Ảnh hưởng của sự kết hợp các loại kích thích tố đến sự sinh sản cá sặc rằn (trichogaster pectoralis, regan 1910)

Hiện nay ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) thế giới nói chung và ngành NTTS nước ta nói riêng đã và đang rất phát triển. Mặc dù thị trường giá cả thủy sản thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động nhưng sản lượng trong các lĩnh vực khai thác, đặc biệt là nuôi trồng không ngừng tăng lên. Chính sự phát triển quá ồ ạt và sự kiểm soát của nhà quản lý vẫn chưa được tốt lắm. Nên sản lượng giống loài thủy sản ngoài tự nhiên đã suy giảm đáng kể mà nhu cầu nuôi của người dân ngày càng tăng. Do đó lượng giống ngoài tự nhiên không thể đáp ứng được nhu cầu chủ động và chất lượng không được tốt. Nên việc cho sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế, gần gũi với người dân ta đã làm tốt được vấn đề này. Trong những loài cá nuôi phổ biến ở nước ta đặc biệt ở Đồng Bằng Sông Cửa Long (ĐBSCL) hiện nay cá Sặc Rằn cũng là một đối tượng đáng được chú ý. Cá Sặc Rằn là loài cá có phẩm chất thịt thơm ngon được nhiều người dân ưa thích cá có khả chịu đựng tốt với điều kiện môi trường nên thường được nhiều người dân chọn nuôi trong các mô hình như: VAC, HeoCá, Cá- Vịt do nhu cầu phát triển của nghề nuôi mà ngoài tự nhiên lượng con giống cũng không còn đảm bảo nên việc cho sinh sản nhân tạo cá Sặc Rằn đã ra đời và đã thành công: Sau đó qui trình này được nhiều tác giả nghiên cứu và chuyến giao cho người dân và cho đến nay đã được khẳng định. Mặc dù qui trình đã thành công nhưng để góp phần năng cao thêm chất lượng và hoàn thiện qui trình cho sinh sản nhân tạo cá sặc rằn, khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ (ĐHCT) đã phân công tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của sự kết hợp các loại kích thích tố đến sự sinh sản cá Sặc Rằn”.

pdf34 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 2408 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Ảnh hưởng của sự kết hợp các loại kích thích tố đến sự sinh sản cá sặc rằn (trichogaster pectoralis, regan 1910), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN Bộ môn: Kỹ Thuật Nuôi Thuỷ Sản Nước Ngọt PHAN VĂN THÁI ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ KẾT HỢP CÁC LOẠI KÍCH THÍCH TỐ ĐẾN SỰ SINH SẢN CÁ SẶC RẰN (Trichogaster pectoralis, Regan 1910) LUÂN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN 2009 2 LỜI CẢM TẠ Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho em được tham gia học tập tại trường. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Kiểm. Là người thầy đã tận tình chỉ dạy em trong suốt quá trình học tập và thầy còn là người hướng dẫn quan tâm chu đáo và chỉ bảo em suốt quá trình thực hiện đề tài. Em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các cán bộ, công chức thuộc khoa Thuỷ Sản và bộ môn Kỹ Thuật Nuôi Thuỷ Nước Ngọt đã tạo điều kiện để luận văn được hoàn thành. Xin gởi lời cảm ơn đến thầy Dương Nhựt Long và quí thầy cô trong Khoa Thủy Sản - Trường ĐHCT đã tận tình chỉ dạy em trong suốt quá trình học tập. Em xin gởi lời cảm ơn đến cố vấn học tập cô Lam Mỹ Lan đã rất nhiệt tình chỉ dạy, quan tâm tới tập thể lớp trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài. Cuối cùng em xin gởi lời cảm ơn đến các anh chị ở trung tâm Hoà An, các bạn trong Trại Cá Nước Ngọt, các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã giúp đỡ cho em hoàn thành tốt đề tài. 3 TÓM TẮT Cá Sặc Rằn một loài cá quen thuộc của ĐBSCL với phẩm chất thịt thơm ngon, khả năng chịu đựng tốt với các điều kiện môi trường nên được chú ý và ngày càng được nuôi rộng rãi Đề tài tiến hành kích thích cá Sặc Rằn sinh sản được thực hiện ở trung tâm Hoà An và Khoa Thuỷ Sản ĐHCT. Ở Trung Tâm Hòa An cho cá sinh sản được hai đợt ( với liều lượng kích thích tố là 3300UI HCG + 1.5mg Não Thùy đã cho kết quả tốt nhất ) kết quả thu được tỷ lệ cá đẻ 70 %, sức sinh sản thực tế 316012 tứng/ kg và cac chỉ tiêu như tỷ lệ thụ tinh 79,6% , tỷ lệ nở là 94,7 %. Đối với các nghiên cứu ở ĐHCT đã thực hiện hiện kích thích cá Sặc Rằn sinh sản với các tố hợp chất kích thích tố. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: nếu dùng LRH-a + DOM với liều lượng thấp hơn 150µg LRH-a + 10mg DOM thì cá sặc Rằn không đẻ. Trong khi đó ở các tố hợp chất kích thích khác đều có tác dụng kích thích cá sặc Rằn đẻ trứng nhưng tổ hợp chất kích thích có hiệu quả nhất là 100µg LRH-a + 5mg DOM + 2mg Não, 1500UI HCG + 50µg LRH-a + 5mg DOM, 50µg LRH-a + 5mg DOM + 3mg Não + 1000UI HCG. 4 MỤC LỤC LỜI CẢM TẠ .......................................................................................................... 1 TÓM TẮT................................................................................................................ 2 GIỚI THIỆU ............................................................................................................ 3 Mục tiêu đề tài: ........................................................................................................ 3 Nội dung của đề tài .................................................................................................. 3 LƯỢC THẢO TÀI LIỆU ......................................................................................... 4 2.1. Sơ lược về đặc điểm sinh học cá Sặc Rằn (Trichoraster pectoralis, Regan 1910)4 2.1.1. Đặc điểm phân loại ......................................................................................... 4 2.1. 2. Đặc điểm phân bố .......................................................................................... 4 2.1.3. Đặc điểm môi trường sống.............................................................................. 5 2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng ..................................................................................... 5 2.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng ..................................................................................... 5 2.1.6. Đặc điểm sinh sản........................................................................................... 5 2.2 Cho Cá Sặc Rằn Sinh Sản................................................................................... 6 2.2.1Biện pháp cổ truyền .......................................................................................... 6 2.2.2 Biện pháp sinh sản nhân tạo............................................................................. 7 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................. 10 3.1 Vật liệu và địa điểm thí nghiệm....................................................................... 10 3.1.1 Vật liệu thí nghiệm……………………………………………..………..10 3.1.2 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài......................................................10 3.2 Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 10 3.2.1Nội dung Thực Hiện Ở Hoà An ...................................................................... 10 III.2.2 Nội Dung Thực Hiện Ở Khoa Thuỷ Sản ĐHCT ........................................... 11 III.2.3 Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................... 12 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................................ 13 4.1 Kết quả............................................................................................................. 13 4.1.1 Kết Quả Thực Hiện Ở Trung Tâm Hoà An .................................................... 13 4.1.2 Kết Quả Thực Hiện Ở Khoa Thuỷ Sản Trường ĐHCT................................... 16 4.1.2.1 Thí Nghiệm 1 Kích thích cá sinh sản bằng kích thích tố LRH-a + DOM. .... 16 4.1.2.2 Thí Nghiệm 2 Sử dụng kích thích tố là LRH-a + DOM + Não Thuỳ. .......... 