Quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt thực trạng và triển vọng

Kể từ khi tiến hành đổi mới đến nay, Đảng ta luôn khẳng định chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá về mọi mặt chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội trên tinh thần hợp tác, phát triển bình đẳng cùng có lợi với tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Trong đó chúng ta luôn coi trọng các quốc gia có mối quan hệ truyền thống lâu đời. Trong những nước có mối quan hệ hữu hảo với Việt Nam, phải kể đến Cộng hoà Pháp. Là một nước lớn trong liên minh Châu Âu với số dân hơn 60 triệu người, Pháp là một thị trường lớn, có sức hấp dẫn cao đối với không chỉ nền kinh tế Việt Nam. Ngược lại Việt Nam là một trong số những nước đang phát triển có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất nhì thế giới, dân số lại khá đông nên nhu cầu về hàng hoá của Pháp về tiêu dùng và phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là rất cao. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta đến nay (1973), kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai quốc gia ngày càng gia tăng. Cụ thể là kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Pháp là 677 triệu FRF (năm 1990) đến nay kim ngạch ngoại thương hai chiều giữa Việt Nam và Cộng hoà Pháp là 737,8 triệu USD (năm 2002). Trải qua 30 năm quan hệ ngoại giao, hiện nay có thể nói quan hệ về chính trị, văn hoá và nhiều mặt khác với Pháp là một trong những mối quan hệ tốt đẹp nhất của Việt Nam. Tuy nhiên quan hệ về kinh tế giữa hai quốc gia vẫn chưa thật tương xứng với tiềm năng của cả hai nước. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đang cố gắng tìm nhiều biện pháp để có thể thúc đẩy mối quan hệ thương mại - đầu tư giữa hai nước lên tầm cao mới. Chính vì lí do đó mà em đã lựa chọn đề tài: “Quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt: thực trạng và triển vọng” để viết Khoá luận tốt nghiệp trường Đại học Ngoại thương của mình. Nội dung Khoá luận bao gồm các chương sau: Chương 1: Khái quát về quan hệ Pháp – Việt Chương 2: Quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt Chương 3: Các giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt Với một thời gian không dài và việc thu thập tài liệu còn gặp nhiều hạn chế nên Khoá Luận Tốt Nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên để Khoá Luận được hoàn thiện hơn.

doc89 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 15/12/2012 | Lượt xem: 1735 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt thực trạng và triển vọng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG ===========  khóa luận tốt nghiệp Đề tài: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ PHÁP – VIỆT THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG Giáo viên hướng dẫn : Vũ Thị Hiền Sinh viên thực hiện : Hoàng Cẩm Vân Lớp : Pháp 1 – K38E Hà Nội - 2003     Mục lục                           LỜI NÓI ĐẦU       1             CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ PHÁP - VIỆT  3   I. Khái quát về nước Pháp      3   1. Về vị trí địa lý và dân số      3   2. Về chế độ chính trị       3   3. Về tiềm lực kinh tế       7   II. Sự cần thiết của việc phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt  11   1. Về phía Pháp       11   2. Về phía Việt Nam       12   III. Quá trình phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt   13   1. Giai đoạn trước năm 1973      13   2. Giai đoạn từ năm 1973 tới nay     15   IV. Năm lĩnh vực hợp tác cần được chú trọng trong việc phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt  21             CHƠNG 2: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ  25   PHÁP - VIỆT          I. Thuận lợi và khó khăn của quan hệ thương mại và đầu tư  25   Pháp - Việt          1. Thuận lợi        25   2. Khó khăn        30   II. Thực trạng của quan hệ thương mại Pháp - Việt   32   1. Kim ngạch buôn bán hai chiều     32   2. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang  34   Pháp           3. Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu từ Pháp    40   III. Quan hệ đầu tư trực tiếp Pháp - Việt     44   1. Hình thức đầu tư       45   2. Lĩnh vực đầu tư       46   3. Quy mô đầu tư       49   4. Phân bổ các dự án đầu tư theo địa bàn     50   IV. Viện trợ phát triển chính thức của Pháp cho Việt Nam  53   1. Các hình thức viện trợ phát triển chính thức    55   2. Tình hình viện trợ phát triển chính thức của Pháp cho Việt Nam  55   V. Đánh giá chung về quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt  58   1. Thành tựu đạt được       58   1.1 Về thương mại       58   1.2 Về đầu tư        60   2. Hạn chế và nguyên nhân      61             CHƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUAN  63   HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ PHÁP - VIỆT     I. Triển vọng quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt   63   1. Định hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư Pháp -  63   Việt           2. Dự báo triển vọng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư  64   Pháp - Việt          II. Những giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và  66   đầu tư Pháp - Việt         1. Những giải pháp mang tính vĩ mô     66   1.1 Thúc đẩy quan hệ chính trị      66   1.2 Có chính sách hỗ trợ hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp  67   1.3 Có chính sách thu hút mạnh mẽ hơn nữa và nâng cao hiệu quả  68   sử dụng vốn FDI         1.4 Có chính sách thu hút mạnh mẽ hơn nữa và nâng cao hiệu quả  71   sử dụng nguồn vốn ODA        2. Những giải pháp mang tính vi mô     72   2.1 Các doanh nghiệp nên đẩy mạnh xúc tiến bán hàng sang thị  72   trường Pháp          2.2 Nâng cao hiệu quả hàng nhập khẩu từ Pháp    73   2.3 Đào tạo bồi dưỡng cán bộ      74   2.4 Quan hệ hợp tác chặt chẽ với Phòng thương mại và công  75   nghiệp Pháp tại Việt Nam                  KẾT LUẬN        77   Lời nói đầu Kể từ khi tiến hành đổi mới đến nay, Đảng ta luôn khẳng định chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá về mọi mặt chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội trên tinh thần hợp tác, phát triển bình đẳng cùng có lợi với tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Trong đó chúng ta luôn coi trọng các quốc gia có mối quan hệ truyền thống lâu đời. Trong những nước có mối quan hệ hữu hảo với Việt Nam, phải kể đến Cộng hoà Pháp. Là một nước lớn trong liên minh Châu Âu với số dân hơn 60 triệu người, Pháp là một thị trường lớn, có sức hấp dẫn cao đối với không chỉ nền kinh tế Việt Nam. Ngược lại Việt Nam là một trong số những nước đang phát triển có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất nhì thế giới, dân số lại khá đông nên nhu cầu về hàng hoá của Pháp về tiêu dùng và phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là rất cao. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta đến nay (1973), kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai quốc gia ngày càng gia tăng. Cụ thể là kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Pháp là 677 triệu FRF (năm 1990) đến nay kim ngạch ngoại thương hai chiều giữa Việt Nam và Cộng hoà Pháp là 737,8 triệu USD (năm 2002). Trải qua 30 năm quan hệ ngoại giao, hiện nay có thể nói quan hệ về chính trị, văn hoá và nhiều mặt khác với Pháp là một trong những mối quan hệ tốt đẹp nhất của Việt Nam. Tuy nhiên quan hệ về kinh tế giữa hai quốc gia vẫn chưa thật tương xứng với tiềm năng của cả hai nước. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đang cố gắng tìm nhiều biện pháp để có thể thúc đẩy mối quan hệ thương mại - đầu tư giữa hai nước lên tầm cao mới. Chính vì lí do đó mà em đã lựa chọn đề tài: “Quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt: thực trạng và triển vọng” để viết Khoá luận tốt nghiệp trường Đại học Ngoại thương của mình. Nội dung Khoá luận bao gồm các chương sau: Chương 1: Khái quát về quan hệ Pháp – Việt Chương 2: Quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt Chương 3: Các giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư Pháp – Việt Với một thời gian không dài và việc thu thập tài liệu còn gặp nhiều hạn chế nên Khoá Luận Tốt Nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên để Khoá Luận được hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Vũ Thị Hiền, Giáo viên khoa Kinh tế ngoại thương, người đã trực tiếp và nhiệt tình hướng dẫn em viết Khoá luận tốt nghiệp này. Hà Nội, tháng 11 năm 2003 Sinh viên Hoàng Cẩm Vân Chương 1: Khái quát về quan hệ Pháp-Việt I. KHÁI QUÁT VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ PHÁP 1. Vị trí địa lý, dân số Nước Pháp nằm ở phía Tây Châu Âu với diện tích là 551.965 km², thủ đô là Paris. Pháp là đất nước rộng lớn nhất Tây Âu (chiếm gần 20% diện tích của liên minh Châu Âu) có vùng biển rộng lớn (vùng đặc quyền kinh tế trải rộng trên 11 triệu km²). Diện tích đồng bằng chiếm hai phần ba tổng diện tích. Dân số nước Pháp là 60 triệu người, trong đó có khoảng gần 30 triệu người ở độ tuổi lao động. Mật độ dân số là 105 người/km², mức thấp nhất liên minh Châu Âu (EU). 2. Về Chế độ Chính trị Nhà nước Pháp theo chế độ cộng hoà tư sản. Hiến pháp ngày 4 tháng 10 năm 1958 điều chỉnh sự vận hành của các thể chế của nền Cộng Hoà thứ năm. Hiến pháp đã được sửa đổi nhiều lần: bầu cử Tổng Thống Cộng Hoà theo phương thức phổ thông đầu phiếu trực tiếp (1962), đưa thêm một mục mới liên quan đến trách nhiệm hình sự của các thành viên Chính Phủ (1993), thiết lập kỳ họp duy nhất ở Nghị Viện và mở rộng quy mô trưng cầu dân ý (1995), rút ngắn nhiệm kỳ Tổng Thống từ 7 năm xuống 5 năm (2000). Theo Hiến pháp năm 1958, người đứng đầu Nhà nước là trụ cột cho các thể chế. Đó là người đảm bảo để các thể chế vận hành tốt. Là người đứng đầu quân đội, chịu trách nhiệm cho độc lập dân tộc, Tổng Thống có một số quyền đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng. Tổng Thống có thể đưa ra trưng cầu dân ý một số dự thảo luật và giải tán Quốc Hội. Trên thực tế, Tổng Thống có một vai trò hàng đầu trong việc xác định các phương hướng của chính sách đối ngoại. Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng, cũng như các thành viên của Chính Phủ theo đề nghị của Thủ Tưóng, và chủ trì Hội Đồng Bộ Trưởng. Thủ Tướng Chính Phủ, người chịu trách nhiệm về quốc phòng và có nhiệm vụ thực thi các đạo luật, lãnh đạo hoạt động của Chính Phủ. Chính Phủ xác định và thi hành chính sách quốc gia. Chính Phủ có bộ máy hành chính và lực lượng vũ trang. Chính Phủ chịu trách nhiệm trước Nghị Viện. Người đứng đầu Nhà nước được nhân dân Pháp bầu trực tiếp. Người đứng đầu Chính Phủ được bầu theo hình thức đa số tại Nghị Viện. Trong trường hợp cùng chung sống, Tổng Thống và Thủ Tướng được bầu theo các hình thức đa số khác nhau. Với một Nghị Viện có hai Viện, Pháp có một hệ thống lưỡng viện đóng một vai trò chính trong sự vận hành dân chủ. Thật vậy, thông qua hai viện, những khác biệt về chính trị và tranh luận ý kiến được diễn ra một cách rộng rãi. Quốc hội được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu trực tiếp, đơn danh quá bán hai vòng, cho nhiệm kỳ 5 năm. Thượng Viện được bầu cho nhiệm kỳ 9 năm, theo hình thức phổ thông đầu phiếu gián tiếp và không thể bị giải tán như Quốc Hội. Cứ ba năm thì có một phần ba các Thượng Nghị Sĩ được bầu lại. Kỳ bầu cử gần đây nhất là vào tháng 9 năm 2001. Hội Đồng Hiến Pháp: cơ quan này là một trong những phát kiến lớn của nền Cộng Hoà thứ V. Hội đồng hiến pháp gồm chín thành viên, được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ chín năm và không thể được tái bổ nhiệm. Ba thành viên, trong đó có Chủ Tịch Hội đồng do Tổng Thống bổ nhiệm, trong đó sáu thành viên còn lại, ba thành viên do Chủ Tịch Quốc Hội bổ nhiệm và ba thành viên do Chủ Tịch Thượng Viện bổ nhiệm. Khởi đầu với chức năng đảm trách theo dõi việc phân chia quyền lực giữa Nghị Viện và Chính Phủ, vai trò của Hội đồng hiến pháp ngày càng tăng lên. Hội đồng hiến pháp ngày càng tăng cường kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, trở thành cơ quan bảo vệ các quyền tự do cơ bản. Mặt khác, Hiến pháp nhiều lần được sửa đổi để phù hợp hơn với những đòi hỏi mới của Nhà nước pháp quyền và những vấn đề bức thiết của Châu Âu. Được xây dựng dựa trên những nguyên tắc của nền Cộng Hoà, chính sách đối ngoại của Pháp nhằm hai mục đích là gìn giữ độc lập quốc gia đồng thời phấn đấu vì sự phát triển của tình đoàn kết khu vực và quốc tế. Pháp, một cường quốc thứ tư trên thế giới luôn muốn xây dựng và cải cách Châu Âu. Châu Âu luôn là trung tâm trong chính sách đối ngoại của Pháp. Tướng De Gaulle, các Tổng Thống Pompidou, Giscard d’Estaing, F.Mitterrand và J.Chirac đã không ngừng phấn đấu cho việc xây dựng và phát triển liên minh Châu Âu để biến tổ chức này thành một cường quốc kinh tế và một cơ cấu chính trị được tôn trọng. Mười lăm nước thành viên Liên minh Châu Âu tập hợp 380 triệu dân. Khối này sánh ngang với lục địa Bắc Mỹ về kinh tế và nhân lực và là một trong những khu vực kinh tế quan trọng nhất của thế giới. Liên minh Châu Âu có đồng tiền của riêng mình là đồng Euro, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 ở mười hai nước (Đức, Áo, Bỉ, Tây Ban Nha, Phần Lan, Pháp, Hy Lạp, Ai len, Ý, Luxembourg, Hà Lan và Bồ Đào Nha): là sự cụ thể hoá của Liên minh tiền tệ, đồng tiền quốc tế mới này đang phải đương đầu với những thử thách của quá trình toàn cầu hoá. Liên minh 15 nước Châu Âu cũng cần phải tăng cường bản sắc chính trị và chuẩn bị cho sự mở rộng của liên minh đối với nhiều Nhà nước ứng cử viên. Nghiên cứu về tương lai của Châu Âu và về những cải cách về mặt thể chế được trao cho một uỷ ban do cựu Tổng Thống Cộng Hoà Pháp Valery Giscard d’Estaing làm Chủ Tịch. Về đảm bảo an ninh quốc tế và đấu tranh chống khủng bố: những năm chiến tranh lạnh cũng như thời kỳ bất ổn kế tiếp sau đó đã đặt lên vai nước Pháp và các quốc gia dân chủ khác những trọng trách lớn. Tham gia vào khối liên minh Bắc Đại Tây Dương (OTAN), Pháp cũng là thành viên của tổ chức Hợp tác và An ninh Châu Âu (OSCE) và Quân đội Châu Âu. Ngoài ra, là một trong năm cường quốc hạt nhân, Pháp đảm bảo việc duy trì và đưa đường lối răn đe của mình phù hợp với những thực tế chiến lược mới, đồng thời nỗ lực phấn đấu cho việc cấm hoàn toàn các vụ thử hạt nhân. Mặt khác, sau thảm họa ngày 11 tháng 9 tại Mỹ, nước Pháp đã khẳng định tình đoàn kết của mình trong cuộc chiến chống khủng bố quốc tế. Pháp đã tham gia vào các chiến dịch gìn giữ hoà bình chống lại tổ chức Al Qaeda do lực lượng quốc tế trợ giúp an ninh (ISAF) tiến hành tại Afghanistan. Trên trường quốc tế, chính sách đối ngoại của Pháp là tôn trọng các nguyên tắc và mục tiêu của tổ chức Liên Hiệp Quốc, vốn như hình thức phản ánh