Tiểu luận Xử lý đất ô nhiễm vi sinh vật

Các nhà khoa học môi trường thế giới đã cảnh báo rằng: cùng với ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai cũng là vấn đề đáng báo động hiện nay, đặc biệt trong việc sử dụng nông dược và phân hoá học. Ô nhiễm đất không những ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản, mà còn thông qua lương thực, rau quả. ảnh hưởng gián tiếp tới sức khoẻ con người và động vật. Nguồn gây ô nhiễm này chủ yếu là chất thải chưa qua xử lý của người và động vật, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt. trong đó nguy hại lớn nhất là chất thải chưa được xử lý khử trùng của các bệnh viện truyền nhiễm. Rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng tiếp tục sinh sôi nảy nở trong đất, bám vào các cây trồng nông nghiệp và truyền vào cơ thể người, động vật. Ngoài những nguồn ô nhiễm trên, các hoạt động tưới không thích đáng, chặt cây rừng, khai hoang. cũng tạo thành các hiện tượng rửa trôi, bạc mầu, nhiễm phèn. trong đất. Theo thống kê, hàng năm diện tích đất này trên thế giới tăng từ 5.000.000 đến 11.000.000 ha Có thể thấy rằng vấn đề sử lí đất ô nhiễm đang là vấn đề bức thiết dặt ra cho môi quốc gia. Vì vậy trong bài tiểu luận này xin được trình bày một số biện pháp sử lí ô nhiễm đất do vi sinh vật. Đất thường bị nhiễm vi sinh vật trên một diện tích lớn nên các phương pháp ở đây là những phương pháp xử lí đất tại chỗ. Ta có thể thu gom đất ô nhiễm để xử lí bằng nhiều phương pháp khác nhau nhưng rất tốn kém không hiệu quả.

doc35 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 06/06/2013 | Lượt xem: 1512 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Xử lý đất ô nhiễm vi sinh vật, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VIỆN KHCN & QL MÔI TRƯỜNG ***** BỘ MÔN XỬ LÍ Ô NHIỄM VÀ THOÁI HÓA ĐẤT Tiểu luận: GVHD: GS. TSKH Lê Huy Bá SVTH: Bùi Thị Ngân Lớp : ĐHMT3A MSSV: 0770347 Tp Hồ Chí Minh, ngày0 3, tháng 05, năm 2010 Mục lục Phần Mở Đầu: Các nhà khoa học môi trường thế giới đã cảnh báo rằng: cùng với ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai cũng là vấn đề đáng báo động hiện nay, đặc biệt trong việc sử dụng nông dược và phân hoá học. Ô nhiễm đất không những ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản, mà còn thông qua lương thực, rau quả... ảnh hưởng gián tiếp tới sức khoẻ con người và động vật. Nguồn gây ô nhiễm này chủ yếu là chất thải chưa qua xử lý của người và động vật, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt... trong đó nguy hại lớn nhất là chất thải chưa được xử lý khử trùng của các bệnh viện truyền nhiễm. Rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng tiếp tục sinh sôi nảy nở trong đất, bám vào các cây trồng nông nghiệp và truyền vào cơ thể người, động vật. Ngoài những nguồn ô nhiễm trên, các hoạt động tưới không thích đáng, chặt cây rừng, khai hoang... cũng tạo thành các hiện tượng rửa trôi, bạc mầu, nhiễm phèn... trong đất. Theo thống kê, hàng năm diện tích đất này trên thế giới tăng từ 5.000.000 đến 11.000.000 ha Có thể thấy rằng vấn đề sử lí đất ô nhiễm đang là vấn đề bức thiết dặt ra cho môi quốc