Sức Mạnh Tài Chính

MỤC LỤC 1. Tài chính – mạch máu của nền kinh tế5 1.1 Sự ra đời và phát triển của tài chính5 1.2 Bản chất của tài chính6 1.2.1 Những quan hệ kinh tế trong phân phối6 1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của tài chính8 1.2.3 Các quan hệ tài chính8 1.3 Chức năng của tài chính10 1.3.1 Chức năng phân phối10 1.3.2 Chức năng giám đốc12 1.3.3 Chức năng tạo lập vốn13 2. Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường15 2.1. Khái niệm15 2.2.Vai trò của Ngân sách Nhà nước16 2.3. Liên hệ việc phát huy vai trò của Ngân sách Nhà nước ở nước ta20 2.3.1. Thực trạng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay20 2.3.2. Thực trạng vai trò của Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay21 3. Khái niệm và bản chất tài chính doanh nghiệp30 3.1 Khái niệm30 3.2. Bản chất31 3.2.1 Tài chính doanh nghiệp liên quan mật thiết với quản trị tài chính31 3.2.2 Tài chính doanh nghiệp xét về hình thức:32 3.2.3 Bản chất của tài chính doanh nghiệp:33 KẾT LUẬN 1. Tài chính – mạch máu của nền kinh tế 1.1 Sự ra đời và phát triển của tài chính Tài chính ra đời và phát triển dựa trên những tiền đề cơ bản sau: - Sự ra đời và phát triển của Nhà nước: Khi Nhà nước ra đời, để duy trì hoạt động của mình, Nhà nước đã dùng quyền lực chính trị để quy định sự đóng góp của cải của các tổ chức, đơn vị kinh tế và của cá nhân dân cư cho Nhà nước. Như vậy, sự ra đời của Nhà nước đã làm nảy sinh trong xã hội những quan hệ kinh tế mà trước đó chưa có. Những quan hệ kinh tế này lúc đầu được biểu hiện dưới dạng hình thái hiện vật. Đó chính là hình thái phôi thai của tài chính. - Sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa và sự phát triển của các hình thái giá trị dẫn đến sự ra đời của tiền tệ. Sự xuất hiện của tiền tệ đã làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối, từ phân phối bằng hiện vật (phân phối phi tài chính) sang phân phối bằng giá trị (phân phối tài chính). Cùng với sự phát triển của Nhà nước và nền sản xuất hàng hóa, tài chính cũng phát triển theo quá trình từ thấp đến cao, từ quan hệ phân phối bằng hiện vật lên quan hệ phân phối giá trị. Nhưng tài chính chỉ trở thành môn khoa học và có tiền đề phát triển mạnh mẽ khi quan hệ phân phối bằng giá trị trở nên phổ biến. Như vậy, có thể coi kinh tế hàng hóa - tiền tệ và nhà nước là những nhân tố quyết định sự ra đời và tồn tại của tài chính, trong đó kinh tế hàng hóa - tiền tệ là nguyên nhân sâu xa, còn nhà nước là nguyên nhân trực tiếp về sự phát sinh và phát triển của phạm trù tài chính.

docx33 trang | Chia sẻ: dansaran | Ngày: 18/12/2012 | Lượt xem: 1832 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sức Mạnh Tài Chính, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SỨC MẠNH TÀI CHÍNH MỤC LỤC 1. Tài chính – mạch máu của nền kinh tế 5 1.1 Sự ra đời và phát triển của tài chính 5 1.2 Bản chất của tài chính 6 1.2.1 Những quan hệ kinh tế trong phân phối 6 1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của tài chính 8 1.2.3 Các quan hệ tài chính 8 1.3 Chức năng của tài chính 10 1.3.1 Chức năng phân phối 10 1.3.2 Chức năng giám đốc 12 1.3.3 Chức năng tạo lập vốn 13 2. Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường 15 2.1. Khái niệm 15 2.2.Vai trò của Ngân sách Nhà nước 16 2.3. Liên hệ việc phát huy vai trò của Ngân sách Nhà nước ở nước ta 20 2.3.1. Thực trạng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 20 2.3.2. Thực trạng vai trò của Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 21 3. Khái niệm và bản chất tài chính doanh nghiệp 30 3.1 Khái niệm 30 3.2. Bản chất 31 3.2.1 Tài chính doanh nghiệp liên quan mật thiết với quản trị tài chính 31 3.2.2 Tài chính doanh nghiệp xét về hình thức: 32 3.2.3 Bản chất của tài chính doanh nghiệp: 33 KẾT LUẬN NỘI DUNG 1. Tài chính – mạch máu của nền kinh tế 1.1 Sự ra đời và phát triển của tài chính Tài chính ra đời và phát triển dựa trên những tiền đề cơ bản sau: - Sự ra đời và phát triển của Nhà nước: Khi Nhà nước ra đời, để duy trì hoạt động của mình, Nhà nước đã dùng quyền lực chính trị để quy định sự đóng góp của cải của các tổ chức, đơn vị kinh tế và của cá nhân dân cư cho Nhà nước. Như vậy, sự ra đời của Nhà nước đã làm nảy sinh trong xã hội những quan hệ kinh tế mà trước đó chưa có. Những quan hệ kinh tế này lúc đầu được biểu hiện dưới dạng hình thái hiện vật. Đó chính là hình thái phôi thai của tài chính. - Sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa và sự phát triển của các hình thái giá trị dẫn đến sự ra đời của tiền tệ. Sự xuất hiện của tiền tệ đã làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối, từ phân phối bằng hiện vật (phân phối phi tài chính) sang phân phối bằng giá trị (phân phối tài chính). Cùng với sự phát triển của Nhà nước và nền sản xuất hàng hóa, tài chính cũng phát triển theo quá trình từ thấp đến cao, từ quan hệ phân phối bằng hiện vật lên quan hệ phân phối giá trị. Nhưng tài chính chỉ trở thành môn khoa học và có tiền đề phát triển mạnh mẽ khi quan hệ phân phối bằng giá trị trở nên phổ biến. Như vậy, có thể coi kinh tế hàng hóa - tiền tệ và nhà nước là những nhân tố quyết định sự ra đời và tồn tại của tài chính, trong đó kinh tế hàng hóa - tiền tệ là nguyên nhân sâu xa, còn nhà nước là nguyên nhân trực tiếp về sự phát sinh và phát triển của phạm trù tài chính. 