến của G6PD ngày càng được phát hiện nhiều, các phương pháp phát hiện thiếu hụt từ định lượng, định tính, bán định lượng, test nhanh ngày càng được phát triển chính xác hơn và áp dụng rộng rãi hơn trong cộng đồng. 1.2.Cấu trúc: Cấu trúc bậc một (monomer): là chuỗi polypeptid gồm 515 acid amin liên kết với nhau bằng những liên kết peptid (nhóm cacboxyl(-C00H) của acid amin trước sẽ liên kết với nhóm amin (-NH2) của acidamin sau bằng cách chung nhau mất đi một phân tử nước). Trọng lượng phân tử của enzym nặng 59265 Daltons. Trình tự acid amin đã được giải mã, tính đồng nhất của trình tự này thay đổi tuỳ theo từng vùng. Vùng có tính đồng nhất cao được cho là vùng có chức năng quan trọng (hay còn gọi là trung tâm hoạt động) của enzym, ở người vùng này thuộc acidamin 188-291. Cấu trúc bậc cao hơn: G6PD có cấu trúc không gian là pôlymer, đó là các dạng dimer, tetramer, hexamer. Dạng cấu trúc không gian mới đảm bảo cho enzym hoạt động được. Trong hồng cầu người thì dạng dimer chiếm ưu thế hơn. Các cấu trúc bậc 1, bậc cao hơn có sự chuyển dạng lẫn nhau tuỳ vào điều kiện của môi trường, như ở pH thấp thì chủ yếu là dạng tetramer, pH gần trung tính thì là dạng dimmer, ở pH trung tính thì hai dạng đó gần bằng nhau. G6PD là một enzym không đồng nhất và đa dạng phân tử, bằng phương pháp hoá sinh WHO đã mô tả có 442 dạng khác nhau [1,3].  Hình 1: cấu trúc bậc bốn của G6PD 1.3.Chức năng: G6PD là một enzym oxy hoá khử xúc tác phản ứng chuyển hoá đầu tiên của chu trình Pentose( chu trình Hexomonophosphate), có ký hiệu quốc tế là: 1.1.49. Chức năng quan trọng của nó là tạo ra NADPH để chống lại các tác nhân oxy hoá và vì vậy trong hồng cầu nó ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ màng hồng cầu đươc bền vững, đảm bảo thời gian tồn tại trong máu ngoại vi của hồng cầu là khoảng 120 ngày nhằm đáp ứng nhu cầu ôxy của cơ thể. Chu trình Hexomonophosphate ( pentosephosphat) Sự oxy hóa glucose theo con đường Hexomonophosphate xảy ra ở các mô song song với con đường đương phân song chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều (7%-10%). Tuy nhiên ở một số tế bào như: hồng cầu, gan, tuyến mỡ, tuyến sữa thời kì hoạt động ... Sự thoái hóa glucose theo con đường này chiếm ưu thế xảy ra trong phần dịch bào của tế bào. + G6P được tạo ra qua sự phosphorin hóa Glutathion dưới tác dụng của enzym Hexokinase + G6P bước vào con đường Pentose qua 2 giai đoạn: Giai đọan 1: khử cacboxyl oxy hóa G6P thành pentose phosphat, quá trình này tạo ra NADPH ở một số tổ chức con đường pentose dừng tại đây và phương trình tổng quát là: G6P + 2NADP+ + HO --> R5P + CO + 2NADPH + 2H NADPH dùng cho các phản ứng sinh tổng hợp, còn R5P là tiền chất tổng hợp Nucleotid. Giai đoạn 2: biến hóa tiếp tục của pentose phosphat có sự vận chuyển các đơn vị 2C hoặc 3C dưới tác dụng của các enzym tương ứng là fructose 6 phosphat và 1 phân tử phospho glyconat: 6 G6P + 12NADP+ + 6 HO --> 5G6P +12 NADPHH+ + 6CO + Pi Đây là giai đoạn oxy hóa ở