gia. Vì vậy trong bài tiểu luận này xin được trình bày một số biện pháp sử lí ô nhiễm đất do vi sinh vật. Đất thường bị nhiễm vi sinh vật trên một diện tích lớn nên các phương pháp ở đây là những phương pháp xử lí đất tại chỗ. Ta có thể thu gom đất ô nhiễm để xử lí bằng nhiều phương pháp khác nhau nhưng rất tốn kém không hiệu quả. Phần Nội Dung 1. Ô nhiễm vi sinh vật trong môi trường đât. 1.1 Khái niệm: Ô nhiễm vi sinh vật trong môi trường đất là sự suất hiện với số lượng bất thường các vi sinh vật gây hại cho người, động vật, cây trồng trong đất. Các vi sinh vật đó có thể là vi khuẩn, virus, nấm, protozoa. Vấn đề ô nhiễm vi sinh vật trong môi trường đất dễ dẫn đến các dịch bệnh gây thiệt hại lớn cho mùa màng và là nguyên nhân của nhiều loại bệnh cho con người, động vật tiếp xúc với đất. Ảnh hưởng của tính chất đất đến sự tồn tại, sự hấp thu các vi sinh vật gây ô nhiễm. Kích thước các hạt đất: đất càng mịn, khả năng giữ vi sinh vật trong đất càng lớn và ngược lại các hạt đất lớn sẽ tăng sự di chuyển của vi sinh vật đi xa Thành phần của đất: bao gồm các cation, khoáng chất tạo ra sự khác biệt pH; ion sắt, nhôm và pH trong đất thấp làm tăng khả năng hấp thụ vi sinh vật trên bề mặt đất; cation làm tăng sự hấp thu của đất do hạn chế lực đẩy giữa vi sinh vật và các hạt đất; các chất hữu cơ, axit humic và fulvic làm giảm tính bám của virus trên mặt đất Theo Birton, 1999 vi sinh vật gây bệnh sống lâu trong đất có nhiệt độ thấp, mùa đông sống lâu hơn trong mùa hè; các vùng ôn đới khả năng sống lâu hơn vùng nhiệt đới; Ánh sáng chiếu trực tiếp giết chết vi sinh vật nhanh hơn vùng không có ánh sáng; nếu không bị tái nhiễm, vi sinh vật gây ô nhiễm sống trên bề mặt đất ngắn hơn trong lớp đất sâu. Các mẫu đất có khả năng giữ nước cao làm tăng thời gian tồn tại của bào tử vi sinh vật: đất cát mầm bệnh sống ít hơn so với đất thịt và đất mùn; các vùng đất mực nước ngầm thấp, ẩm ướt có nguy cơ lan truyền vi sinh vật ra môi trường xung quanh nhanh hơn và rộng hơn. Sự cạnh tranh của hệ sinh vật trong đất: một số loài vi sinh vật môi trường có khả năng cạnh tranh sự sinh tồn của vi sinh vật gây bệnh trong đất; nhiều loại thực khuẩn thể, protozoa có khả năng diệt vi khuẩn gây bệnh, hạn chế sự tồn tại của chúng trong đất; các mẫu đất có hệ sinh vật phong phú quá trình vô cơ nhanh cũng làm giảm khả năng sống sót của mầm bệnh. Đặc điểm vi sinh vật: các vi khuẩn có nha bào như B.anthrasis, Clostridium tetani, Clostridium perfringens… có khả năng tồn tại lâu hơn  so với các vi khuẩn không có nha bào. Vi khuẩn gây bệnh đường ruột tồn tại trong đất lâu hơn so với các loại vi khuẩn khác. Chiều sâu đất(cm) Vi khuẩn Xạ khuẩn Nấm mốc Rong tảo 3 – 8 9750000 2080000 119000 25000 20 – 25 2179000 245000 50000 5000 35 – 40 570000 49000 14000 500 65 – 75 11000 5000 6000 100 135 – 145 1400 3000 Nguồn gốc của ô nhiễm vi sinh trong đất có thể đến từ việc sử dụng chất thải chăn nuôi cho đồng ruộng như bón phân ủ không đúng cánh, tưới nước thải, chôn lấp gia cầm, gia súc nhiễm bệnh, nước rỉ rác, ô nhiễm chất thải hữu cơ dễ phân hủy sinh học trong đất. 1.2 Vi khuẩn: Đất là môi