17 4.1.2.3 Thí Nghiệm 3 Kết quả sử dụng tổ hợp HCG + LRH-a + DOM kích thích cá Sặc Rằn sinh sản. .......................................................................................................... 19 4.1.2.4 Thí Nghiệm 4 Kích thích cá Sặc rằn sinh sản với tổ hợp HCG + Não thuỳ + LRH- a + DOM……………………………………………………………..........................22 So sánh kết quả trung bình giữa các thí nghiệm...................................................... 26 4.2 Thảo Luận ........................................................................................................ 29 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................................................... 31 5.1 KẾT LUẬN...................................................................................................... 31 5.2 Đề Xuất ............................................................................................................ 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 32 5 PHẦN I GIỚI THIỆU Hiện nay ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) thế giới nói chung và ngành NTTS nước ta nói riêng đã và đang rất phát triển. Mặc dù thị trường giá cả thủy sản thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động nhưng sản lượng trong các lĩnh vực khai thác, đặc biệt là nuôi trồng không ngừng tăng lên. Chính sự phát triển quá ồ ạt và sự kiểm soát của nhà quản lý vẫn chưa được tốt lắm. Nên sản lượng giống loài thủy sản ngoài tự nhiên đã suy giảm đáng kể mà nhu cầu nuôi của người dân ngày càng tăng. Do đó lượng giống ngoài tự nhiên không thể đáp ứng được nhu cầu chủ động và chất lượng không được tốt. Nên việc cho sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế, gần gũi với người dân ta đã làm tốt được vấn đề này. Trong những loài cá nuôi phổ biến ở nước ta đặc biệt ở Đồng Bằng Sông Cửa Long (ĐBSCL) hiện nay cá Sặc Rằn cũng là một đối tượng đáng được chú ý. Cá Sặc Rằn là loài cá có phẩm chất thịt thơm ngon được nhiều người dân ưa thích cá có khả chịu đựng tốt với điều kiện môi trường nên thường được nhiều người dân chọn nuôi trong các mô hình như: VAC, Heo- Cá, Cá- Vịt…do nhu cầu phát triển của nghề nuôi mà ngoài tự nhiên lượng con giống cũng không còn đảm bảo nên việc cho sinh sản nhân tạo cá Sặc Rằn đã ra đời và đã thành công: Sau đó qui trình này được nhiều tác giả nghiên cứu và chuyến giao cho người dân và cho đến nay đã được khẳng định. Mặc dù qui trình đã thành công nhưng để góp phần năng cao thêm chất lượng và hoàn thiện qui trình cho sinh sản nhân tạo cá sặc rằn, khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ (ĐHCT) đã phân công tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của sự kết hợp các loại kích thích tố đến sự sinh sản cá Sặc Rằn”. Mục tiêu đề tài: Nhằm tìm ra loại kích thích thích tố và liều lượng thích hợp để kích thích cho cá Sặc Rằn sinh sản đạt hiệu quả cao. Nội dung của đề tài Kích thích cho cá sinh sản. Theo dõi tỷ lệ cá đẻ Sức sinh sản thực tế Tỷ lệ thụ tinh Tỷ lệ nở 6 PHẦN II LƯỢC THẢO TÀI LIỆU 2.1. Sơ lược về đặc điểm sinh học cá Sặc Rằn (Trichoraster pectoralis, Regan 1910) Hình 2.1 Cá Sặc Rằn đực Hình 2.2 Cá Sặc Rằn cái 2.1.1. Đặc điểm phân loại Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương ( 1993 ) cá Sặc Rằn có hệ thống phân loại như sau Ngành: Vertebrata Ngành phụ: Craniata Tổng lớp: Gnathostomata Lớp: Osteichthyas Lớp phụ: Actinopterygii Tổng bộ: Percimospha Bộ: Perciformes Bộ phụ: Anabantoidei Họ: Anabantidae Giống: Trichogastes Loài: Trichogastes pectoralis (Regan 1910) 2.1. 