Tiểu luận Kỹ năng quản lý máy tính trước các mối đe dọa an toàn thông tin

Công nghệ đang dẫn đường cho mọi việc con người đang làm, không phải chỉ đơn thuần là vấn đề việc làm. Từ các ngân hàng, bệnh viện tới các hệ thống đang giúp xã hội vận hành, chúng ta hầu hết đều phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ. Các hệ thống ngày càng liên kết với nhau chặt chẽ, và rất nhiều trong số đó cũng đang trở nên dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết. Tất cả những điều đó đang diễn ra từng ngày, từng giờ. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu thay vì chỉ là một cuộc tấn công vào các trang web đã được lựa chọn trước, toàn bộ hệ thống Internet bất ngờ ngừng hoạt động, hoặc là chuyện gì sẽ xảy ra nếu không ai truy cập được vào Google nữa. Điều gì sẽ xảy ra nếu thay vì chỉ là mất đi một số dữ liệu, các định chế tài chính của chúng ta bị tấn công bởi một thứ vũ khí có khả năng liên tục vô hiệu hóa tất cả mọi giao dịch điện tử? Ngày nay vấn đề an toàn thông tin được xem là một trong những quan tâm hàng đầu của xã hội, có ảnh hưởng rất nhiều đến hầu hết các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học xã hội và kinh tế.

doc22 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 22/05/2013 | Lượt xem: 1816 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Kỹ năng quản lý máy tính trước các mối đe dọa an toàn thông tin, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN YYY Tiểu luận môn Bảo Vệ Hệ Thống Máy Tính Nội dung : Kỹ năng quản lý máy tính trước các mối đe dọa an toàn thông tin GVHD: LỚP: NHÓM 1 2 3 4 Thái Bình Ngày………………… Ý kiến GVHD ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… Mục lục Mở Đầu Công nghệ đang dẫn đường cho mọi việc con người đang làm, không phải chỉ đơn thuần là vấn đề việc làm. Từ các ngân hàng, bệnh viện tới các hệ thống đang giúp xã hội vận hành, chúng ta hầu hết đều phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ. Các hệ thống ngày càng liên kết với nhau chặt chẽ, và rất nhiều trong số đó cũng đang trở nên dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết. Tất cả những điều đó đang diễn ra từng ngày, từng giờ. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu thay vì chỉ là một cuộc tấn công vào các trang web đã được lựa chọn trước, toàn bộ hệ thống Internet bất ngờ ngừng hoạt động, hoặc là chuyện gì sẽ xảy ra nếu không ai truy cập được vào Google nữa. Điều gì sẽ xảy ra nếu thay vì chỉ là mất đi một số dữ liệu, các định chế tài chính của chúng ta bị tấn công bởi một thứ vũ khí có khả năng liên tục vô hiệu hóa tất cả mọi giao dịch điện tử? Ngày nay vấn đề an toàn thông tin được xem là một trong những quan tâm hàng đầu của xã hội, có ảnh hưởng rất nhiều đến hầu hết các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học xã hội và kinh tế. An toàn thông tin An toàn thông tin là gì An toàn nghĩa là thông tin được bảo vệ, các hệ thống và những dịch vụ có khả năng chống lại những tai hoạ, lỗi và sự tác động không mong đợi, các thay đổi tác động đến độ an toàn của hệ thống là nhỏ nhất. Hệ thống có một trong các đặc điểm sau là không an toàn: Các thông tin dữ liệu trong hệ thống bị người không được quyền truy nhập tìm cách lấy và sử dụng (thông tin bị rò rỉ). Các thông tin trong hệ thống bị thay thế hoặc sửa đổi làm sai lệch nội dung (thông tin bị xáo trộn)... Thông tin chỉ có giá trị cao khi đảm bảo tính chính xác và kịp thời, hệ thống chỉ có thể cung cấp các thông tin có giá trị thực sự khi