trường mà vi sinh vật cư trú nhiều nhất so với các môi trường khác, trong đó phần đa làvi khuẩn chiếm số lượng nhiều nhất. Phần lớn các loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp đều có thể tồn tại và sinh trưởng tốt trong đất. Ở đây xin đề cập đến một số vi sinh vật gây ô nhiễm truyền bệnh cho con người. Staphylococcus aureus. Các bệnh về đường hô hấp, da và nhiễm trùng vết thương bề ngoài ở người đều có nguồn gốc phổ biến là do Staphylococcus aureusaureus .. When S. Khi S. aureus is allowed to grow in foods, it can produce a toxin that causes illness. aureus phát triển trong thực phẩm, nó có thể sản xuất một độc tố gây bệnh. Although cooking destroys the bacteria, the toxin produced is heat stable and may not be destroyed. Mặc dù nấu chín tiêu diệt các vi khuẩn, các độc tố sản sinh này bền và có thể không được tiêu diệt được.Ở điều kiện thích hợp, S. aureus phát triển nhanh chóng, và nhiều chủng có thể sản xuất độc tố. Độc tố heatstable nguy hiểm hơn là bản thân vi khuẩn. Nó gây ra viêm dạ dày ruột nặng (viêm niêm mạc dạ dày). Triệu chứng thường gặp là buồn nôn, nôn mửa, nôn khan, rút bụng, ra mồ hôi, ớn lạnh, yếu, xung yếu, sốc, suy hô hấp, và hạ nhiệt độ cơ thể. Clostridium perfringens C. perfringens is found in soil, dust and the gastrointestinal tracts of animals and man. C. perfringens được tìm thấy trong đất, bụi và đường tiêu hóa của động vật và con người. Nó là một vi khuẩn kị khí gây bệnh.When food containing a large number of C. Khi thực phẩm có chứa một số lượng lớn C. perfringens is consumed, the bacteria produce a toxin in the intestinal tract that causes illness. C. perfringens được tiêu thụ, các vi khuẩn sản xuất ra độc tố trong đường ruột gây ra bệnh tật, gồm 5 loại độc tố từ A đến E. Tiêu chảy và đau bụng nghiêm trọng là các triệu chứng phổ biến nhất khi ăn phải đồ ăn chứa vi khuẩn này. Salmonella Hiện có hơn 2.000 loài vi khuẩn Salmonella. Bệnh do nhiễm salmonella là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh từ thực phẩm. Triệu chứng bao gồm tiêu chảy, đau quặn bụng, ói mửa và sốt, mà thường kết thúc trong vòng 1-7 ngày. Trong những trường hợp cực đoan, nó có thể gây phản ứng viêm khớp và nhiễm trùng nghiêm trọng. Escherichia coli E. coli is a significant cause of diarrhea in developing countries and localities of poor sanitation. coli là một nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở các nước đang phát triển và các địa phương của vệ sinh kém. Có ít nhất bốn nhóm E. Coli coli : enterotoxigenic, enterinvasive, hemorrhagic, and enteropathogenic.: enterotoxigenic, enterinvasive, hemorrhagic, and enteropathogenic Each strain has different characteristics.. Mỗi dòng có những đặc trưng khác nhau. Một số giống sản xuất ra một loại độc tố heatstable, mà không thể bị phá hủy bởi nhiệt, hoặc độc tố một không bền nhiệt, có thể được phá hủy bởi nhiệt, hoặc họ sản xuất cả hai. Căn bệnh này cũng tương tự như dịch tả, tiêu chảy gây mất nước. các chủng khác xâm nhập các tế bào của ruột, gây ra các triệu chứng giống như bệnh lỵ tương tự như shigellosis. E. coli O157: H7 gây ra một căn bệnh nghiêm