2. Đặc điểm phân bố 7 Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) cá sặc rằn phân bố tự nhiên ở các thủy vực vùng Đông Nam Á và Nam Việt Nam. Cá sinh sản tự nhiên trong ao, mương, kênh, rạch, rừng Tràm và ruộng lúa… Cá thích sống ở những thủy vực có nhiều cây cỏ thủy sinh với nhiều chất hữu cơ. Ngoài ra cá có thể sống được trong môi trường nước lợ có nồng độ muối 6-7‰ 2.1.3. Đặc điểm môi trường sống Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) cá sặc rằn cũng có khả năng chịu đựng được môi trường nước bẩn, hàm lượng hữu cơ cao cũng như môi trường có độ pH thấp (pH = 4 - 4,5) nhiệt độ thích hợp cho cá sinh trưởng và phát triển là từ 24-300c, nhiệt độ thích ứng của ca là 11 - 39oc. 2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng Theo Nguyễn Văn Kiểm (1999) trích dẫn bởi Huỳnh Thanh Lắm (2000) trong điều kiện nhiệt độ nước từ 27- 29ºC thì trứng sẽ nở sau 20 -23 giờ. Cá sau khi nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 2-3 ngày. Sau khi tiêu hết noãn hoàng, cá con di chuyển xuống lớp nước dưới để tìm mồi. Cá sặc rằn thuộc loài cá có tốc độ sinh trưởng chậm, sau 7-10 tháng nuôi, trung bình cá đạt trọng lượng 50-100g/con. Trường hợp cá biệt người ta đã tìm thấy chiều dài tối đa của cá đạt khoảng 25cm. Cá cái thường có trọng lượng lớn hơn cá đực và thường lớn nhanh hơn cá đực. 2.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng Cũng như nhiều loài cá khác, ở thời kỳ đầu sau khi nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Sau khi hết noãn hoàng cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài, thức ăn cho cá con ban đầu là động vật phiêu sinh nhỏ như luân trùng, các chất hữu cơ lơ lửng trong nước, tảo phù du. Đến khi trưởng thành, cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá phát triển đầy đủ hơn, phù hợp với tính năng của loài hơn. Cá lớn sử dụng nhiều loại thức ăn hơn và ăn thiên về thực vật. Ngoài ra cá cũng sử dụng được nhiều loại thức ăn do con người cung cấp như: các loại bột ngũ cốc, xác bã động vật, bột cá…Khi thiếu thức ăn, chúng có thể ăn trứng của chính nó 2.1.6. Đặc điểm sinh sản Theo Phạm Văn Khánh (2005) trong tự nhiện, cá thành thục sinh dục và tham gia sinh sản lần đầu khoảng 6 tháng tuổi. Tuy nhiên, khi nuôi cá trong ao cá đẻ quanh năm và không có mùa rỏ rệt theo Hora và Pillay ( 1962 ) trích dẫn bởi Châu Thị Hoàng Điệp ( 1998 ), Theo 8 Nguyễn Văn Kiểm ( 2004 ) thì cá đẻ quanh năm nhưng tập trung vẫn là vào tháng mùa mưa từ tháng 4-10. Đối với một số loài cá ở ĐBSCL thì cá cũng tập trung sinh sản vào những tháng mùa mưa như theo Ngô Thị Hạnh ( 2001 ) thì cá Lóc Đen sinh sản quanh năm nhưng thường tập trung từ tháng 5 -7 dương lịch và đẻ rộ sau những cơn mưa lớn. Khi trưởng thành và ở giai đoạn thành thục ta cũng có thể dễ dàng phân biệt được cá đực và cá cái. Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) có thể phân biệt cá đực là có vây lưng dài và nhọn, thân hình thon, bụng nhỏ, màu sắc cá đực cũng sặc sỡ hơn cá cái. Ngược lại cá cái có vây lưng tròn và ngắn, thường không vượt qua cuốn vây đuôi. Cá cái thành thục bụng cá cái mang trứng căng tròn. Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) trong tự nhiên cá đẻ trong ruộng lúa, ao nuôi, nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh. Khi sinh sản, cá đực và cá cái bắt cặp tìm nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh, ven bờ và kín đáo. Cá đực làm tổ bằng nước bọt dưới những tán hay lùm của cây cỏ. Sau đó cá đực đưa cá cái đến gần tổ và cong mình ép cá cái đẻ trứng vào trong tổ. Trứng cá sặc rằn thuộc loại trứng nổi do có giọt dầu lớn, và màu vàng nhạt. Những trứng rơi vảy ra ngoài được cá đực gom lại và đưa vào tổ. Sau khi cá đẻ xong, cá đực bảo vệ trứng chống lại những cá khác xâm nhập vào tổ, ngay cả cá cái. Theo Nguyễn Văn Bình (2000) kể từ khi trứng được thụ tinh trong điều kiện nhiệt độ nước từ 27-29OC thì trứng sẻ sau 20-23giờ. Theo Phạm Văn Khánh (2005) sức sinh sản của cá khoảng 200.000- 300.000 trứng/kg cá cái, thời gian tái phát dục 25-30 ngày, cá có thể đẻ 3-4 lần trên năm 2.2 Cho Cá Sặc Rằn Sinh Sản 2.2.1Biện pháp cổ truyền Theo Lê Như Xuân (1997) trích dẫn bởi Nguyễn Văn Bình (2000) thì vùng phân bố tập trung của cá Sặc Rằn ở ĐBSCL là U Minh Thượng thuộc hai tỉnh là Cà Mau và Kiên Giang. Đặc