các lý tưởng Cộng Hoà. Chính vì vậy từ năm 1945, nước Pháp không ngừng bảo vệ tổ chức này với khoản đóng góp tài chính đứng hàng thứ 4. Pháp là một trong số năm thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, cơ quan quyền lực cao nhất của Liên Hiệp Quốc. Ngày nay các công cụ của chính sách hợp tác của Pháp đã được thay đổi để thích nghi với những mục tiêu mới. Hoạt động chủ yếu của các dự án và chương trình viện trợ cho phát triển được giao cho Cơ quan phát triển Pháp (AFD), cơ quan tài chính đóng vai trò điều phối chủ chốt. Tổng số tiền viện trợ công cộng của Pháp cho phát triển lên tới 4,6 tỉ Euro trong năm 2001, chiếm 0,32% tổng sản phẩm quốc nội (đứng đầu trong số các nước G8 trong lĩnh vực này). Chính sách hợp tác của Pháp cũng nhằm vào việc tăng cường các hoạt động văn hoá và gia tăng các dự án song phương về khoa học kỹ thuật. Sự hiện diện của nước Pháp được thể hiện qua đông đảo các trung tâm và học viện văn hoá, các trường trung học và trường học theo chương trình Pháp (150.000 học sinh) và qua Alliance Française, có mặt ở trên 140 nước (hơn 1200 văn phòng). Hợp tác khoa học kỹ thuật cũng rất tích cực. Các tổ chức như Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa học Quốc Gia (CNRS), Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc Gia (INSERM) hay Viện Nghiên cứu Nông nghiệp thực phẩm Quốc gia (INRA) hoạt động tại nhiều nước. Khi dành một vị trí đặc biệt cho hoạt động nhân đạo trong chính sách đối ngoại, nước Pháp thể hiện mong muốn được tiếp tục ở cấp độ cao nhất những giá trị mà Pháp đã là nước đi tiên phong. Các tổ chức Phi Chính Phủ của Pháp (ONG) hoạt động thường xuyên tại những nơi xảy ra thiên tai và trong các cuộc xung đột vũ trang. Trong số đó, có các tổ chức Bác sỹ không biên giới (MSF), Bác sỹ thế giới (MDM), Dược sỹ không biên giới (PSF), Hoạt động Quốc tế chống lại nạn đói (AICF). Về tiềm lực kinh tế Pháp là nước có nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhất châu Âu. Năm 2003, tăng trưởng kinh tế của Pháp đã dần lấy lại được nhịp độ tăng trưởng (khoảng 2%) so với 1,2% của năm 2002. Mặc dù kinh tế có sự giảm sút, chủ yếu do sự suy giảm của môi trường quốc tế (tác động của các cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001) và do nhu cầu giảm đi của các doanh nghiệp, Pháp vẫn là nước có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cao hơn mức trung bình của khu vực đồng Euro và của liên minh Châu Âu cụ thể là GDP của Pháp năm 2001 là 20.635 USD/người và năm 2002 đã tăng lên đạt 22.690 USD/người. Tuy trong bối cảnh nền kinh tế không được phát triển như trước nhưng tiêu dùng của các hộ gia đình Pháp vẫn thể hiện những khả năng giữ vững mạnh mẽ so với toàn bộ các nước trong khu vực đồng Euro và là động lực chính của tăng trưởng kinh tế Pháp. Nhìn chung, sức tiêu thụ vẫn giữ tốc độ tăng trưởng như năm vào khoảng +2,9%/năm. Cụ thể là các chi tiêu tiêu dùng các sản phẩm chế biến và dịch vụ vẫn năng động với mức gia tăng 3,1% và 3,3%/năm. Ngoài ra, việc giảm và bình ổn giá dầu lửa và các sản phẩm chế biến của nước ngoài đã đóng góp vào việc kiềm chế lạm phát. Việc chuyển sang sử dụng đồng tiền Euro vào tháng một năm 2002 chỉ có tác dụng không đáng kể tới việc gia tăng giá cả (+0,1%). Tóm lại, Pháp là nước có tất nhiều tiềm lực để duy trì sự ổn định và phát triển của nền kinh tế đồng thời còn có khả năng thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh hơn nữa nhờ vào các thành phần kinh tế trong nước vốn đã rất phát triển, cộng thêm một yếu tố căn bản để phát triển kinh tế đó là yếu tố con người. Pháp là nước có nguồn nhân lực có trình độ cao kết hợp với trình độ công nghệ phát triển, nguồn chất xám từ các