trọng đặc trưng bởi tiêu chảy ra máu và đau bụng nghiêm trọng, với khoảng 61 ca tử vong một năm. Các nguồn chủ yếu của vi khuẩn trong môi trường có lẽ là phân của người nhiễm bệnh, nhưng cũng thể do hồ chứa động vật. Feces and untreated water are the most likely sources for contamination of food. Đất và nước không được khử trùng là các nguồn có khả năng nhất cho sự nhiễm bẩn E. coli của thực phẩm. Listeria monocytogenes Listeria monocytogenes là một loại vi khuẩn có thể tồn tại trong các điều kiện bất lợi,It can grow in a pH range of 5.0-9.5 in good growth medium.nó có thể phát triển trong một phạm vi pH từ 5,0-9,5 mà vẫn tăng trưởng tốt. Những người có hệ miễn dịch kém như trẻ sơ sinh, người già, và cá nhân bị bệnh rất dễ bị bệnh bởi các loài của Listeria. Ở người, nhiễm phải vi khuẩn này có thể biểu hiện một căn bệnh giống như cúm hoặc các triệu chứng có thể quá nhẹ mà họ đi không chú ý đến. Đôi khi vi khuẩn Listeria có thể nhân lên trong cơ thể, gây nhiễm trùng huyết (máu nhiễm độc). Trong giai đoạn này, Listeria có thể truy cập tất cả các vùng cơ thể, bao gồm các bào thai của phụ nữ mang thai. Nếu bệnh xảy ra trong ba tháng cuối của thai kỳ, sinh vật có thể làm cho thai nhi sẽ được hủy bỏ hoặc chết lưu. Nhiễm trùng huyết và viêm màng não có thể xảy ra ở người lớn. Listeria được tìm thấy ở khắp mọi nơi trong tự nhiên. Clostridium botulinum Có bảy loại Clostridium botulinum, A đến G. Chúng là loài vi khuẩn sinh bào tử chịu nhiệt tốt. Tất cả các loại sản xuất neurotoxins đều gây độc đối với người và động vật. Một số loài nguy hiểm hơn những loài khác. Độc tố được hấp thu vào máu thông qua hô hấp hoặc dạ dày và ruột. Ngộ độc thực phẩm kết quả sau khi tiêu thụ thức ăn, nơi C.botulinum phát triển và sản xuất độc tố. Sau khi hấp thu, chất độc hại này không thể phục hồi liên kết với dây thần kinh ngoại vi. Các triệu chứng bao gồm buồn nôn, nôn, mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, khô da, miệng, rát cổ họng và táo bón,, tê liệt cơ bắp, tầm nhìn giảm, và khó thở. Những biểu hiện là từ 4 đến 36 giờ sau khi tiêu thụ thức ăn có chứa độc tố. Campylobacter jejuni C. jejuni lần đầu tiên được phân lập từ phân tiêu chảy của con người vào năm 1971. Since then it has continually gained recognition as a disease causing organism in humans. Kể từ đó nó đã liên tục được công nhận là một sinh vật gây bệnh ở người. C.jejuni là loại vi khuẩn không phát triển dưới 86 F, đòi hỏi ít hoặc không có ôxy cho sự tăng trưởng, phát triển chậm, ngay cả trong điều kiện tối ưu, và không cạnh tranh tốt với các vi sinh vật khác. Campylobacteriosis được cho là một nguyên nhân hàng đầu của bệnh dạ dày ruột cấp tính trong các triệu chứng bao gồm tiêu chảy ở người. Triệu chứng, đau bụng, buồn nôn và sốt. Một số lượng nhỏ của Campylobacter jejuni có thể gây bệnh. Tiếp xúc với đất nhiễm phân người và động vật là nguyên nhân gây bệnh cho người thông qua đất ô nhiễm đối với các nước đang phát triển. Bacillus cereus B. cereus is found in dust, soil and spices. B. cereus được tìm thấy trong bụi, đất và gia vị. It can survive normal cooking as a heat-resistant