Tiểu luận Kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam: Thách thức và khuyến nghị

1. Lý do chọn đề tài Thực hiện công cuộc Đổi mới với chính sách mở cửa hội nhập do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo từ năm 1986, trong những năm đầu của thập kỷ 90, kinh tế trong nước đạt mức tăng trưởng cao (bình quân 7,5%/năm), đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt kể từ khi việc hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có phần đóng góp quan trọng của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Thực tế là, nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam thì phải đổi ngoại tệ thành nội tệ. Kết thúc quá trình kinh doanh, nhà đầu tư sẽ đem cả vốn lẫn lời đổi lấy ngoại tệ để đem về nước. Tuy nhiên vấn đề lớn xảy ra là nếu cùng lúc các nhà đầu tư (thường là ngắn hạn) đồng loạt đổi ngoại tệ mang về nước sẽ làm cho cầu ngoại tệ tăng đột biến và điều này gây áp lực lớn lên tỷ giá. Thêm vào đó, những năm trở lại đây cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, đặc biệt từ năm 1997 khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ diễn ra tại châu Á và sau đó lan ra các châu lục khác xẩy ra, đã mở ra một xu hướng mới trong mục tiêu kiểm soát dòng vốn, đó là việc nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tìm cách hạn chế dòng vốn đầu cơ chảy vào thị trường. Đây là một xu hướng đảo ngược hoàn toàn so với nỗ lực tự do hóa dòng vốn trên phạm vi toàn cầu kể từ những năm 80 của thế kỷ trước. Tính hiệu quả của các biện pháp kiểm soát dòng vốn tới nay vẫn là một vấn đề tranh cãi và cần tính toán kỹ trước khi sử dụng để không ảnh hưởng đến những lợi ích của việc đầu tư. Để việc kiểm soát dòng vốn mang lại hiệu quả cao hơn cần kết hợp cả việc kiểm soát dòng vốn vào với việc kiểm soát dòng vốn ra. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, có mối nguy hiểm rằng nếu việc kiểm soát dòng vốn không hiệu quả trong việc ngăn chặn dòng vốn đầu cơ vào các nước đang phát triển, nó sẽ tạo tiền đề cho các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Trong tuyên bố được đưa ra tại buổi họp ngày 17/12/2010, Quỹ tiền tệ quốc tế tuyên bố “Việc các dòng vốn biến động mạnh đóng vai trò quan trọng trong cuộc khủng hoảng gần đây, xét đến cả yếu tố dễ chịu ảnh hưởng và cú sốc lan truyền”. Thực tế cho thấy việc kiểm soát vốn ngày càng được chấp nhận là một công cụ chính sách, đặc biệt là khi có những bằng chứng cho thấy một số chính sách này có hiệu quả, và số nước chấp nhận sử dụng các biện pháp này nhằm ngăn chặn dòng vốn đổ vào cũng ngày càng tăng lên. Điều này lại tạo ra nguy cơ rằng một số nước đã sử dụng việc kiểm soát vốn thay cho việc cải cách cơ cấu để tăng cường khả năng chống đỡ trước các cú sốc kinh tế, hoặc tránh các điều chỉnh tỷ giá hối đoái và do đó làm cho quá trình cân bằng lại toàn cầu trở nên phức tạp hơn. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này với mục tiêu định vị lại các hình thức kiểm soát dòng vốn, các mục tiêu cơ bản của kiểm soát dòng vốn, cũng như đưa ra thực trạng về kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời đề xuất một số biện pháp kiểm soát dòng vốn trong giai đoạn hiện nay. 2. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu tổng quan về một số nguồn vốn đầu tư nước ngoài, khái niệm về kiểm soát dòng vốn, các bài học kinh nghiệm về kiểm soát dòng vốn ở một số quốc gia, tổng hợp dữ liệu về thực trạng kiểm soát dòng vốn của Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam. 3. Câu hỏi nghiên cứu - Vì sao phải kiểm soát dòng vốn ở nước ta? - Điều kiện để kiểm soát dòng vốn là gì? - Khuôn khổ chính sách nào phù hợp cho kiểm soát dòng vốn? 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau: Phương pháp nghiên cứu, tham khảo và tổng hợp số liệu; phương pháp suy luận logic; phương pháp so sánh. 5. Cấu trúc đề tài Đề tài gồm các chương: CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 - 2010 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC KIỂM SOÁT DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TIẾP THEO