nước Châu Á chảy vào, lại có thêm chính sách các thành phần kinh tế của Nhà nước chúng ta có thể thấy rằng Pháp có rất nhiều điều kiện để phát triển nền kinh tế. Một số ngành chủ đạo trong nền kinh tế Pháp: Nước Pháp sở hữu 13 trong số một trăm doanh nghiệp đa quốc gia lớn nhất. Những năm gần đây, lĩnh vực dịch vụ trở thành hướng đầu tư trực tiếp chủ yếu của Pháp ra nước ngoài. Thống kê cho thấy có khoảng 19.177 chi nhánh doanh nghiệp Pháp ở nước ngoài, trong số đó 52% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và 48% trong các lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Liên minh Châu Âu là đối tác đứng đầu, sau đó là Bắc Mỹ trong số các đối tác chính của doanh nghiệp Pháp. Tổng đầu tư của Pháp ở nước ngoài so với GDP tương đương với số tiền đầu tư Pháp tiếp nhận, vào khoảng 19%. Con số này khiến Pháp vượt lên trên Đức (15%), Nhật Bản (7%), nhưng đứng sau Mỹ (25%) và Anh (36%). Ngành xe hơi và vận tải với số lượng xe hơi bán ra tại thị trường nội địa cũng như xuất khẩu đã tăng lên đáng kể. Xe hơi của Pháp thâm nhập mạnh thị trường Châu Âu. Hiện nay xu thế chung trên thế giới là các hãng sản xuất ô tô sát nhập lại với nhau để tạo thành các tập đoàn khổng lồ và tháng 3 năm 1999, Renault đã nắm quyền kiểm soát Nissan-Nhật chiếm 9,1% thị phần đứng hàng thứ 4 thế giới sau GM-Isuzu-Forel, Volvo-Mazda, Toyota-Daihatsu. Công nghiệp hàng không vũ trụ của Pháp đứng vào hàng thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Anh. Hiện nay ba đặc trưng lớn của ngành này là có nhiều triển vọng đối với việc sản xuất máy bay dân dụng, cạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành vũ trụ và khó khăn trong việc sản xuất, tiêu thụ máy bay quân sự. Về lĩnh vực vận tải hàng không và đường bộ, đã có một số công ty của Pháp có mặt tại Việt Nam như: Air France (vận tải hành khách và hàng hoá theo đường hàng không), Cica (vận tải đường bộ), Graveleau (vận tải), SDV Vietnam, Cargoteam. Chúng ta có thể thấy rằng đối với ngành này, Pháp có rất nhiều triển vọng để phát triển như sự phát triển của công nghệ, đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề và quan trọng hơn cả là thị trường để phát triển. Ngành công nghiệp điện tử viễn thông: hai động lực chính thúc đẩy ngành này của Pháp là Quốc Phòng và thị trường công cộng về viễn thông. Công nghiệp điện tử và viễn thông Pháp có những tập đoàn lớn như SCS-Thomson, Bull, Alcatel, Alstom. Các công ty điện tử viễn thông của Pháp đã có mặt tại Việt Nam là FCR Vietnam, EDF, Schneider Electric, Thales International Asia Holding. Ngành hoá dược của Pháp có uy tín và sức mạnh truyền thống, đứng hàng thứ tư trên thế giới. Các tập đoàn lớn trong ngành dược của Pháp là Roussel-Uclaf, Sanofi, Rhône-Poulenc. Các tập đoàn này hiện cũng đã có mặt tại Việt Nam : Aventis Pharma, Bio-Rad Laboratoires, Pierre Fabre, Sanofi Synthelabo, Sanpromex, Servier Vietnam. Lĩnh vực thực phẩm của Pháp rất phát triển với các mặt hàng chủ yếu là ngũ cốc, các sản phẩm sữa, thịt gia súc do có được những điều kiện thuận lợi trong nuôi trồng cũng như sản xuất. Bên cạnh đó, rượu vang và sâm banh cũng là thế mạnh của Pháp. Có mặt tại Việt Nam là các công ty như Aqua Service Vietnam, Groupe Bourbon, La Vie Joint Venture Company, Tobaccor. Ngành da giầy và dệt may là ngành gặp nhiều khó khăn do hàng Châu Á tràn ngập, doanh số không tăng và các xí nghiệp phải chuyển sản xuất ra nước ngoài. Một nguyên nhân nữa giải thích tại sao ngành da giầy và dệt may ngày càng thu hẹp hoạt động là do khó khăn về đời sống, người Pháp có khuynh hướng mua quần áo và giầy dép rẻ tiền và tận dụng đồ đã có sẵn. Một số tập công ty của Pháp về lĩnh vực này
Luận văn liên quan