spore, and then produce a large number of cells if the storage temperature is incorrect. Nó có thể sống sót nấu ăn bình thường như là một bào tử chịu nhiệt, và sau đó nó sản sinh một số lượng lớn các tế bào nếu nhiệt độ lưu trữ không chính xácStarchy foods such as rice, macaroni and potato dishes are most often involved.. The spores may be present on raw foods, and their ability to survive high cooking temperatures requires that cooked foods be served hot or cooled rapidly to prevent the growth of this bacteria. Các bào tử có thể có mặt trên các loại nguyên liệu thực phẩm, và nó có khả năng tồn tại ở nhiệt độ cao. Hai độc tố của vi khuẩn Bacillus cereus gây nên bệnh từ thực phẩm. Nó gây tiêu chảy thường xảy ra trong vòng 8 đến 20 giờ nhiễm. 1.3 Virus: Virus có kích thước rất nhỏ bé. Chúng sống ký sinh trong các tế bào khác và chỉ có thể nhìn thấy chúng qua kính hiển vi điện tử. Virus ký sinh trong tế bào nên nó phụ thuộc vào tế bào chủ về năng lượng và các chất hoá sinh để sao chép tổng hợp protein. Chúng sử dụng ngay bộ máy hoá sinh của tế bào chủ để sinh sản cho nên sự nhân lên của virus sẽ làm chết hoặc hỏng tế bào, gây ra những căn bệnh rất nguy hiểm có thể lây lan thành đại dịch trên quy mô lớn hoặc có tính toàn cầu. Vius là nguyên nhân của rất nhiều đại dịch nguy hiểm ở người như AIDS, cúm (H5N1, H1N1,…), sởi, đậu mùa, bại liệt, viêm não Nhật Bản, viêm gan B. Vì vậy sẽ rất nguy hiểm nếu môi trường sống của chúng ta bị nhiễm bởi các loại virus này. Đối với cây trồng. Virus tạo ra rất nhiều điều bất thường có thể làm thay đổi hình thức và dáng vẻ từ chop rễ đến đỉnh ngọn của. Hai ảnh hưởng dễ thấy nhất là sự chuyển sang màu vàng và sự chết mô. Các triệu chứng này có thể xảy ra riêng biệt hoặc cùng một lúc. Các virus chỉ gây bệnh cho một số loại cây ở điểm bị thủng, nơi nó tấn công các tế bào ở gần vết thương, phần nhiều các virus gây bệnh theo cách lưu dẫn (nội hấp) trên cây chủ và làm thiệt hại rất nhiều. Virus tấn công bện trong một cây chủ thường tồn tại ở đó suốt cuộc đời của cây. Ở những cây sinh sản theo cách dinh dưỡng, sự tồn tại dai dẳng đem tới việc các đoạn của bị lây lan hoặc những phần tách chiết có mang virus. Các triệu chứng về virus biến thiên nhiều và không những tùy thuộc nơi loại cây chủ mà còn tùy thuộc nới nòi virus và nơi điều kiện môi trường như ánh sáng, nhiệt độ và dinh dưỡng. Thời gian giữa sự nhiễm bệnh và sự phát hiện triệu chứng cũng tùy thuộc nới virus và điều kiện môi trường.Nhiều giống virus không những làm đổi màu trong mô cây chủ mà còn hạn chế sự phát triển của cây và làm cho cây cằn cỗi mất sinh lực. Hầu hết các loại virus không thể sống sót trong một thời gian dài bên ngoài tế bào thực vật sống. Đó là nguyên nhân tại sao virus hiếm nếu chúng ta giết chết cây bị nhiễm. Hầu hết các triệu chứng do virus gây ra đều giảm năng suất và chất lượng hoa của cây.       Một vài loại cây trồng như khoai tây, rau diếp hay hoa cúc, sản lượng giảm có thể thấy chỉ trong một vụ. Và thông thường thì sự giảm sản lượng này đủ để chứng minh được có sự hiện diện của virus. Tuy nhiên, các loài phát triển chậm thì khó có thể xác định được sự có mặt của virus chỉ trong một mùa vụ.        