doc50 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 04/04/2013 | Lượt xem: 2509 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam: Thách thức và khuyến nghị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i DANH MỤC CÁC BẢNG ii DANH MỤC CÁC HÌNH iii MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN 4 1.1 Một số nguồn vốn đầu tư nước ngoài 4 1.1.1 Vốn ODA 4 1.1.2 Vốn FDI 5 1.1.3 Vốn FPI 6 1.2 Kiểm soát dòng vốn 7 1.2.1 Khái niệm 7 1.2.2 Mục tiêu 8 1.2.3 Phương pháp 8 1.2.4 Cán cân vốn (Capital Account) 9 1.2.5 Chỉ số CCI và CBFI 9 1.3 Kinh nghiệm về kiểm soát dòng vốn ở một số quốc gia đang phát triển 10 1.3.1 Kinh nghiệm về kiểm soát vốn ở Malaysia: sự kiểm soát khôn ngoan 10 1.3.2 Kinh nghiệm về kiểm soát vốn ở Thái Lan: sự kiểm soát “bồng bột” 11 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN GIAI ĐOẠN 1990 – 2010 14 2.1 Sử dụng và kiểm soát ODA 14 2.2 Sử dụng và kiểm soát vốn FDI 17 2.3 Sử dụng và kiểm soát vốn FPI 22 2.4 Một số biện pháp kiểm soát vốn ở Việt Nam 24 2.5 Đánh giá chung 29 2.5.1 Mặt tích cực 29 2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 30 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC KIỂM SOÁT DÒNG VỒN Ở VIỆT NAM 32 3.1 Về cơ chế chính sách 32 3.2 Kiểm soát dòng vốn vào, cấu thành vốn và luân chuyển vốn 33 3.3 Thực hiện tự do hóa dòng vốn ra theo hướng đầu tư trực tiếp và gián tiếp ra nước ngoài 34 3.4 Duy trì quy định kiểm soát ngoại tệ, tăng tính linh hoạt của tỷ giá 36 3.5 Xây dựng chỉ số CCI, CBFI cho Việt Nam theo từng quý, năm 37 KẾT LUẬN 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT  Từ viết tắt  Nguyên nghĩa     Tiếng Anh  Tiếng Việt   1  ODA  Official Development Assistance  Hỗ trợ phát triển chính thức   2  FDI  Foreigne direct investment  Đầu tư trực tiếp nước ngoài   3  FPI  Foreigne Portfolio Investment  Đầu tư gián tiếp nước ngoài   4  WTO  World Trade Organization  Tổ chức Thương mại Thế giới   5  VND   Việt Nam đồng   6  NHNN   Ngân hàng Nhà nước   7  CCI  Capital Controls Index  Chỉ số đánh giá mức độ kiểm soát vốn   8  CBFI  Cross-Border Financial Index  Chỉ số đánh giá luồng tài chính xuyên biên giới   9  AREAER  Annual Report on Exchange Arrangements and Exchange Restrictions  Báo cáo thường niên về các thỏa thuận trao đổi và hạn chế giao dịch   10  VASB  Viet Nam Associations of stock business  Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam   11  TTCK   Thị trường chứng khoán   DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Một số chỉ số trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 12 Bảng 2.1: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2010 19 Bảng 2.2: Phân bổ vốn FPI và tỷ lệ FPI/FDI giai đoạn 2001-2009 23 Bảng 2.3: Các văn bản luật liên quan đến kiểm soát dòng vốn 24 Bảng 3.1: Các nghiên cứu tính toán chỉ số đo lường dòng vốn 37 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Biểu đồ cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2008 Error! Bookmark not defined. Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực Error! Bookmark not defined. Hình 2.3: 20 nước đứng đầu về đầu tư FDI tại Việtnam 1990-2010 Error! Bookmark not defined. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thực hiện công cuộc Đổi mới với chính sách mở cửa hội nhập do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo từ năm 1986, trong những năm đầu của thập kỷ 90, kinh tế trong nước đạt mức tăng trưởng cao (bình quân 7,5%/năm), đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt kể từ khi việc hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có phần đóng góp quan trọng của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.  Thực tế là, nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam thì phải đổi ngoại tệ thành nội tệ. Kết thúc quá trình kinh doanh, nhà đầu tư sẽ đem cả vốn lẫn lời đổi lấy ngoại tệ để đem về nước. Tuy nhiên vấn đề lớn xảy ra là nếu cùng lúc các nhà đầu tư (thường là ngắn hạn) đồng loạt đổi ngoại tệ mang về nước sẽ làm cho cầu ngoại tệ tăng đột biến và điều này gây áp lực lớn lên tỷ giá. Thêm vào đó, những năm trở lại đây cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, đặc biệt từ năm 1997 khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ diễn ra tại châu Á và sau đó lan ra các châu lục khác xẩy ra, đã mở ra một xu hướng mới trong mục tiêu kiểm soát dòng vốn, đó là việc nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tìm cách hạn chế dòng vốn đầu cơ chảy vào thị trường. Đây là một xu hướng đảo ngược hoàn toàn so với nỗ lực tự do hóa dòng vốn trên phạm vi toàn cầu kể từ những năm 80 của thế kỷ trước. Tính hiệu quả của các biện pháp kiểm soát dòng vốn tới nay vẫn là một vấn đề tranh cãi và cần tính toán kỹ trước khi sử dụng để không ảnh hưởng đến những lợi ích của việc đầu tư. Để việc kiểm soát dòng vốn mang lại hiệu quả cao hơn cần kết hợp cả việc kiểm soát dòng vốn vào với việc kiểm soát dòng vốn ra. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, có mối nguy hiểm rằng nếu việc kiểm soát dòng vốn không hiệu quả trong việc ngăn chặn dòng vốn đầu cơ vào các nước đang phát triển, nó sẽ tạo tiền đề cho các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Trong tuyên bố được đưa ra tại buổi họp ngày 17/12/2010, Quỹ tiền tệ quốc tế tuyên bố “Việc các dòng vốn biến động mạnh đóng vai trò quan trọng trong cuộc khủng hoảng gần đây, xét đến cả yếu tố dễ chịu ảnh hưởng và cú sốc lan truyền”. Thực tế cho thấy việc kiểm soát vốn ngày càng được chấp nhận là một công cụ chính sách, đặc biệt là khi có những bằng chứng cho thấy một số chính sách này có hiệu quả, và số nước chấp nhận sử dụng các biện pháp này nhằm ngăn chặn dòng vốn đổ vào cũng ngày càng tăng lên. Điều này lại tạo ra nguy cơ rằng một số nước đã sử dụng việc kiểm soát vốn thay cho việc cải cách cơ cấu để tăng cường khả năng chống đỡ trước các cú sốc kinh tế, hoặc tránh các điều chỉnh tỷ giá hối đoái và do đó làm cho quá trình cân bằng lại toàn cầu trở nên phức tạp hơn. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này với mục tiêu định vị lại các hình thức kiểm soát dòng vốn, các mục tiêu cơ bản của kiểm soát dòng vốn, cũng như đưa ra thực trạng về kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời đề xuất một số biện pháp kiểm soát dòng vốn trong giai đoạn hiện nay. 2. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu tổng quan về một số nguồn vốn đầu tư nước ngoài, khái niệm về kiểm soát dòng vốn, các bài học kinh nghiệm về kiểm soát dòng vốn ở một số quốc gia, tổng hợp dữ liệu về thực trạng kiểm soát dòng vốn của Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát dòng vốn ở Việt Nam. 3. Câu hỏi nghiên cứu Vì sao phải kiểm soát dòng vốn ở nước ta? Điều kiện để kiểm soát dòng vốn là gì? Khuôn khổ chính sách nào phù hợp cho kiểm soát dòng vốn? 