những tổ chức cần nhiều NADPH hơn R5P thì các pentose phosphat được đi vào chu trình biến hóa thành G6P để tiếp tục oxy hóa nhờ sắp xếp lại khung C mà 6 phân tử pentosephosphat trở thành 5 Hexo phosphat. Glucose-6-phosphate dehydrogenase Glucose-6-phosphat 6-phosphogluconolacton Mg2+ NADP+ NAPDH +H+ Lactonase 6-phosphogluconat NADP+ Mg2+ 6-phosphogluconate dehydrogenase NADPH+ H+ Ribulose-5-phosphat Phosphopentose isomerase D-Ribose-5-phosphat ( 5C) Hình 2: giai đoạn 1 của chu trình Hexomonophosphate 5C 7C 6C 5C 3C 4C 6C 5C 3C 6C 5C 3C 5C 3C 4C 6C 5C 7C 6C Hình 3: giai đoạn 2 của chu trình Hexomonophosphate Glutathion reductase Hình 4: Sơ đồ hoạt động của G6PD Thông qua quá trình photphoryl hóa tạo thành G6P qua xúc tác của G6PD để tạo ra sản phẩm 6PG đồng thời tạo thành NADPH từ NADP+ là chất cung cấp H+ để khử Glutathion dạng oxy hóa thành dạng khử thông qua enzym Glutathion reductase để từ đó trực tiếp bảo vệ hồng cầu chống lại các tác nhân gây oxy hóa ngoài ra còn khử MetHb thành Hb do đó tránh được sự biến tính Hb.Nếu không đủ G6PD thì lượng NADPH không đủ dẫn đến màng hồng cầu diễn ra quá trình peroxy hóa lipit dẫn đến hiện tượng vỡ hồng cầu gây ra tan máu và Hemoglobin sẽ bị kết tủa thành thể Heinz 1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc và hoạt động sinh lý của G6PD: Một số tính chất chung của enzym: Enzym là những chất xúc tác sinh học bản chất là prôtêin do cơ thể sống sinh ra nhờ đó mà các phản ứng hóa học trong cơ thể sống xảy ra với tốc độ rất nhanh trong điều kiện sinh lý bình thường: nhiệt độ, áp suất không cao, pH môi trường gần như trung tính. Có những enzym chỉ là những prôtêin đơn thuần nhưng cũng có những enzym có thành phần cấu tạo gồm có 1 thành phần là prôtêin đơn thuần (Apoenzym) và một thành phần là chất hữu cơ đặc biệt (chất cộng tác cofactor hay coenzym). Ngoài ra còn cần đến sự có mặt của các ion kim loại trong cấu trúc của enzyme, là thành phần để liên kết enzym và cơ chất, liên kết apoenzym và coenzym. Vị trí diễn ra phản ứng của enzym là trung tâm hoạt động có tính chất đặc hiệu đối với từng cơ chất cấu trức và hoạt tính của enzym chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác như: nhiệt độ, pH muối kim loại nặng, chất hoạt hóa và ức chế hay các dung môi hữu cơ như rượu, axeton... Mỗi một cơ chất enzym có một Km xác định, đây chính là hằng số Michailis-Menten: là nồng độ của cơ chất (mol/lit) đủ làm cho tốc độ phản ứng enzym đạt tới một nửa tốc độ cực đại (Vmax). Km thể hiện ái lực của enzym tới cơ chất Km càng nhỏ thì ái lực càng lớn và ngược lại. Có 6 loại enzym: enzym oxy hoá -khử (oxidoreductase), enzym vận chuyển nhóm (Transferase), enzym thuỷ phân (Hydrolase), enzym phân cắt (lyase), enzym chuyển đồng phân (Isomerase), enzym tổng hợp (Ligase). G6PD là enzym oxy hoá khử. Những điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động của G6PD: + Nhiệt độ: enzym bắt đầu biến tính nhẹ từ 40C, đến 60C thì hoạt tính của enzym còn lại không