Triệu chứng gây ra bởi virus thì rất nhiều. Chúng có thể không biểu hiện, mặc dù tồn tại trong cây, và gây ra các triệu chứng không nhìn thấy được. Hoặc những triệu chứng này có thể biểu hiện rất ít, không rõ, và có khi bị hoại tử.             Vì tính đa dạng của các loài, nên các triệu chứng này cũng rất khác nhau, thậm chí khác nhau trên từng cây.. Mỗi cây là một cá thể và phản ứng khác nhau với sự nhiễm virus. Một cây nhìn bình thường các thể có nhiều triệu chứng nhiễm virus trên bông, hoặc không có. Như vậy, rất khó có thể dự đoán chính xác virus có nhiễm và biểu hiện trên cây hay không.Các triệu chứng gây ra bởi bệnh virus có thể nhầm lẫn với các bệnh khác và cũng như các triệu chứng rối loạn sinh lý khác. Nhiều triệu chứng gây bệnh như bệnh úa vàng, bệnh đốm hay vệt hoại tử. Bệnh nấm và vi khuẩn, các vấn đề sinh lý như cường độ ánh sáng, chế độ phân bón và chế độ nước cũng gây nên các triệu chứng tương tự. Với kinh nghiệm trồng có thể phân biệt được các dấu hiệu đó với các triệu chứng được gây ra từ virus.Với một vài kinh nghiệm, nhà vườn vẫn có thể học cách nhận biết bằng mắt thường, tuy nhiên, có thể nhầm lẫn. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra nguyên nhân tại sao một vài loài biểu hiện những triệu chứng nghiêm trọng, trong khi một vài loài khác bị nhiễm vẫn khỏe mạnh. Điều này cho thấy sự cần thiết để thiết lập nên một quy trình chuẩn đoán bệnh virus chính xác hơn để bảo đảm được các loại thực vật sạch virus. 1.4 Nấm Nấm cũng là một loài vi sinh vật gây nên rất nhiều căn bệnh khó chịu cho người và động vật, nhưng đặc biệt nhất là tác hại của nó lên cây trồng. Vì vậy trong phần này xin đề cập đến tác hại của đất bị ô nhiễm bởi nấm gây nên cho cây trồng. Nấm và các vi sinh vật giống nấm gây bệnh là các vi sinh vật dị dưỡng - chúng cần một nguồn dinh dưỡng bên ngoài để phát triển và sinh sản. Các bệnh thối rễ và thân do tác nhân gây bệnh tồn tại trong đất là nguyên nhân gây thiệt hại năng suất nghiêm trọng cho cây trồng ở Việt Nam. Tính chất trồng trọt quanh năm tại các vùng châu thổ Việt Nam, sự lan truyền của các tác nhân gây bệnh trong nước tưới, thoát nước kém, cây giống không sạch bệnh và khí hậu nhiệt đới là những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh này. Bệnh do các tác nhân có nguồn gốc từ đất gây ra các triệu chứng không điển hình, như còi cọc, vàng lá, héo và chết cây. Những bệnh này do một số tác nhân gây bệnh phổ biến, bao gồm nấm, vi khuẩn gây bệnh và tuyến trùng ký sinh thực vật. Những tác nhân gây bệnh liệt kê ở Bảng 10.1 có những đặc tính chính sau: • chúng tồn tại trong đất qua một thời gian dài khi không có mặt ký chủ, và nguồn bệnh trong đất tăng dần qua vài năm (chu kỳ mùa vụ) • chúng đều có phổ ký chủ rộng, ngoại trừ các dạng loài (formae speciales) của Fusarium oxysporum • chúng có thể lan truyền theo: – nước tưới – đất do động vật và người mang – giống bị nhiễm bệnh (củ khoai tây, củ gừng, cây giống) • chúng thường không phân tán nhờ gió. Vi khuẩn gây bệnh héo cũng có thể tồn tại trong hạt giống. Các tác nhân