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau: Phương pháp nghiên cứu, tham khảo và tổng hợp số liệu; phương pháp suy luận logic; phương pháp so sánh. 5. Cấu trúc đề tài Đề tài gồm các chương: CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 - 2010 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC KIỂM SOÁT DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TIẾP THEO CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN Một số nguồn vốn đầu tư nước ngoài 1.1.1 Vốn ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay. Lợi ích của ODA: Thứ nhất, nếu là khoản vay từ nguồn vốn ODA mức lãi suất thấp (thường dưới 20%, tính trung bình từ 0.25%/năm); Thứ hai, Thời gian cho vay của nguồn vốn ODA cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm); Thứ ba, như chúng ta biết trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA. Bất lợi, hạn chế của ODA: Bên cạnh những lợi ích mang lại trong sự phát triển kinh tế nước ta, nguồn vốn ODA cũng có một vài điểm bất lợi, cụ thể đó là: Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới). Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất. Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên. 1.1.2 Vốn FDI WTO đưa ra định nghĩa về FDI “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty”. Lợi ích của FDI: Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là cách để các quốc gia có thể mở rộng và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc gia khác mà minh sẽ đầu tư. Như vậy nước đi đầu tư sẽ có nhiều lợi ích về kinh tế cũng như chính trị. Bên cạnh đó, nước nhận đầu tư cũng có nhận được những lợi ích đáng kể: Một là, Bổ sung cho nguồn vốn trong nước Hai là, Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý bởi các nước đi đầu tư sang nước khác thường là các quốc gia có lợi thế lớn về sản phẩm hàng hóa mà họ đem đầu tư do vậy chúng ta sẽ học hỏi được công nghệ và bí quyết từ họ. Ba là, FDI đưa nước ta tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu Bốn là, Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công, người lao động có thể được đào tạo bởi đội ngũ quản lý trình độ cao từ các quốc gia sang đầu tư. Năm là, Nguồn thu ngân sách lớn. Bất lợi, hạn chế của FDI: Mặt trái của nó là: Tạo ra một cơ cấu bất hợp lí, do thông thường các nhà đầu tư nước ngoài chỉ tập trung vào các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám”. Đó là ngày càng nhiều cán bộ đang công tác tại các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu,... chuyển ra làm việc cho các tổ chức, các công ty nước ngoài bởi những chính sách lương, thưởng, điều kiện làm việc hấp dẫn mà họ trả cho các bộ công nhân viên. Chuyển giao công nghệ lạc hậu, do nhiều nhà đầu tư đã cho chuyển giao sang các nước nhận đầu tư như một phần vốn góp. Tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp trong nước. 1.1.3 Vốn FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI - Foreign Portfolio Investment) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới mà các nhà đầu tư không tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp như trong hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài bao gồm: Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác thông qua quỹ đầu tư chứng khoán hoặc thông qua các định chế tài chính trung gian khác. Lợi ích của FPI FPI góp phần làm tăng nguồn vốn trên thị trường vốn nội địa và làm giảm chi phí vốn thông qua việc đa dạng hoá rủi ro; thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa và thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ. Bất lợi, hạn chế của FPI Thứ nhất, nếu dòng FPI vào tăng mạnh, thì nền kinh tế tiếp nhận