đáng kể. + Độ pH: pH kiềm nhẹ sẽ làm cho nồng độ dạng dimer nhiêù và enzym sẽ hoạt động tốt nhất, bởi vậy có mặt một lượng nhỏ NaHCO3 sẽ giúp enzym phản ứng tốt hơn. pH tối ưu của G6PD là 8,0 [2] + Nồng độ của của các chất nội bào như cơ chất, cofactor, chất tạo thành: tuân theo quy luật của các phản ứng hoá học khác. Sự trùng hợp của enzym từ dạng monomer sang dạng dimer và các cấu trúc bậc cao hơn cần có sự có mặt của NAPD+, chất vừa là cơ chất vừa là cofator. Mỗi dimer có 2 vị trí gắn NADP+, đó là NADP+ xúc tác, gắn lỏng lẻo và dễ dàng bị khử thành NADPH, còn lại là NAPD+ chức năng gắn chặt chẽ hơn cần thiết để duy trì cấu trúc hoạt động của enzym. +Khi ở ngoài cơ thể thì để đảm bảo cho enzym hoạt động được tốt thì vấn đề bảo quản là hết sức quan trọng G6PD là một enzym mất nhạy cảm, không bền vững, nhưng nếu hồng cầu được rửa và bảo quản nguyên vẹn trong dung dịch NaCl 0,9% ở nhiệt dộ lạnh (40C) ngay sau 24h thì hoạt độ enzym chưa bị thay đổi. Trái lại chỉ bảo quản theo tiêu chuẩn máu thì sau 24h sẽ giảm 17% hoạt tính. +Ion Mg2+ là ion đặc hiệu cho hồng cầu người, với nồng độ 0,01 mol/l thì hoạt độ enzym là 100%[2], theo nghiên cứu thì ion kim loại này đóng vai trò tạo phức hợp giữa enzym và cơ chất. 1.5 Cơ sở di truyền học của G6PD Gen quy định cấu trúc của G6PD nằm trên nhánh dài, locus q28 của nhiễm sắc thể X (vùng 2, băng 8) không có alen tương ứng trên Y. Vùng 2 là vùng mang thông tin di truyền mã hóa khá nhiều tính trạng khác như: nhìn màu, hemophilia A. Gen G6PD gồm có 13 exon và 12 intron. Dài khoảng 18,5 kilobases. Chức năng của từng exon khác nhau, và kích thước của các exon mã hóa thay đổi rất nhiều từ 38 - 236 bp. Trong đó exon 1 không mã hoá [12], exon 6 mã hoá sản phẩm là nơi gắn cơ chất G6P [6]. mARN G6PD gồm 2269 ribonucleotid, m RNA của G6PD có một đoạn đầu 3' không mã hóa dài 655 bp và đoạn đầu 5' không mã hóa dài 69 bp. Gen G6PD có sự điều hòa và kiểm soát chặt chẽ. Vùng promotor của G6PD kéo dài khoảng 300 nucleotid giầu GC và nhiều GC không bị methyl hóa. 2. Bệnh lý thiếu hụt G6PD. 2.1.Cơ chế bệnh sinh và cơ sở di truyền học: 2.1.1. Cơ chế bệnh sinh : Giảm G6PD sẽ giảm lượng Glutathione dạng khử không đủ để khử HbHOtạo thành Met Hemoglobin và Choleglobin do đó Hemoglobin bị biến tính và kết tủa thành thể Heinz [2][9]. Cơ chất tạo ra là NADPH còn có tác dụng bảo vệ nhóm -SH (nhóm chức năng hoạt động) của enzym phosphoglyceral-dehydrogenase, đây là 1 enzym quan trọng trong chuỗi phản ứng xúc tác NAD+ thành NADH (một chất khử quan trọng chống lại sự ôxy hóa của hồng cầu [2]). Ngoài ra giảm NADPH dẫn đến hồng cầu phải sử dụng nhiều NADHlàm giảm lượng ATP cần thiết và lượng Na+ trong tế bào bị ứ đọng, nước vào trong hồng cầu nhiều cộng với sự bền vững của màng hồng cầu bị yếu dẫn đến hồng cầu bị hủy hoại. 2.1.2 Bệnh lý gen học của thiếu hụt G6PD: Giảm G6PD là bệnh di truyền gen hoặc nằm trên nhiễm sắc thể X không alen tương ứng trên Y do vậy tỷ lệ bị bệnh gặp ở nam giới là nhiều