các chức năng của hệ thống đảm bảo hoạt động đúng đắn. Mục tiêu của an toàn bảo mật trong công nghệ thông tin là đưa ra một số tiêu chuẩn an toàn. Ứng dụng các tiêu chuẩn an toàn này vào đâu để loại trừ hoặc giảm bớt các nguy hiểm. Do kỹ thuật truyền nhận và xử lý thông tin ngày càng phát triển đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao nên hệ thống chỉ có thể đạt tới độ an toàn nào đó. Quản lý an toàn và sự rủi ro được gắn chặt với quản lý chất lượng. Khi đánh giá độ an toàn thông tin cần phải dựa trên phân tích các rủi ro, tăng sự an toàn bằng cách giảm tối thiểu rủi ro. Các đánh giá cần hài hoà với đặc tính, cấu trúc hệ thống và quá trình kiểm tra chất lượng. Các yêu cầu an toàn bảo mật thông tin Hiện nay các biện pháp tấn công càng ngày càng tinh vi, sự đe doạ tới độ an toàn thông tin có thể đến từ nhiều nơi theo nhiều cách chúng ta nên đưa ra các chính sách và phương pháp đề phòng cần thiết. Mục đích cuối cùng của an toàn bảo mật là bảo vệ các thông tin và tài nguyên theo các yêu cầu sau: • Đảm bảo tính tin cậy(Confidentiality): Thông tin không thể bị truy nhập trái phép bởi những người không có thẩm quyền. • Đảm bảo tính nguyên vẹn(Integrity): Thông tin không thể bị sửa đổi, bị làm giả bởi những người không có thẩm quyền. • Đảm bảo tính sẵn sàng(Availability): Thông tin luôn sẵn sàng để đáp ứng sử dụng cho người có thẩm quyền. • Đảm bảo tính không thể từ chối (Non-repudiation): Thông tin được cam kết về mặt pháp luật của người cung cấp. Không thể đảm bảo an toàn 100%, nhưng ta có thể giảm bớt các rủi ro không mong muốn dưới tác động từ mọi phía của các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội . Khi các tổ chức, đơn vị tiến hành đánh giá những rủi ro và cân nhắc kỹ những biện pháp đối phó về ATTT, họ luôn luôn đi đến kết luận: những giải pháp công nghệ (kỹ thuật) đơn lẻ không thể cung cấp đủ sự an toàn. Những sản phẩm Anti-virus, Firewalls và các công cụ khác không thể cung cấp sự an toàn cần thiết cho hầu hết các tổ chức. ATTT là một mắt xích liên kết hai yếu tố: yếu tố công nghệ và yếu tố con người. 1. Yếu tố công nghệ: bao gồm những sản phẩm như Firewall, phần mềm phòng chống virus, giải pháp mật mã, sản phẩm mạng, hệ điều hành và những ứng dụng như: trình duyệt Internet và phần mềm nhận Email từ máy trạm. 2. Yếu tố con người: Là những người sử dụng máy tính, những người làm việc với thông tin và sử dụng máy tính trong công việc của mình. Con người – khâu yếu nhất trong toàn bộ quá trình đảm bảo an toàn thông tin . Hầu như phần lớn các phương thức tấn công được hacker sử dụng là khai thác các điểm yếu của hệ thống thông tin và đa phần các điểm yếu đó rất tiếc lại do con người tạo ra. Việc nhận thức kém và không tuân thủ các chính sách về ATTT là nguyên nhân chính gây ra tình trạng trên. Đơn cử là vấn đề sử dụng mật khẩu đã được quy định rất rõ trong các chính sách về ATTT song việc tuân thủ các quy định lại không được thực hiện chặt chẽ. Việc đặt một mật khẩu kém chất lượng, không thay đổi mật khẩu định kỳ, quản lý mật khẩu lỏng lẻo là những khâu yếu nhất mà hacker có thể lợi dụng để xâm nhập và tấn công. Các mối de dọa an toàn thông tin trong máy tính Giảm thiểu các mối đe dọa an ninh thông tin là một trận chiến đang diễn ra. Tại đây sẽ tìm thấy thông tin về hành vi trộm cắp ID, dữ liệu vi phạm bảo mật, virus, các mối đe dọa email, Web mối đe dọa, các công cụ hacking và nhiều hơn nữa. 1. Virus, Worm, Backdoor, Trojan horse, Adware/spyware, Adware/spyware, Rootkits . a. Virus Virus máy tính là một malware có thể lây nhiễm nhưng phải dựa vào những phương tiện khác để phát tán. Một loại virus thật sự có thể lan tràn từ những máy tính bị nhiễm tới một máy tính chưa nhiễm bằng cách đính một mã vào file thực thi được truyền qua nhau. Ví dụ, một virus có thể ẩn trong một file PDF được đính vào một email. Hầu hết virus đều gồm có 3 thành phần sau: Replicator: Khi kích hoạt chương trình chủ thì đồng thời virus cũng được kích hoạt, và ngay lập tức chúng sẽ phát tán malcode. Concealer: Biện pháp virus sử dụng để lẩn tránh anti-malware. Payload: Lượng malcode của một virus có thể được sử dụng để hủy chức năng của máy tính và phá hủy dữ liệu. Một số mẫu virus máy tính gần đây gồm W32.Sens.A, W32.Sality.AM, và W32.Dizan.F. Hầu hết những phần mềm chống virus tốt sẽ gỡ bỏ virus khi chúng được đăng ký. b. Sâu (Worm) Sâu máy tính tinh vi hơn nhiều so với virus. Chúng có thể tự tái tạo mà không cần tới can thiệp của người dùng. Những thành phần chính của sâu bao gồm: Penetration tool: Là malcode khai thác những lỗ hổng trên máy tính của nạn nhân để dành quyền truy cập. Installer: công cụ thâm nhập giúp sâu máy tính vượt qua hệ thống phòng thủ đầu tiên. Lúc đó, installer đưa và chuyển thành phần chính của malcode vào máy tính của nạn nhân. Discovery tool: Khi đã xâm nhập vào máy, sâu sử dụng cách thức để truy lục những máy tính khác trên mạng, gồm địa chỉ email, danh sách máy chủ và các truy vấn DNS. Scanner: Sâu sử dụng một công cụ kiểm tra để xác định những máy tính mục tiêu mới trong penetration tool có lỗ hổng để khai thác. Payload: Lượng malcode tồn tại trên mỗi máy tính của nạn nhân. Những malcode này có thể từ một ứng dụng truy cập từ xa hay một keylogger được dùng để đánh cắp tên đăng nhập và mật khẩu của người dùng. c. Backdoor Backdoor giống với những chương trình truy cập từ xa mà chúng ta thường sử dụng. Chúng được coi như malware vì khi cài đặt mà không cần được cho phép, đây là cách mà tin tặc sử dụng, theo các phương thức sau: Khai thác lỗ hổng trên máy tính mục tiêu. Bẫy người dùng cài đặt backdoor thông qua một chương trình khác. Sau khi được cài đặt, backdoor cho phép tin tặc toàn quyền kiểm soát từ xa những máy tính bị tấn công. Những loại backdoor, như SubSeven, NetBus, Deep Throat, Back Orifice và Bionet, đã được biết đến với phương thức này. d. Trojan horse Trojan horse malware chứa đựng nhiều payload cản trở cài đặt và chạy chương trình, như ngăn cản malware nhận ra malcode. Một số kĩ thuật che giấu bao gồm: Đổi tên malware thành những file giống với file bình thường trên hệ thống. Cản trở cài đặt anti-malware để không thể thông báo vị trí của malware. Sử dụng nhiều loại mã khác nhau để thay đổi đăng ký của malware nhanh hơn những phần mềm bảo mật. e. Adware/spyware Adware là phần mềm tạo ra trình đơn quảng cáo popup mà không có sự cho phép của người dùng. Adware thường được cài đặt bởi một thành phần của phần mềm miễn phí. Ngoài việc làm phiền, adware có thể làm giảm đáng kể sự thực thi của máy tính. Spyware là một phần mềm thực hiện đánh cắp thông tin từ máy tính mà người dùng không hề hay biết. Phần mềm miễn phí thường có rất nhiều spyware, vì vậy trước khi cài đặt cần đọc kĩ thỏa thuận sử dụng. f. Rootkits Rootkit là loại hoàn toàn khác biệt, chúng thường sửa đổi hệ điều hành hiện thời thay vì bổ sung những phần mềm ở mức ứng dụng mà những loại malware khác thường làm. Điều này rất nguy hiểm bởi vì những chương trình chống malware sẽ rất khó phát hiện được chúng. Có nhiều loại rootkits, trong đó có 3 loại được cho là nguy hiểm nhất, gồm: user-mode, kernel mode và firmware rootkits. 