dễ rơi vào tình trạng phát triển quá nóng (bong bóng), nhất là các thị trường tài sản tài chính của nó. Thứ hai, vốn FPI có đặc điểm là di chuyển (vào và ra) rất nhanh, nên nó sẽ khiến cho hệ thống tài chính trong nước dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng tài chính một khi gặp phải các cú sốc từ bên trong cũng như bên ngoài nền kinh tế. Thứ ba, FPI làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái Kiểm soát dòng vốn 1.2.1 Khái niệm Theo Wikipedia kiểm soát dòng vốn “là thực hiện các biện pháp can thiệp của chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau, để tác động (hạn chế) lên dòng vốn nước ngoài chảy vào và chảy ra khỏi một quốc gia để nhằm đạt mục tiêu nhất định của Chính phủ. 1.2.2 Mục tiêu Hạn chế số lượng dòng vốn đổ vào các quốc gia. Thay đổi cấu thành dòng vốn (đặc biệt đối với các dòng vốn đáo hạn dài). Giảm áp lực về tỷ giá hối đoái thực. Tạo ra chính sách tiền tệ độc lập hơn. Như một nguyên tắc mà các quốc gia cần nắm khi thực hiện kiểm soát dòng vốn nước ngoài, Robert Mundell - Paul Krugman, 1999 cũng khẳng định rằng “Bạn không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong 3 yếu tố của bộ 3 bất khả thi. Nó có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa dòng vốn tức là tiếp tục kiếm soát vốn (giống như Trung Quốc ngày nay), nó có thể chọn một chính sách tự do hóa dòng vốn nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi (giống như Anh hoặc Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn định chính sách tiền tệ, nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suy thoái (giống như Achentina hoặc hầu hết Châu Âu)” 1.2.3 Phương pháp 1.2.3.1 Kiểm soát dòng vốn trực tiếp Kiểm soát dòng vốn trực tiếp hay còn gọi là kiểm soát dòng vốn mang tính hành chính: là việc hạn chế những giao dịch vốn, những khoản thanh toán liên quan đến giao dịch vốn và việc chuyển tiền bằng những quy định mang tính hành chính. Kiểm soát hành chính tác động đến số lượng những giao dịch tài chính từ nước này sang nước khác. Thông thường, loại kiểm soát này áp đặt những nghĩa vụ hành chính lên hệ thống ngân hàng để kiểm tra dòng vốn. 1.2.3.2 Kiểm soát dòng vốn gián tiếp Còn gọi là kiểm soát dòng vốn dựa trên cơ sở thị trường: là việc hạn chế những biến động của dòng vốn và những giao dịch khác thông qua các biện pháp thị trường, chủ yếu là làm cho các giao dịch này phải tốn kém nhiều chi phí hơn, từ đó hạn chế những giao dịch này. Việc kiểm soát vốn có thể xảy ra dưới các hình thức khác nhau như hệ thống đa tỷ giá, đánh thuế ngầm hoặc công khai lên dòng vốn quốc tế, nhưng chủ yếu là đánh thuế vào các dòng vốn ngắn hạn và khuyến khích các dòng vốn dài hạn. 1.2.4 Cán cân vốn (Capital Account) Trong kinh tế vĩ mô và tài chính quốc tế, cán cân vốn là một trong hai thành phần chính của cán cân thanh toán - Balance of Payment – thành phần còn lại là cán cân vãng lai – Current Account. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động sản, hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước và người cư trú ở quốc gia khác. Biểu diễn của cán cân vốn: Cán cân vốn = Thay đổi chủ sở hữu nước ngoài đối với tài sản trong nước – Thay đổi chủ sở hữu trong nước đối với tài sản nước ngoài = Đầu tư trực tiếp(FDI) + Đầu tư gián tiếp(FPI) + Đầu tư khác + Tài khoản dự trữ. 1.2.5 Chỉ số CCI và CBFI CCI là viết tắt của từ tiếng Anh Capital Controls Index nghĩa là chỉ số đánh giá mức độ kiểm soát vốn; CBFI là viết tắt của Cross-Border Financial Index (tạm dịch là Chỉ số đánh giá luồng tài chính xuyên biên giới). Với sự biến động của dòng vốn, đánh giá mức độ hiệu quả và ảnh hưởng của dòng