Tiểu luận Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư, làm rõ sự cần thiết phải tuân thủ nguyên tắc này trong quá trình lập kế hoạch đầu tư và liên hệ với thực tế Việt Nam

Nền kinh tế xã hội của đất nước muốn phát triển với tốc độ cao và tăng trưởng bền vững cần phải đầu tư phát triển. Công cuộc đầu tư phát triển phải tiến hành trong thời gian khá dài và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Trong thời gian chuẩn bị đầu tư, khâu lập kế hoạch đầu tư là hết sức quan trọng, đầu tư sai, không đúng mục đích sẽ gây lãng phí các nguồn lực, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế xã hội đất nước; ngược lại đầu tư đúng mục đích, hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển nền kinh tế đất nước, các vấn đề xã hội cũng được giải quyết. Trong quản lý đầu tư và lập kế hoạch đầu tư, việc tuân thủ các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư cần phải được quán triệt và tuân thủ nghiêm túc nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển đúng hướng và bền vững. Kế hoạch hoá đầu tư, quản lý đầu tư đang được Đảng, Nhà nước quam tâm đặc biệt, được tập trung chỉ đạo và quyết liệt. Đây là vấn đề lớn đang đặt ra cho đất nước ta, cho mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi người dân đặc biệt là trong điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới hiện nay. Các nguồn vốn được huy động không chỉ từ trong nước mà còn từ nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, Việc tuân thủ tốt các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư đảm bảo cho các nguồn vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao và xây dựng, giữ uy tín vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế. Nếu các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư không được tuân thủ nghiêm túc sẽ gây ra những tổn thất lớn cho nền kinh tế, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Từ nguyên nhân đó, tiểu luận này với đề tài: “Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư, làm rõ sự cần thiết phải tuân thủ nguyên tắc này trong quá trình lập kế hoạch đầu tư và liên hệ với thực tế Việt Nam” nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư về mặt lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà nước và một số giải pháp đối với các chủ đầu tư góp phần vào sự thành công của các dự án đầu tư, đảm bảo mục tiêu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế đất nước. Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, tiểu luận gồm có ba nội dung: Phần I: Lý luận chung về nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư Phần II: Thực tiễn việc thực hiện nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư tại Việt Nam Phần III: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao việc tuân thủ các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư

doc28 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 13/04/2013 | Lượt xem: 5040 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư, làm rõ sự cần thiết phải tuân thủ nguyên tắc này trong quá trình lập kế hoạch đầu tư và liên hệ với thực tế Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 3 PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC LẬP KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ 3 1.1. Khái luận chung về Đầu tư 3 1.2. Sơ lược về kế hoạch hoá hoạt động Đầu tư phát triển 3 1.3. Các nguyên tắc lập kế hoạch Đầu tư 4 1.4. Sự cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc lập ké hoạch đầu tư 5 PHẦN II: THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC LẬP KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 9 2.1. Hạn chế của một số dự án đầu tư tại Việt Nam trong khâu lập kế hoạch Đầu tư 9 2.1.1. Các dự án xi măng tại Việt Nam hiện nay 9 2.1.2. Dự án đánh bắt cá xa bờ 10 2.1.3. Dự án mía đường 13 2.1.4.Chương trình 135 giai đoạn 2 16 2.2. Nguyên nhân những hạn chế của một số dự án đầu tư tại Việt Nam trong khâu