2. Hacking Techniques for Attacks (Những kỹ thuật hacker thường dùng với mục đích tấn công) a. Tin tặc (hacker): Phần lớn là những người am hiểu về bảo mật và các nguyên lý vận hành mạng Internet và máy tính. Mục đích của tin tặc khi đột nhập vào máy tính thường mang màu sắc phi lợi nhuận, chỉ để chứng tỏ tay nghề . Ngày nay, mục đích này đã dần biến mất và thay vào đó là các động cơ lớn hơn: tiền, thù hằn cá nhân, chính trị...   b. Bẻ khoá (cracker): Cũng rất nguy hiểm và gây thiệt hại lớn đối với doanh nghiệp. Những công việc "ưu thích" của loại người này là bẻ khoá phần mềm, sửa đổi trang Web, đánh cắp thông tin thẻ tín dụng, phá huỷ dữ liệu   c. Nội gián: Đó chính là nhân viên trong công ty, những người muốn có được thông tin cá nhân của người khác để thoả mãn tính tò mò hoặc phục vụ cho mục đích khác.    3. Email and Message Email hiện đã được xem là phương thức tấn công truyền thống. Trojan và các dạng phần mềm độc hại thường được giấu trong các email chui vào hộp thư của người dùng rồi từ đó đột nhập vào PC người dùng. Không những thế những email quan trọng còn có thể bị đánh cắp, làm sai lệch thông tin… Ngày càng có nhiều tổ chức mua bán các danh sách địa chỉ thư điện tử bất hợp pháp, và ngày càng có nhiều những người làm công việc tiếp thị bất hợp pháp tạo ra bom thư rác tới những địa chỉ email đó. 4. Web Application and Web 2.0 a. Mạng xã hội sẽ là đích ngắm Cái gì thu hút sự chú ý của nhiều người dùng Web là lại bị hacker nhòm ngó tới. Nếu Facebook và Twitter đang là xu hướng của giới văn phòng thì việc lợi dụng các mạng xã hội này để phát tán phần mềm độc hại, tấn công vào mạng lưới doanh nghiệp… cũng là xu hướng hiện nay của hacker. Khi vai trò của Web ngày càng mở rộng, việc chia sẻ nội dung qua Web trở thành xu hướng chủ đạo, giờ đây việc trao đổi qua mạng được đa dạng hóa rất nhiều, nhưng chủ yếu vẫn phát triển theo hướng chia sẻ. Chia sẻ qua mạng giúp người dùng nắm bắt thông tin nhanh hơn, đầy đủ hơn, và đa chiều hơn. Các mạng xã hội này còn bị lợi dụng để phát tán thư rác. Sau khi đánh cắp mật khẩu các tài khoản Facebook, tin tặc lợi dụng chính những tài khoản này để phát tán thư rác. Thường thì tâm lý người dùng ít khi đề phòng người gửi e-mail tới là bạn bè. Đó chính là khe hở chết người được tin tặc lợi dụng. Thư rác được phát tán đi dưới danh nghĩa những địa chỉ hợp pháp khiến cho người dùng ít khi cảnh giác, và vô hình chung giúp cho chiến dịch của tin tặc trở nên hiệu quả hơn. b.Dịch vụ rút ngắn điạ chỉ URL bùng nổ Do người dùng thường không để ý những địa chỉ URL rút ngắn khi chúng được gửi đến cho họ, nên những kẻ lừa đảo có thể ngụy trang những đường link mà người dùng có kiến thức trung bình về bảo mật có thể lưỡng lự nhấp chuột vào theo kỹ thuật này. Mục lục An ninh mạng 2010: Xu hướng tấn công kiểu cũ trở lại » Kỹ năng quản lý Cho dù là máy tính của bạn đã có 3 năm tuổi hay chỉ 3 ngày tuổi thì chúng đều phải đối mặt với những vấn đề bảo mật tương tự như nhau. Virus và sâu máy tính luôn luôn rình rập tấn công hệ thống của bạn mỗi khi bạn lên mạng; phần mềm gián điệp ẩn mình trong những bức thư điện tử hay cố gắng đột nhập hệ thống thông qua các quảng cáo trực tuyến.   