1.2 Bản chất của tài chính 1.2.1 Những quan hệ kinh tế trong phân phối Tài chính là những quan hệ kinh tế trong phân phối sản phẩm quốc dân. Nhưng không phải mọi quan hệ kinh tế trong nền kinh tế - xã hội đều thuộc phạm vi của tài chính. Tài chính chỉ bao gồm những quan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Các quỹ tiền tệ mang những đặc trưng cơ bản sau: - Các quỹ tiền tệ bao giờ cũng thể hiện tính mục đích của nguồn tài chính. Các quỹ tiền tệ là một lượng nhất định của nguồn lực tài chính được dành cho một mục đích nhất định Ví dụ: TT  Tên quỹ tiền tệ  Nguồn lực tài chính  Mục đích tài chính   1  Ngân sách Nhà nước  Nhà nước  Thực hiện các chức năng của Nhà nước   2  Vốn điều lệ của doanh nghiệp  Doanh nghiệp  Phục vụ hoạt động kinh doanh   3  Quỹ khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp  Doanh nghiệp  Tái sản xuất giản đơn TSCĐ   4  Ngân sách gia đình  Gia đình  Tiêu dùng trong gia đình   - Tất cả các quỹ tiền tệ đều vận động thường xuyên, tức là chúng luôn luôn được tạo lập (hoặc bổ sung) và được sử dụng. - Các hình thức của quỹ tiền tệ: * Quỹ tiền tệ cho mục đích tích lũy * Quỹ tiền tệ cho mục đích tiêu dùng * Quỹ tiền tệ trung gian, ví dụ: quỹ kinh doanh của các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính.... Như vậy, những hiện tượng bên ngoài, sự vận động của các nguồn tài chính, sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ là thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị - một bộ phận quan hệ kinh tế trong xã hội. 1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của tài chính - Tài chính là những quan hệ kinh tế trong phân phối, tài chính phản ánh quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người với người trong quá trình phân phối của cải quốc dân do họ sáng tạo ra. - Tài chính là môn khoa học về sự lựa chọn trong đầu tư, sự lựa chọn giữa nhu cầu của thị trường, của xã hội, của con người và khả năng cho phép để quyết định sản xuất cái gì, bằng cách nào và bán cho ai. Sao cho đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất. - Tài chính luôn gắn liền với Nhà nước, là công cụ quan trọng được Nhà nước sử dụng để quản lý vi mô và vĩ mô nền kinh tế, thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước. - Tài chính là những quan hệ kinh tế, quan hệ tiền tệ, nhưng tài chính thể hiện sự thống nhất tương đối giữa hiện vật và giá trị. 1.2.3 Các quan hệ tài chính Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể có các mối quan hệ tài chính sau: - Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước: Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo luật định. - Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính: Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất định. Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán. Ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doang nghiệp (Thị trường chứng khoán). Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác. - Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động.... Là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả công lao động, chi trả các dịch vụ... Đồng thời, thông qua các thị trường, doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị... nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn thỏa mãn nhu cầu của thị trường. - Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. 1.3 Chức năng của tài chính 1.3.1 Chức năng phân phối Phân phối là sự phân chia tổng sản phẩm quốc dân theo những tỉ lệ và xu hướng nhất định cho tiết kiệm và tiêu dùng nhằm tích tụ, tập trung vốn để đầu tư phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu chung của Nhà nước, xã hội và cá nhân. Đối tượng phân phối: là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là các nguồn tài chính, là tiền tệ đang vận động một cách độc lập với tư cách là phương tiện thanh toán và phương tiện cất giữ trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Chủ thể phân phối: Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, hộ gia đình hay cá nhân dân cư. Yêu cầu của phân phối: - Phân phối tài chính phải xác định quy mô, tỉ trọng của đầu tư trong tổng sản phẩm quốc dân phù hợp với khả năng và sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi thời kì nhất định. - Phân phối tài chính phải bảo đảm giải quyết thỏa đáng giữa tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư. - Phân phối phải giải quyết thỏa đáng các quan hệ về lợi ích kinh tế của những chủ thể tham gia phân phối. - Phân phối phải giải quyết thỏa đáng các quan hệ cân đối trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong từng khâu riêng biệt. - Phân phối phải bảo đảm tạo lập và chu chuyển nguồn vốn, bảo đảm quá trình tái sản xuất xã hội bình thường. Đặc điểm của phân phối tài chính: - Phân phối của tài chính luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. - Phân phối của tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, không kèm theo với sự thay đổi hình thái giá trị. - Phân phối tài chính bao hàm cả quá trình phân phối lần đầu và quá trình phân phối lại. Phân phối lần đầu sản phẩm xã hội là sự phân phối được tiến hành trong lĩnh vực sản xuất cho những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ. Phân phối lại là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản, sử dụng những quỹ tiền tệ chứa đựng những nguồn lực tài chính đã được hình thành trong phân phối lần đầu ra phạm vi xã hội rộng hơn hoặc theo những chi tiết cụ thể hơn trong mục đích của các quỹ tiền tệ. 1.3.2 Chức năng giám đốc - Giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhằm phát hiện những ưu điểm để phát huy, những tồn tại để khắc phục trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân. - Chủ thể của kiểm tra, kiểm soát cũng là chủ thể phân phối. Đối tượng kiểm tra là các quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, các quá trình vận động của các nguồn tài chính. - Chức năng giám đốc của tài chính luôn gắn liền với chức năng phân phối trong quá trình phân phối bằng việc sử dụng tài chính - quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ đã luôn có sự cần thiết và khả năng kiểm sát sao các quá trình đó. - Đặc điểm của giám đốc tài chính: + Giám đốc tài chính là khả năng giám đốc khi sử dụng tài chính như công cụ phân phối. + Giám đốc tài chính có tính toàn diện, thường xuyên, liên tục, rộng rãi, kịp thời. 1.3.3 Chức năng tạo lập vốn Sản xuất, lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có trước nguồn vốn, tiền tệ đầu tư vào các yếu tố sản xuất, vốn tiền tệ trở thành tiền đề cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, vốn tiền đề có được nhờ tài chính có chức năng tạo vốn. Trong bất cứ phương thức sản xuất nào, việc tạo vốn đều dựa vào sản xuất thặng dư tiết kiệm được, tích lũy được các quỹ khác nhau, quá trình tạo lập vốn mang hình thức và bắt nguồn từ các chủ thể khác nhau. Ở khâu Ngân sách Nhà nước với tư cách nhà nước là chủ thể có quyền lực chính trị mạnh nhất, thông qua luật pháp do nhà nước ban hành, chức năng tạo lập vốn thể hiện việc tạo lập các quỹ tiền tệ tập trung trong tay nhà nước. Nhà nước bắt buộc các doanh nghiệp, dân cư phải đóng thuế, phí, lệ phí… để tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Mặt khác Nhà nước với tư cách là người sở hữu tài sản của quốc gia hình thành các doanh nghiệp nhà nước để tạo lập vốn. Những lúc thiếu hụt ngân sách, nhà nước lại phải phát hành các trái phiếu nhà nước để tạo lập vốn. Ở khâu tài chính doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải có vốn. Vốn là điều kiện không thể thiếu đuợc để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn này đuợc tạo lập từ nhiều nguồn như: vốn chủ sở hữu (vốn tự có), vay ngân hàng, vay trong dân chúng (bằng cách phát hành trái phiếu), mua hàng trả chậm … Nhằm thực hiện chức năng nói trên, trước hết doanh nghiệp phải dự toán nhu cầu vốn, tiếp đến cần lựa chọn nguồn vốn phù hợp, một loạt vấn đề cần đuợc giải quyết như: nên huy động vốn từ chủ sở hữu hay nên vay? Cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu thế nào là tốt nhất? Nếu vay thì nên phát hành trái phiếu hay vay ở các tổ chức tín dụng, hay sử dụng phương thức tín dụng thuê mua? Thời hạn và lãi suất vay?… Ở các khâu tài chính khác trong xã hội (hộ gia đình và tổ chức xã hội, các trung gian tài chính như bảo hiểm, tín dụng …), đều thông qua chức năng tạo lập vốn của tài chính để hình thành các quỹ tiền tệ phù hợp với hoạt động của mình và chính do yêu cầu của nền sản xuất trong xã hội thông qua các tổ chức tài chính trung gian, các nguồn vốn trong tay các chủ thể khác nhau đó lại có thể luân chuyển vốn từ người cung ứng sang nguời sử dụng. Tóm lại, tài chính ra đời gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ; với bản chất là tổng thể hệ thống các quan hệ kinh tế gắn với việc phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, thông qua đó lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế, tài chính đã chứng tỏ được tầm quan trọng của nó. Tài chính có mặt và ảnh hưởng trong hầu hết các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư; giữa các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư với nhau và các quan hệ trong nội bộ các chủ thể đó; giữa các quốc gia trên thế giới với nhau. Điều này chứng tỏ tài chính có tầm ảnh hưởng vi mô lẫn vĩ mô. Giống như mạch máu là con đường để đưa máu đến nuôi các cơ quan, bộ phận trong cơ thể người; tài chính với bản chất và những chức năng nhất định cũng là chiếc cầu lưu thông cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc gia. Nếu như chiếc cầu này gãy thì nguy cơ cho sự sụp đổ của một nền kinh tế rất cao. 2. Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường 2.1. Khái niệm Ngân sách Nhà nước, hay Ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách Nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về Ngân sách Nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về Ngân sách Nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách Nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Ngoài ra, Điều 1 Luật NSNN đã được Quốc Hội nước C.H.X.H.C.N Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/03/1996 có ghi: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Ngân sách Nhà nước bao gồm Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân Dân. 2.2.Vai trò của Ngân sách Nhà nước Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa - tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao; tức là khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như: đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua - bán và hàng hoá. Sự vận hành của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ….đã bộc lộ những ưu thế cũng như khuyết tật của nền kinh tế thị trường, đó là: - Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội. - Kinh tế thị trường đặt lợi nhuận lên hàng đầu, cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là “hàng hoá công cộng” (đường xá, các công trình văn hoá, y tế và giáo dục .v.v.) - Trong nền kinh tế thị trường có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt: giàu ít, nghèo nhiều, bất công xã hội. Để hạn chế và khắc phục những khuyết tật đó của nền kinh tế thị trường, Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế. Sự can thiệp của Nhà nước sẽ đảm bảo hiệu quả cho sự vận động của thị trường được ổn định, nhằm tối đa hoá hiệu quả kinh tế, bảo đảm định hướng chính trị của sự phát triển kinh tế, sửa chữa khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường, tạo ra những công cụ quan trọng để điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô. Sự can thiệp đó của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như: pháp luật, kế hoạch, tổ chức tài chính tiền tệ.… trong đó Ngân sách Nhà nước được coi là là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước. Vai trò quan trọng đó của Ngân sách Nhà nước được thể hiện trên các mặt sau đây: Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Sự hoạt động của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế. Đây là vai trò lịch sử của Ngân sách Nhà nước, được xuất phát từ tính nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, Ngân sách Nhà nước đều phải thực hiện và phát huy. Để phát huy vai trò của Ngân sách Nhà nước trong quá trình phân phối, huy động các nguồn tài chính của xã hội cho Nhà nước cần thiết phải xác định: - Mức động viên các nguồn tài chính từ đơn vị cơ sở để hình thành nguồn thu Nhà nước. - Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho Nhà nước và thực hiện các khoản chi của Nhà nước. - Tỷ lệ động viên (tỷ suất thu) của Nhà nước trên GDP. Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt sau: Thứ nhất, Ngân sách Nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng những hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định, để hình thành nên cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua công cụ là Ngân sách Nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Mặt khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo cho tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn. Bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy định miễn thuế, giảm thuế... có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp. Một chính sách thuế có lợi sẽ thu hút được doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết; ngược lại, một chính sách thuế khắt khe sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh. Độc quyền gây ra rất nhiều tổn thất phúc lợi cho xã hội, vì vậy việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, một trong những nguyên nhân kìm hãm phát triển nền kinh tế. Thứ hai, Ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát. Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động không ngừng của giá
Luận văn liên quan