lập kế hoạch Đầu tư 22 PHẦN III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC TUÂN THỦ CÁC NGUYÊN TẮC LẬP KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ 24 3.1. Một số kiến nghị đối với Nhà nước nhằm nâng cao việc tuân thủ các nguyên tắc lập kế hoạch Đầu tư tại Việt Nam 24 3.2. Một số giải pháp đối với Chủ đầu tư và các Doanh nghiệp 24 KẾT LUẬN 26 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27 LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế xã hội của đất nước muốn phát triển với tốc độ cao và tăng trưởng bền vững cần phải đầu tư phát triển. Công cuộc đầu tư phát triển phải tiến hành trong thời gian khá dài và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Trong thời gian chuẩn bị đầu tư, khâu lập kế hoạch đầu tư là hết sức quan trọng, đầu tư sai, không đúng mục đích sẽ gây lãng phí các nguồn lực, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế xã hội đất nước; ngược lại đầu tư đúng mục đích, hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển nền kinh tế đất nước, các vấn đề xã hội cũng được giải quyết. Trong quản lý đầu tư và lập kế hoạch đầu tư, việc tuân thủ các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư cần phải được quán triệt và tuân thủ nghiêm túc nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển đúng hướng và bền vững. Kế hoạch hoá đầu tư, quản lý đầu tư đang được Đảng, Nhà nước quam tâm đặc biệt, được tập trung chỉ đạo và quyết liệt. Đây là vấn đề lớn đang đặt ra cho đất nước ta, cho mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi người dân đặc biệt là trong điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới hiện nay. Các nguồn vốn được huy động không chỉ từ trong nước mà còn từ nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức,… Việc tuân thủ tốt các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư đảm bảo cho các nguồn vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao và xây dựng, giữ uy tín vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế. Nếu các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư không được tuân thủ nghiêm túc sẽ gây ra những tổn thất lớn cho nền kinh tế, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Từ nguyên nhân đó, tiểu luận này với đề tài: “Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư, làm rõ sự cần thiết phải tuân thủ nguyên tắc này trong quá trình lập kế hoạch đầu tư và liên hệ với thực tế Việt Nam” nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư về mặt lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà nước và một số giải pháp đối với các chủ đầu tư góp phần vào sự thành công của các dự án đầu tư, đảm bảo mục tiêu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế đất nước. Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, tiểu luận gồm có ba nội dung: Phần I: Lý luận chung về nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư Phần II: Thực tiễn việc thực hiện nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư tại Việt Nam Phần III: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao việc tuân thủ các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư Do hạn chế về thời gian nghiên cứu nên bài viết còn nhiều thiếu sót, mong nhận được sự cảm thông và góp ý của cô giáo để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn. NỘI DUNG PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC LẬP KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ Khái luận chung về Đầu tư Khái niệm Đầu tư: Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để thu được các kết quả đó. Có 3 loại hình đầu tư: Đầu tư phát triển: là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra các tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. Đầu tư tài chính: Là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lợi nhuận tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất của công ty phát hành (mua cổ phiếu…) Đầu tư thương mại: Loại hình đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư, tác động gián tiếp đến làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích luỹ của các hoạt động đầu tư này cho đầu tư phát triển nhằm thúc đẩy sự lưu thông, phân phối các sản phẩm do các kết quả của đầu tư phát triển tạo ra. Ba loại đầu tư này luôn tồn tại và có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Phạm vi nghiên cứu của môn học chỉ tập trung nghiên cứu về Đầu tư phát triển. Sơ lược về kế hoạch hoá hoạt động Đầu tư phát triển Kế hoạch hoá là nhận thức và phản ánh tính kế hoạch khách quan của nền kinh tế quốc dân thành hệ thống các mục tiêu , những định hướng phát triển kinh tế xã hội, những biện pháp, phương tiện và thời hạn thực hiện những mục tiêu đó nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Kế hoạch hoá hoạt động đầu tư phát triển là một nội dung của công tác kế hoạch hoá, là quá trình xác định mục tiêu của hoạt động đầu tư và đề xuất những giải pháp tốt nhất để đạt mục tiêu đó với hiệu quả cao nhất. Tác dụng của công tác kế hoạch hoá đầu tư: Một là kế hoạch hoá đầu tư cho biết mục tiêu và phương tiện để đạt được mục tiêu đầu tư, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế và cơ sở. Kế hoạch đầu tư cho phép hoạt động giữa các bộ phận, ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế cũng như của cơ sở. Một kế hoạch đầu tư hợp lý sẽ góp phần giảm bớt những thất thoát và lãng phí. Hai là kế hoạch đầu tư góp phần hạn chế và điều chỉnh những khuyết tật của nền kinh tế thị trường như hạn chế xu hướng đầu tư bất hợp lý, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng ngày càng hợp lý hơn, hạn chế việc phân hoá giàu nghèo. Kế hoạch hóa hoạt động đầu tư vừa là nội dung vừa là công cụ để quản lý hoạt động đầu tư. Các nguyên tắc lập kế hoạch Đầu tư Xuất phát từ các yếu tố, bản chất và tác dụng cũng như thực tế công tác Kế hoạch hoá đầu tư của Việt nam trong quá trình đổi mới đất nước, ta thấy kế hoạch hoá vẫn đóng vai trò quan trọng hiện nay, nó là công cụ quản lý kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô và là công cụ kinh doanh ở tầm vi mô. Cũng vì vai trò quan trọng đó việc lập kế hoạch đầu tư phải đảm bảo thực hiện và tuân thủ đúng 8 nguyên tắc cơ bản sau: (1) Kế hoạch đầu tư phải dựa vào quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, ngành, địa phương và cơ sở. (2) Kế hoạch đầu tư phải xuất phát từ tình hình cung cầu của thị trường. (3) Coi trọng công tác dự báo, phải có mục tiêu rõ ràng khi lập kế hoạch đầu tư trong cơ chế thị trường. (4) Đẩy mạnh công tác kế hoạch hoá đầu tư theo các chương trình, dự án. (5) Kế hoạch đầu tư của nhà nước trong cơ chế thị trường cần coi trọng cả kế hoạch định hướng và kế hoạch trực tiếp. (6) Phải đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, kịp thời và linh hoạt của kế hoạch. (7) Kế hoạch đầu tư của nhà nước phải đảm bảo những mặt cân đối lớn của nền kinh tế, kết hợp tốt giữa nội lực và ngoại lực, kết hợp hài hoà giũa lợi ích hiện tại và lợi ích lâu dài, lợi ích tổng thể với lợi ích cục bộ, lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn để xem xét đánh giá. (8) Kế hoạch đầu tư trực tiếp của nhà nước phải được xây dựng theo nguyên tắc từ dưới lên. 1.4. Sự cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc lập ké hoạch đầu tư Trên cơ sở các nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư trên thấy sự cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc này trong công tác lập kế hoạch đầu tư vì: (1) Kế hoạch đầu tư phải dựa vào quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, ngành, địa phương và cơ sở: Như ta biết Nhà nước thống nhất quản ý đầu tư và xây dựng đối với tất cả các thành phần kinh tế về mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, lãnh thổ, quy hoạch và kế hoạch xây dựng đô thị và nông thôn, quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, lựa chọn công nghệ, sử dụng đất đai tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thiết kế kỹ thuật, kiến trúc, xây lắp, bảo hiểm, bảo hành công trình và các khía canh xã hội khác của dự án. Các quy hoạch chiến lược và kế hoạch phát triển ngành, lãnh thổ nói riêng và của toàn đất nước nói chung đều được xây dựng một cách khoa học dựa trên tổng thể các nguồn lực, những lợi thế của từng ngành, vùng lãnh thổ và của đất nước. Nó hướng các đến mục tiêu chung và đảm bảo các ngành, vùng lãnh thổ khai thác, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, phát huy được lợi thế so sánh. Vì vậy các quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, ngành, địa phương và cơ sở là căn cứ khoa học để lập kế hoạch đầu tư trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như từng ngành, địa phương và tổ chức cơ sở. Bên cạnh đó nếu kế hoạch đầu tư dựa vào các quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế xã hội sẽ hướng kế hoạch đầu tư đó đạt được các mục tiêu phát triển lâu dài và hướng đến sự phát triển bền vững, tránh được tình trạng đầu tư tự phát, manh mún, tạo ra sự đồng bộ cũng như hiệu quả tổng thể trong đầu tư. Ngoài ra các các quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế xã hội khi xây dựng được dựa trên từ tình hình cung cầu của thị trường, do đó nếu kế hoạch đầu tư xây dựng căn cứ vào đó sẽ đảm bảo đáp ứng đúng và đầy đủ đòi hỏi thực tế của thị trường, từ đó sẽ đem lại tính khả thi cao của dự án đầu tư. (2) Kế hoạch đầu tư phải xuất phát từ tình hình cung cầu của thị trường: Khác với kế hoạch hoá trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, kế hoạch đầu tư trong cơ chế thị trường cần xuất phát từ tình hình cung cầu của thị trường. Căn cứ vào tín hiệu thị trường cho biết nên đầu tư cái gì sẽ có lợi nhất, phù hợp với thị trường nhất, nó đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của sản phẩm cũng như dự án. Căn cứ vào tín hiệu thị trường cho biết nên đầu tư bao nhiêu vốn, từ đó có kế hoạch cụ thể để xây dựng phương án nguồn vốn cũng như các nguồn lực khác để đảm bảo và có hiệu quả nhất cho dự án. Căn cứ vào tín hiệu thị trường cho biết nên đầu tư khi nào, thời điểm đầu tư cũng có quyết định rất quan trọng đến việc phát huy dự án sau này cũng như cơ hội đầu tư của dự án, sự thành công hay thất bại của dự án. Ngoài ra tuổi đời sản phẩm của dự án phụ thuộc rất nhiều vào thị trường, do đó việc quyết định đầu tư để đưa sản phẩm ra kịp thời cũng là yếu tố rất quan trọng trong đầu tư. Xuất phát từ các nhân tố trên việc dựa trên cơ sở nghiên cứu thị trường để quyết định phương hướng đầu tư là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn để đạt được hiệu quả của hoạt động đầu tư. Tuy nhiên cũng cần thấy rõ và phân tích kỹ để tránh vấp phải mặt trái của thị trường khi lập kế hoạch đầu tư. (3) Coi trọng công tác dự báo, phải có mục tiêu rõ ràng khi lập kế hoạch đầu tư trong cơ chế thị trường: Dự báo là một công cụ để kế hoạch, trong cơ chế thị trường kế hoạch định hướng giữ vị trí rất quan trọng nên cần phải phát huy hiệu quả công tác dự báo cả trong ngắn hạn và dài hạn, dự báo cung và cầu sản phẩm, dự bảo vốn và nguồn vốn đầu tư, dự báo tình hình đầu tư của các chủ thể. Bản chất của công tác kế hoạch là đưa ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, do đó phải xây dựng được các mục tiêu thực hiện cụ thể rõ ràng. Để có được các mục tiêu đó đòi hỏi phải làm công tác dự báo, công tác dự báo có chính xác, có được coi trọng thì mục tiêu và thực hiện mới đảm bảo đúng đắn, phù hợp và hiệu quả. Kế hoạch đầu tư có mục tiêu rõ ràng giúp cho việc kiểm tra việc sử dụng vốn đầu tư có đúng mục đích hay không. Hiện nay, nhu cầu về vốn lớn, nguồn lực thì hạn chế vì vậy qua kế hoạch đầu tư có mục tiêu rõ ràng thì việc phân bổ vốn sẽ hợp lý và đảm bảo đúng theo quy hoạch, định hướng của từng cơ sở, ngành, lĩnh vực kinh tế và nền kinh tế nói chung. (4) Đẩy mạnh công tác kế hoạch hoá đầu tư theo các chương trình, dự án: Điểm mới của kế hoạch trong cơ chế thị trường là việc lập kế hoạch theo chương trình phát triển dự án. Chương trình phát triển dự án là công cụ thực hiện kế hoạch, là tập hợp các mục tiêu, biện pháp nhằm phối hợp thực hiện một cách hiệu quả nhất mục tiêu kế hoạch đề ra trong điều kiện thời gian và nguồn lực nhất định. Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo cơ sở vật chất nhất định, nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc đơn vị trong khoảng thời gian xác định. Để dự án đầu tư khi đi vào hoạt động đạt được hiệu quả cao nhất về tổng hợp các mặt lợi ích, việc xây dựng dự án phải đảm bảo theo các nguyên tắc nhất định. Trong đó phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, địa phương và cả nước. Xuất pháp từ cơ sở đó thực chất của công tác kế hoạch hoá đầu tư theo chương trình và dự án là lập kế hoạch đầu tư phát triển trên cơ sở các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch, lựa chọn các vấn đề vào chương trình phát triển và xây dựng các dự án đầu tư để thể hiện chương trình đó. Thực hiện tốt các chương trình phát triển và dự án là cơ sở thực hiện thành công kế hoạch đầu tư. (5) Kế hoạch đầu tư của nhà nước trong cơ chế thị trường cần coi trọng cả kế hoạch định hướng và kế hoạch trực tiếp: Kế hoạch đầu tư của nhà nước cần đảm bảo những mặt cân đối lớn của nền kinh tế, phản ánh toàn bộ hoạt động đầu tư và có sự định hướng phân công đầu tư hợp lý giữa các thành phần kinh tế. Một số công trình đầu tư quan trọng, then chốt có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng và nguồn vốn đầu tư của nhà nước,.. cần được nhà nước lập kế hoạch đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên, Nhà nước quản lý quá trình đầu tư chủ yếu bằng pháp luật bằng các biện pháp khuyền khích hay hạn chế, bằng cơ chế chính sách, bằng các đòn bẩy kinh tế, sử dụng triệt để quan hệ thị trường và lợi ích vật chất. (6) Phải đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, kịp thời và linh hoạt của kế hoạch: Kế hoạch đầu tư phải dựa trên những căn cứ khoa học về khả năng và thực trạng vốn đầu tư, tình hình cung, cầu sản phẩm thị trường, chiến lược phương hướng phát triển kinh tế xã hội, chiến lược đầu tư chung của nền kinh tế, ngành, địa phương và đơn vị,.. Kế hoạch đầu tư phải đồng bộ giữa các nội dung đầu tư, giữa mục tiêu và biện pháp, đảm bảo tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý, đồng thời có tính linh hoạt cao. Kế hoạch sẽ được điều chỉnh khi thay đổi nhu cầu và nguồn lực thực hiện, dựa trên cơ sở khoa học để đảm bảo tính chính xác, đảm bảo khả năng thực hiện kế hoạch đầu tư và đảm bảo hiệu quả của kế hoạch đầu tư. (7) Kế hoạch đầu tư của nhà nước phải đảm bảo những mặt cân đối lớn của nền kinh tế, kết hợp tốt giữa nội lực và ngoại lực, kết hợp hài hoà giũa lợi ích hiện tại và lợi ích lâu dài, lợi ích tổng thể với lợi ích cục bộ, lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn để xem xét đánh giá: Kế hoạch đầu tư của nhà nước là bộ phận rất quan trọng của kế hoạch đầu tư nói chung. Với quy mô vốn lớn tập trung trong tay thành phần kinh tế nhà nước, nhà nước xây dựng và thực hiện các kế hoạch đầu tư có vị trí chiến lược quan trọng, có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tiềm năng đầu tư của các thành phần kinh tế khác và thu hút đầu tư nước ngoài. (8) Kế hoạch đầu tư trực tiếp của nhà nước phải được xây dựng theo nguyên tắc từ dưới lên: Để kế hoạch có tính thực thi cao, đặc biệt trong điều kiện sử dụng vốn nhà nước thì kế hoạch đầu tư cần được thực hiện từ dưới lên. Dự án đầu tư là công cụ thực hiện kế hoạch đầu tư của các tổ chức cơ sở. Cơ sở lập dự án đầu tư trình lên Bộ, ngành, địa phương. Nhà nước xem xét trên cơ sở đảm bảo sự cân đối chung của toàn bộ nền kinh tế giữa các ngành, các địa phương và cơ sở. Tổng hợp kế hoạch đầu tư theo các dự án của cơ sở sẽ là kế hoạch đầu tư của đơn vị và tư đó tổng hợp theo từng ngành, từng địa phương và