và đặc tính các loại nấm gây bệnh phổ biến ở Việt Nam được trình bày trong bảng sau: Tác nhân gây bệnh Bệnh Phổ ký chủ Tồn tại Nhận xét Phythium speciesa (P.aphanidermatum, P.myriotilum, P.spinosum) Chết cây non, thối rễ con, thối rễ Rộng Bào tử trứng trong đất Du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc tưới nước Phytophthora palmivoraa Nhiều bệnh ở rễ cây, thân, lá, và quả của cây trồng lâu năm Rộng Bào tử hậu, sợi nấm trong tàn dư cây bệnh và có thể cả bào tử trứng trong đất Du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc tưới nước Phytophthora capsicia Thối gốc (héo nhanh) hồ tiêu, thối rễ ớt và các bệnh khác Rộng Bào tử hậu, sợi nấm trong tàn dư cây bệnh, trên ruộng và có thể cả bào tử trứng trong đất Du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc tưới nước Phytophthora nicotianaea Thối nõn dứa và các bệnh khác Rộng Bào tử hậu, sợi nấm trong tàn dư cây bệnh, trên ruộng và có thể cả bào tử trứng trong đất Bào tử hậu trong đất du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa trong nước tưới Fusarium oxysporum, f.sp.lycopersicia Héo Fusarium Cà chua Bào tử hậu trong đất xâm nhiễm cả rễ cây không phải là ký chủ Mạch dẫn hóa nâu Fusarium oxysporum, f.sp.pisia Héo Fusarium Đậu Hà Lan Bào tử hậu trong đất xâm nhiễm cả rễ cây không phải là ký chủ Mạch dẫn hóa nâu Fusarium oxysporum, f.sp.cubensea Héo Fusarium Chuối Bào tử hậu trong đất xâm nhiễm cả rễ cây không phải là ký chủ Mạch dẫn hóa nâu Sclerotinia sclerotiorum Thối thân và quả Rộng Hạch nấm lớn,màu đen trong đất Hạch nấm là dấu hiệu chuẩn đoán trên đồng ruộng Sclerotium rolfsii Thối gốc thân Rộng Hạch nấm tròn, nhỏ, màu nâu trong đất Hạch nấm là dấu hiệu chuẩn đoán trên đồng ruộng Rhizoctonia spa Cây chết non, thối rễ và thân Rộng Hạch nấm hoặc sợi nấm điển hình trên tàn dư cây bệnh trong đất Hạch nấm là dấu hiệu chuẩn đoán cho một số loài trên đồng ruộng, sợi nấm phân nhanh vuông góc trong mẫu cấy trên môi trường Verticillium alboatrumab Héo verticillium Rộng Sợi nấm trong tàn dư cây bệnh Mạch dẫn nâu hóa Verticillium dahliaeab Héo verticillium Rộng Hạch nấm cực nhỏ trong đất, sợi nấm trong tàn dư cây bệnh Mạch dẫn nâu hóa Ralstonia solanacearuma Héo vi khuẩn Rộng Vi khuẩn trong đất, tàn dư cây trồng và vật liệu nhân giống Thân hóa nâu và dịch khuẩn là những đặc tính chuẩn đoán trên đồng ruộng meloidogyne Tuyến trùng nốt sưng Rộng Tuyến trùng ngủ,nghỉ trong đất Tuyến trùng cái sống trong nốt sưng rễ - một đặc tính chuẩn đoán Tuyến trùng loét rễa Gây nên vết bệnh trên rễ và làm cây còi cọc Rộng Tuyến trùng ngủ nghỉ trong đất Có thể nhìn thấy các vết loét trên rễ bằng kính lúp cầm tay Plasmodiophora brassiae Sưng rễ cây thuộc họ thập tự Brassica và raphanus Bào tử dạng bảo tồn trong đất Các triệu chứng sưng rễ cây 2. Khử trùng xử lí ô nhiễm vi sinh vật trong môi trường đất. 2.1 Khử trùng bằng hơi nước nóng: 2.1.1 Tổng quan: Nền văn minh cổ như Ấn Độ và Ai Cập đã sử dụng hơi nước sinh ra thông qua việc sử dụng năng lượng bức xạ mặt trời trên đất tưới nước để khử trùng và làm sống lại đất canh tác của họ. Trong thời kì hiện đạ
Luận văn liên quan