hơn và thường nặng hơn. Nam giới XY: giả sử a là gen quy định tính trạng giảm G6PD sẽ có kiểu gen là XaY: ở nam giới chỉ cần người alen a ở X là có biểu hiện bị bệnh. Nữ giới XX: có 3 dạng XA XA: bình thường. XAXa: có thể bình thường hoặc thiếu hụt G6PD từ nhẹ đến trung bình, hiếm khi thiếu hụt nặng (trừ phi ở vùng trung tâm hoạt động). Nguyên nhân là do sự bất hoạt nhiễm sắc thể từ trong bào thai, trong quá trình phát triển của phôi tạo ra thể khảm giữa dòng tế bào lành và dòng tế bào bệnh, tỷ lệ giữa 2 loại tế bào này thay đổi rất lớn: tế bào giảm G6PD chiếm từ 1% -> 90%. XaXa: biểu hiện kiểu hình thiếu nặng nhưng tần suất gặp kiểu gen này rất nhỏ. Gen cấu trúc đột biến sẽ bây biến đổi về mặt chất lượng ngược lại gen điều hòa bị đột biến gây thiếu G6PD về mặt số lượng, nhưng biến đổi ở intron không gây biến đổi cấu trúc và sản lượng G6PD. Hoạt tính G6PD phụ thuộc vào cả chất lượng và số lượng. Ngày nay đã phát hiện được hơn 140 dạng đột biến khác nhau đại diện cho 442 biến thể khác nhau có tính chất đặc hiệu và phân biệt bằng các chỉ số sinh hóa. Do 1 axit amin có thể được quy định bởi người bộ ba nên có khi 2 biến đổi khác nhau trên AND chỉ gây nên một loại đột biến. Ví dụ như: - Dạng đột biến Aaches: đột biến nucleotid 1089C -> G - Dạng đột biến Loma Linda: 1089C -> A hai loại này đều làm thay đổi acid amin 363 Asn -> Lys. Dựa vào hoạt độ của enzym trong hồng cầu và những bệnh nhân lâm sàng của chúng, WHO đã chia các biến thể của thiếu hụt G6PD ra làm 4 lớp: + Lớp 1: thiếu enzym nặng với biểu hiện thiếu máu tan máu, hồng cầu hình không trò người mạn tính. + Lớp 2: Thiếu G6PD nặng (hoạt độ enzym < 10% so với bình thường + Lớp 3: Thiếu G6PD vừa đến nhẹ. (Hoạt độ từ 10 - 60% so với bình thường). + Lớp 4: thiếu rất nhẹ hoặc không thiếu G6PD (60 - 100%). Tuy vậy nhưng sự phân biệt này là không rõ ràng giữa các phân lớp. Lớp 1, lớp 2 là gây nguy hiểm nhất vì thường có tan máu cấp diễn. Hiện nay ở Việt Nam đã tìm thấy được các dạng đột biến khác nhau, trong đó có một dạng không làm ảnh hưởng đến sự mã hóa acid amin trong cấu trúc G6PD đó là dạng Silent tồn tại dạng còn lại đều là những dạng hay gặp ở các dân tộc châu Á. Dạng Silent xuất hiện là do đột biến thay nucleotid C thành nucleotid T dẫn đến bộ ba mã hoá TAC chuyển thành TAT vẫn mã hoá acid amin Tyrosin, đây cũng chính là một ví dụ cụ thể biểu thị tính bảo thủ của thông tin di truyền. Bảng 1: Một số dạng đột biến G6PD gặp ở Châu Á STT  Dạng đột biến  Vị trí biến đổi  Acid amin tương ứng     Exon  Nucleocid    1  Gaoha  2  95A - G  32 His -> Arg   2  Viangchan  9  871G -> A  291 Val -> Met   3  Chatham  9  1003G -> A  335 Sla -> Thr   4  Chinese - 5  9  1024 C -> T  342 leu - > Phe   5  Union  11  1360 -> T  454 Arg -> Cys   6  Canton  12  1376 G -> C  459 Arg -> Leu   7  Kaiping  12  1388 G -> A  463 Arg -> His   8  Silent  11  1311 C -> T  TAC -> ATA -> Tyrosil   2.2. Dịch tế học. Năm 1996 Blood Ernest Beutler đã phát hiện có 400 triệu người