cho cả nước. PHẦN II: THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC LẬP KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 2.1. Hạn chế của một số dự án đầu tư tại Việt Nam trong khâu lập kế hoạch Đầu tư Các dự án xi măng tại Việt Nam hiện nay Tình hình đầu tư thực tế hiện nay của toàn ngành xi măng còn nhiều bất cập, các nhà máy xi măng mới được xây dựng ồ ạt, tập trung ở một số vùng có khả năng gây trở ngại trong tiêu thụ và vận chuyển sản phẩm tiêu thụ cũng như vật tư đầu vào. Chẳng hạn như vùng Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An có tới hơn 10 nhà máy xi măng công suất hơn 20 triệu tấn, tuy nhiên tại khu vực này chưa có các cảng phù hợp để vận chuyển tiêu thụ ở các thị trường khác. Số liệu của Hiệp hội xi măng Việt Nam (VNCA) cho thấy, nhu cầu tiêu thụ xi măng năm 2006 của cả nước đạt 32,5 triệu tấn, cao hơn so với sản lượng khoảng 1 triệu tấn. VNCA dự báo trong giai đoạn 2007-2010, tốc độ gia tăng nhu cầu xi măng bình quân là 11% và đến năm 2010, nhu cầu tiêu thụ xi măng cả nước khoảng 50 triệu tấn. Trong khi đó, tính tới giữa năm 2006, cả nước có tổng công suất thiết kế là 24,7 triệu tấn xi măng (không bao gồm công suất các trạm nghiền xi măng). Hiện nay, có khoảng 30 dự án xi măng đang triển khai xây dựng với tổng công suất khoảng 35 triệu tấn xi măng. Như vậy đến năm 2010, công nghiệp xi măng Việt Nam sẽ có tổng công suất thiết kế khoảng 60 triệu tấn, thừa 10 triệu tấn so với nhu cầu. Trong khi đó, khả năng xuất khẩu sản phẩm này còn hạn chế do đặc thù của ngành, việc sản xuất chủ yếu phục vụ nhu cầu nội địa. Với tốc độ đầu tư xây dựng ồ ạt các nhà máy xi măng như hiện nay, đến năm 2010 tổng sản lượng xi măng cả nước sẽ lên tới 60 triệu tấn, vượt nhu cầu tới 10 triệu tấn và gây ra cuộc khủng hoảng thừa. Các cơ quan chức năng cần căn cứ vào quy hoạch và trình tự thời gian để cấp phép quy hoạch, tránh tình trạng đầu tư ồ ạt như hiện nay, tổng mức đầu tư lên tới hàng tỉ USD chưa phát huy hết hiệu quả, gây nên cạnh tranh nội bộ quyết liệt và tiềm ẩn hậu quả khôn lường. Kiến nghị các cấp có thẩm quyền nên cân nhắc thận trọng trong việc phê duyệt thêm các dự án mới sẽ đi vào sản xuất trong giai đoạn 2007-2010; thường xuyên kiểm tra quá trình xây lắp của các chủ đầu tư để đảm bảo tiến độ, nếu công ty yếu kém thì tìm cách sáp nhập với các đơn vị có năng lực. Từ khâu khai thác đá vôi cho đến hoạt động của các nhà máy xi măng đang để lại những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và cảnh quan đất nước. Dự trữ tài nguyên để sản xuất xi măng ở nước ta như đá vôi, đất sét, than...tuy dồi dào nhưng cũng là nguồn tài nguyên không tái sinh được. Vì vậy, Nhà nước cũng cần có chính sách và quy định sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên này. 2.1.2. Dự án đánh bắt cá xa bờ Dự án đánh bắt cá xa bờ không đảm bảo tính đồng bộ (đầu ra của sản phẩm); không xác định rõ mục tiêu của dự án. Chương trình đánh bắt hải sản xa bờ được Thủ tướng giao Bộ Thủy sản thực hiện. Dự án triển khai từ năm 1997 tại 29 tỉnh, thành phố với tổng số vốn tín dụng ưu đãi đã giải ngân hơn 1.340 tỷ đồng. Theo Bộ Thủy sản, tàu khai thác hải sản xa bờ đã hỗ trợ các đoàn tàu nhỏ hơn ra khai thác ở các vùng biển Vịnh Bắc bộ, DK 1, các vùng biển Đông và Tây Nam Bộ. Nhưng thực tế, hiệu quả kinh tế của chương trình này lại thấp. Nhiều dự án chỉ đánh bắt ở những ngư trường truyền thống gần bờ, chưa vươn ra khơi. Hơn 1.300 tàu đánh bắt hải sản đã được hoán cải và đóng mới bằng vốn vay của nhà nước. Nhưng có tới 520 tàu hoạt động không hiệu quả, 250 phương tiện không đi biển nằm phơi sương. Bộ Thủy sản thừa nhận đã lựa chọn chủ dự án đầu tư nhiều trường hợp không đúng đối tượng; lập, thẩm định xem duyệt các dự án đầu tư không chặt chẽ, không đủ các điều kiện theo quy định. Khi triển khai dự án, tại nhiều địa phương, chủ đầu tư được tập trung ưu tiên là các HTX. Hầu hết số này được thành lập sau
Luận văn liên quan