Các con trojan hiểm độc bất cứ lúc nào cũng như theo từng bước chân của bạn trong cuộc sống trực tuyến và sẵn sàng cùng với bọn lừa đảo (phishing) sâu xé hệ thống nhằm ăn cắp thông tin cá nhân của bạn, phá hỏng hệ thống của bạn I. Cách tự vệ trước mối đe dọa an toàn thông tin máy tinh 1. Quảng cáo trong lốt cảnh bảo mật của hệ điều hành   Quảng cáo kiểu pop-up luôn luôn làm bạn cảm thấy bực mình. Nhưng nếu quảng cáo trực tuyến đó được đội lốt một cảnh báo của hệ điều hành với ý nghĩa bạn đang gặp một vấn đề về bảo mật thì nếu không cẩn thận sự bực mình của bạn có thể tăng lên gấp đôi.   Những người thiết kế kiểu quảng cáo này đã lợi dung tâm lý hay lo lắng cũng như sự thiếu thông tin kiến thức của người sử dụng để lừa họ vào trang web của mình hay tải về những phần mềm không hề mong muốn.   Thông thường những kiểu quảng cáo này được thiết kế nhưng một hộp thoại cảnh báo của Windows chẳng hạn nhưng bản chất nó vẫn là một quảng cáo. Tuy nhiên nhiều người thiết kế quảng cáo kiểu này còn đặt tiêu đề “Advertisement” ở góc phải màn hình nhưng nhiều người thì không để nhằm mục đích lừa người sử dụng hiểu lầm là họ thực sự đang có vấn đề và phải nhắp chuột vào “Yes” để nhận được sự trợ giúp.   Đáng buồn là cho dù bạn có nhắp chuột vào “Yes” hay “No” thậm trí là bất cứ nơi nào của “hộp thoại giả mạo này” thì bạn đề sẽ được chuyển ngay đến trang chủ của quảng cáo đó và “chào đón” một số phần mềm không hề mong muốn, thậm trí là cả virus, sâu máy tính hay trojan.   Vậy bằng cách nào có thể nhận ra đó là một cửa sổ của hệ điều hành thật sự và đâu là một quảng cáo? Thứ nhất bạn hãy thật sự bình tình khi thấy một cửa sổ kiểu hộp thoại cảnh báo đó xuất hiện và hãy quan sát thanh tiêu đề của hộp thoại đó, thanh trạng thaism phía góc trên cùng và dưới cùng của cửa số - đây chính là những điểm mấu chốt nói cho bạn biết đó là một cửa sổ Internet Explorer quảng cáo giả mạo hay là một hộp thoại cảnh báo thật sự của Windows.   Còn nếu bạn vẫn còn nghi ngờ thì hãy nhắp chuột phải vào hộp thoại đó và chọn thẻ “Properties” mọi thứ sẽ hiện ra trước mắt bạn. Một hộp thoại cảnh báo thật sự của IE sẽ thường bắt đầu bằng kiều “res:” còn nếu đó là quảng cáo thì sẽ có địa chỉ web thật sự. Điều quan trọng ở đây là bạn không nên phản ứng một cách quá nhanh chóng thiếu thận trọng khi phải đối mặt với những kiểu quảng cáo này. Đôi khi cũng có những ứng dụng của hãng thứ 3 đưa ra những cảnh báo như thế nhưng thật vẫn là thật mà giả mạo vẫn là giả mạo.   2. Những công cụ Windows sẽ nói lên tất cả   Sử dụng công cụ Windows Task Manager để kiểm tra những tiến trình (process) đang chạy dưới nền của hệ điều hành là một giải pháp khá tốt. Tuy nhiên, đôi khi công cụ này không thể tiết lộ toàn bộ những gì đang chạy đang ẩn dưới nền của hệ điều hành đặc biệt là những gì được gán “svhost”. Đây là những tiến trình mà Windows nhóm lại thành cái gọi là “services” – có rất nhiều các services khác nhau cùng hoạt động? Làm sao để biết được đây?   Để biết được chúng thì bạn cần phải có thêm các công cụ khác có thể chia nhỏ chi tiết các tiến trình phụ (sub-process).   3. Đăng kí tên miền cá nhân   ICANN - Tổ chức quản lý tên miền quốc tế - đặt ra quy định bạn phải cung cấp thông tin dữ liệu WHOIS về tên miền (domain) của bạn - tức là những thông tin về chủ sở hữu tên miền, địa chỉ liên lạc, điạ chỉ email … Những thông tin kiểu như thấy này thực sự quí giá đối với spam hay phishing. Để tránh thì bạn cần phải giấu biệt những thông tin như thế này. Làm sao để giấu đây?   