thiếu máu G6PG gặp ở tất cả các dân tộc. Việt Nam nằm trong vùng có tỉ lệ thiếu hụt G6PD khác nhau tùy từng vùng và tùy từng dân tộc. Theo nghiên cứu của tác giả Đoàn Hạnh Nhân thiếu G6PD hồng cầu, có tỉ lệ cao tại một số vùng Sốt Rét Kim Bôi (34,1%), Mai Châu (20,4%), Như Xuân (19,7%), tỷ lệ thiếu lại thường thấp ở nơi không có lưu hành bệnh sốt rét. ở dân tộc Mường (tỉ lệ cao nhất 31%) tiếp đến là dân tộc Thổ (19,3% dân tộc Thổ, dân tộc Thái 19,3%) rất thấp ở dân tộc kinh 0,5%.  Hình 5: phân bố thiếu hụt G6PD trên thế giới 2.3. Biểu hiện lâm sàng Thường biểu hiện khi tiếp xúc với chất oxi hóa đó là những cơn tan máu. Primaquine là một loại thuốc có tính o xi hoá cao nhưng rất hay được sử dụng trong điều trị sốt rét vì đây là thuốc duy nhất được sử dụng để diệt thể ẩn trong gan với bệnh nhân nhiễm P.vivax và thể giao bào với bệnh nhân nhiễm P.falciparum [6]. Tùy thuộc vào dạng thiếu hụt G6PD tùy vào tính chất hay nồng độ của tính chất hay nồng độ của các chất oxi hóa sẽ dần dần tan máu nhiều hay ít từ đó dần đến bệnh thiếu hụt nặng hay nhẹ. 2.3.1. Vàng da sơ sinh. Vàng da sơ sinh là một triệu chứng của nhiều nguyên nhân khác nhau, là do trong máu có sự gia tăng chất bilirubin, một sán phẩm dị hoá của hemoglobin.Vàng da xuất hiện khi định lượng bilirubin trong máu ở người lớn là >2mg%, trẻ em là >7mg%[8]. Dị hoá Hb ở hệ liên võng nội mô (75%) và từ nguồn khác(25%) Hemoxygen Hệ liên võng nội mô Biliverdin Bilirubin+albumin (máu) Bilirubin+ligandin (gan) Glucuronyl transferase Bilirubin glucuronid (trực tiếp) Bài tiết xuống ruột Stercobiline, urobilinogen Hình 6: Sơ đồ chuyển hoá của bilirubin. Vàng da sơ sinh có hai loại là sinh lý và bệnh lý. Vàng da sinh lý thường diễn ra trong ba ngày đầu và kết thúc tối đa là 10 ngày, mức độ vàng da nhẹ, hiện tưọng này là do sự suy giảm nhất thời chức năng chuyển hoá bilirubin của gan do tăng quá trình táI hấp thu bilirubin tại ruột, tăng thấm vào tổ chức. Trong khi đó chất này được sản sinh hàng ngày ở giai đoạn sơ sinh nếu tính trên cân nặng lớn gấp đôi người lớn.Vàng da bệnh lý thấy xuất hiện khi nồng độ bilirubin trong máu cao hơn 20mg/dl. Hậu quả nghiêm trọng của bệnh lý này là vàng nhân não. Trẻ sơ sinh sẽ có biểu hiện là những cơn tăng trương lực cơ, xoắn văn, mất các phản xạ sơ sinh, ngừng thở tím tái và rất dễ tử vong. Nếu trẻ qua khỏi thì sẽ để lại những di chứng nặng nề như rối loạn ngoại tháp (múa vờn, múa giật, rối loạn ngôn ngữ…) hoặc bất thường thính lực, thị giác và thiểu sản phát triển răng. Vàng da nhân não ảnh hưởng đến khả năng phát triển tinh thần và vận động của trẻ. Việc phát hiện ra bệnh lý này không khó và việc đIệu trị có kết quả rất nhanh chóng và dễ dàng bằng phương pháp chiếu đèn, thuốc làm giảm nồng độ bilirubin trong máu và hiệu quả nhất là phương pháp chiếu đèn. Nhưng nếu để lâu, Bilirubin đã ngấm và các nhân xám của não thì sẽ để lại hậu quả nặng nề không thể hồi phục lại được do tổn thương các tế bào thần kinh như đã nêu trên.