vốn đối với quốc gia là một công việc hết sức cần thiết. Ở Việt Nam hiện nay chưa có đánh giá nào liên quan đến các bộ chỉ số này. Về cơ bản, trong hầu hết các nghiên cứu quốc tế, việc tính toán CCI dựa trên dữ liệu thu thập của Quỹ tiền tệ Quốc tế trong báo cáo thường niên AREAER và để đánh giá hiệu quả của kiểm soát vốn khi làm rõ các dòng vốn xuyên biên giới, thường được đo lường qua cấp độ của các dòng vốn thực tế của một quốc gia hoặc một nền kinh tế gọi là chỉ số dòng vốn xuyên biên giới CBFI. Kinh nghiệm về kiểm soát dòng vốn ở một số quốc gia đang phát triển Vấn đề kiểm soát vốn ở Việt Nam trở thành vấn đề nóng trên các diễn đàn quốc tế kể từ thời điểm tháng 2/2007: Giữa tháng 2 năm 2007, Các hãng tin nước ngoài như Bloomberg và AFP đều đồng loạt trích nguồn tin từ Ngân hàng ANZ cho rằng Việt Nam đang chuẩn bị áp dụng một loạt biện pháp quản lý dòng vốn vào - ra tương tự như Thái Lan để giảm nhiệt thị trường chứng khoán. 1.3.1 Kinh nghiệm về kiểm soát vốn ở Malaysia: sự kiểm soát khôn ngoan Trong những năm 1997-1998, Malaysia cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính kinh tế, nhưng khác với một số nước Đông Á khác, Malaysia kiên quyết khước từ “liệu pháp IMF”, thực thi một chế độ kiểm soát gắt gao việc chảy máu ngoại tệ - Một biện pháp mà nhiều nhà kinh tế lúc đó cho rằng sẽ làm mất lòng tin của các nhà đầu tư và hậu quả sẽ là kéo Malaysia lún sâu hơn vào khủng hoảng và suy thoái. Một Uỷ ban đặc biệt với sự chủ trì trực tiếp của Thủ tướng đã được thành lập và làm việc ngày đêm theo kiểu thời chiến để đối phó với khủng hoảng. Thêm vào đó, để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, Malaysia đã sử dụng biện pháp kiểm soát vốn gắt gao như ấn định tỷ giá ở mức 3,8 Ringgit/USD; tập trung thị trường thứ cấp vào thị trường chứng khoán Kuala Lumpur, hạn chế các giao dịch tiền tệ và vốn của người không thường trú; hạn chế và đi tới cấm sử dụng đồng Ringgit bên ngoài lãnh thổ Malaysia; chỉ cho phép chuyển đổi ngoại tệ trong hoạt động xuất nhập khẩu, FDI và chuyển lợi nhuận về nước. Thoạt đầu đại đa số các nhà kinh tế theo học thuyết thị trường tự do kịch liệt phản đối và coi đó là một bước thụt lùi trong tiến trình phát triển kinh tế của Malaysia. Song theo thời gian, một số nhà kinh tế, trong đó có cả những người nổi tiếng như Paul Krugman đã tỏ ý tán thành, thậm chí cho rằng kiểm soát vốn là công cụ tối ưu giúp vượt qua khủng hoảng tài chính. Về bản chất, kiểm soát vốn ở Malaysia nhằm tách rời lãi suất và tỷ giá, khiến Malaysia có thể chủ động hạ lãi suất giúp phục hồi nền kinh tế. Kết quả thật bất ngờ, Malaysia vững vàng vượt qua được sóng gió không cần đến bất cứ viện trợ nào của các tổ chức tiền tệ quốc tế. 1.3.2 Kinh nghiệm về kiểm soát vốn ở Thái Lan: sự kiểm soát “bồng bột” Ngày thứ ba đen tối với chứng khoán Thái Lan Cuối chiều 18/12/2006, Ngân hàng Trung ương Thái Lan yêu cầu các nhà băng tư nhân phong tỏa tối thiểu 30% trị giá các tài khoản tiền gửi ngoại tệ được lập để đầu tư tài chính. Việc phong tỏa này có hiệu lực từ 19/12/2006 và kéo dài trong vòng một năm. Bên cạnh đó, Thái Lan đưa ra mức thuế rút vốn 15% đánh vào thu nhập từ chênh lệch giá (capital gain) và từ tiền lãi (interest payment) của các trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp do nước ngoài nắm giữ. Các biện pháp trên đây được đưa ra nhằm chặn đà tăng giá của đồng baht so với đôla Mỹ. Tuy nhiên, ngay trong ngày đầu tiên quy định kiểm soát tiền tệ có hiệu lực, thị trường chứng khoán Thái Lan rơi vào thế hoảng loạn. Chỉ số SET mở cửa với mức thấp hơn 20% so với thứ 2 và đến cuối phiên chốt 622,14 điểm, giảm 14,8%. 622,1