Giải pháp thông thường là cung cấp thông tin giả mạo nhất là đại chỉ email, nhưng đây là một điều vô cùng nguy hiểm. Có rất nhiều người mất tên miền của mình do cung cấp thông tin giả mạo vì nhà cung cấp dịch vụ đăng ký tên miền không thể liên lạc với chủ sở hữu tên miền. Tuy nhiên một số nhà cung cấp dịch vụ đăng ký tên miền đã có giải pháp là đưa ra dịch vụ đăng ký tên miền cá nhân bí mật.   Sử dụng dịch vụ đăng ký của những nhà cung cấp dịch vụ kiểu này thì khi có người khác xem thông tin WHOIS thì thay vì nhìn thấy thông tin thật sự của bạn người ta chỉ có thể thấy được thông tin của nhà cung cấp dịch vụ. 4. Cẩn thận với những món hời Mỗi khi bạn tìm kiếm mua hàng trên Internet, bạn cần phải cẩn thận với những trang web mà bạn chưa hiểu rõ, chưa có mối quan hệ, chưa có sự tin tưởng hay bạn chưa hề biết đến ở bất kỳ đâu. Ngay cả những trang web được liệt kê trên danh sách kết quả tìm kiếm của Google hay một động cơ tìm kiếm nào khác cũng chưa chắc là đáng tin tưởng. Nhà cung cấp dịch vụ đâu có thời gian kiểm tra những trang web đó cho bạn. Có thể nói trong thời gian qua, các hãng bảo mật trên thế giới là có những đóng góp rất lớn trong việc “lột mặt nạ” rất nhiều trang quảng cáo bán hàng lừa đảo. Thông thường bọn lừa đảo trực tuyến đặt rất nhiều đường liên kết đến trang web của chúng trên các động cơ tìm kiếm cùng với những khuyến mãi giảm giá quá hời với hi vọng lôi kéo càng nhiều người vào trang web của chúng. Những liên kết kiểu này thường sẽ đưa người sử dụng đến các trang web có chứa các form mẫu yêu cầu người sử dụng phải điền đầy đủ thông tin về tên sở hữu, số, ngày hết hạn và số CVV của thẻ thanh toán. Sau khi người sử dụng cung cấp đầy đủ những thông tin trên thì họ lại chả được gì mà chỉ được một trang web báo lỗi cùng với những chỉ dẫn họ gửi tiền qua đường bưu điện. Nhưng thực chất họ đã mất đi quyền sở hữu thẻ thanh toán của mình, mất đi tiền của mình. Cũng là biện pháp lừa đảo đó nhưng bây giờ là phishing – hay là cách mà bọn lừa đảo trực tuyến giả mạo các công ty có danh tiếng gửi email đến cho khách hàng với nội dung chứa 1 liên kết mà ở đó họ cũng phải nhập các thông tin tương tự như đã kể trên. Biện pháp đã hoàn toàn thay đổi. Vì thế người sử dụng nên luôn luôn thận trọng nên tìm đến những trang web mua hàng trực tuyến đáng tin cậy và được nhiều người biết đến. Cận thận với cả những chào hàng giảm giá khuyến mại quá tốt quá hời. 5. Back-up trong Windows Ứng dụng Back-up của hệ điều hành Windows có một tính năng là sao chép dự phòng cho phép người sử dụng có thể khôi phục lại hệ thống một cách nhanh chóng trong trường hợp máy tính bị tấn công. Bình thường ứng dụng này sẽ back-up những phần sau đây: các tệp tin khởi động, hệ thống cơ sở dữ liệu đăng ký lớp COM+ và registry. Còn nếu PC đó thuộc về một khối tên miền (domain) nào đó thì sẽ sao chép lưu trữ thêm hệ thống thư mục động (Active Directory – NTDS) và SYSVOL. Còn nếu hệ thống là máy chủ thì toàn bộ dữ liệu cũng sẽ được sao chép lưu trữ. Có rất nhiều thảm hoạ kể cả thảm hoạ bảo mật cũng như các thảm hoạ khác có thể được khôi phục nhanh chóng từ những bản back-up kiểu này. Bên cạnh đó những chương trình Backup còn có tính năng lập lịch sao chép rất thuận lợi cho bạn. Giải pháp tốt nhất là bạn nên luôn luôn backup hệ thống của mình nhằm mục đích bảo vệ và phục hồi nhanh chóng hệ thống của mình một cách hiệu quả nhất. 6. Back-up Registry của hệ điều hành Windows Windows Registry là một cơ sở dữ liệu lưu trữ hầu hết mọi thông tin cấu hình của

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doctieu luan BVHTMT.doc
  • docmay lam nha.doc
Luận văn liên quan