điểm chung của hai vùng đất này là đất phèn trung bình và nhẹ, nhiểm mặn vào mùa khô, hoạt động nuôi cá có quan hệ chặc chẻ với hoạt động sản xuất nông nghiệp mà trong đó sự biến động mực nước trên ruộng quyết định hiệu quả sản xuất cá. Vào mùa mưa nhiệt độ hạ thấp, mức nước tăng dần làm thay tính chất của môi trường nước kích thích sự phát triển của thức ăn tự nhiên đã thúc đẩy cá tìm nơi thích hợp để sinh sản. Việc nuôi cá và cho cá Sặc Rằn đẻ theo 9 phương pháp cổ truyền đã có từ lâu ở một số gia đình rừng U Minh thượng thuộc tỉnh Cà Mau và Kiên Giang. Song sự phát triển rộng thành phong trào nuôi mới bắt đầu từ năm 1980 khi sản lượng cá tự nhiên giảm súc đáng kể. Thực chất của hình thức nuôi ở đây là giữ cá nhỏ lại trong ao mương vào mùa khô để thả lên ruộng vào mùa cấy kế tiếp. Cá bố mẹ đuợc giữ làm giống cũng được giữ lại trong ao vào mùa khô, cho đến thời điểm cuối mùa khô theo tập quán cổ truyền làm lúa trong v ùng rơm rạ trên ruộng được đốt thành tro để làm giảm bớt độ phèn và tăng them phân cho lúa. Khi mùa mưa tới nược được tích dần tới khi mực nước trên ruộng cao khoảng 10-12cm (vào tháng năm đến tháng sáu) đây là thời điểm tốt nhâđể thả cá lên ruộng. Sau 5-7 ngày thả cá lên ruộng cá đẻ rộ. Cá con sinh ra và lớn lên trong ruộng lúa với nguồn thức ăn tự nhiên. Mức nước trong ruộng tăng dần và đạt khoảng 40-50cm vào tháng 9- 10. Đến tháng 12 nước rút cạn cá dồn xuống chổ chũng rồi trở về ao hoặc mương, cá sống ở đây thêm 1-2 tháng nửa cho tới thu hoạch rồi sau đó lại tiếp tục một chu kỳ nuôi mới. 2.2.2 Biện pháp sinh sản nhân tạo Việc cho cá sinh sản tự nhiên theo phương pháp cổ truyền đã không mang lại hiệu quả kinh tế cao và không chủ động nguồn con giống do nhu cầu nuôi ngày càng tăng. Theo Phạm Văn Khánh (2005) thì cá sặc rằn là loài cá bản địa của ĐBSCL. Từ những năm 1985-1990 cá sặc rằn là đối tượng nuôi trong cơ cấu đàn cá của một số tỉnh ĐBSCL. Con giống thả nuôi được đánh bắt chủ yếu ngoài tự nhiên. Theo Phạm Văn Khánh (2005) thì từ những năm 2000 được sự hỗ trợ của dực án khuyến ngư, cá sặc rằn đã được nghiêm cứu về sinh học và đã cho đẻ nhân tạo thành công tại Tiền Giang. Do đó việc cho cá sinh sản nhân tạo đã được nghiên cứu và mang lại những thành công nhất định và được chuyển giao cho nhiều người dân. Để nâng cao hiệu quả sinh sản cá, con người đã dùng nhiều phương pháp tác động đến quá trình sinh sản bằng cách gây ra những tác động bên ngoài và bên trong cơ thể cá. Nhưng phổ biến nhất là dùng kích thích tố để kích thích cho cá sinh sản, kích thích tố thường dùng là: HCG, LRH-a, não thuỳ cá… Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) khi kích thích thích cho cá sinh sản có thể sử dụng kết hợp nhiều loại kích thích tố khi cho cá đẻ để phát huy tính cộng hưởng tác dụng của kích thích tố, từ đó có thể nâng cao được hiệu quả sinh sản. Mục đích của sự kết hợp này làm tăng hoạt tính và bổ sung sự khiếm khuyết một yếu tố nào đó của kích thích tố. Từ đó sẽ làm tăng khả năng rụng 10 trứng và đẻ trứng của cá. Ngoài ra sự kết hợp kích thích tố cũng có khả năng tiết kiệm một loại kích thích tố nào đó.  HCG HCG là kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau thai được Zondec và Aschaein phát hiện năm 1927 trong nước tiểu của phụ nữ có thai. Vào năm 1936 Morozova đã thành công khi dùng nước tiểu của phụ nữ có thai để gây rụng trứng cho Perca pluviatihs và có thể nói đây là công trình đầu tiên về việc sử dụng HCG cho cá sinh sản Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) cho thấy ở đầu vụ sinh sản, do tính nhạy cảm của nang trứng chưa cao đặc biệt là sự tiếp nhận của nang trứng đối với yếu tố gây chín và rụng trứng. Do đó ở đầu mùa sinh sản nếu chỉ sử dụng HCG đơn thuần thì tỷ lệ cá đẻ thường thấp ( do HCG không tham gia vào quá trình thành thục của trứng ), trong khi đó nếu kết hợp thì tỷ lệ cá rung trứng và đẻ trứng có thể tăng thêm 10-15% ( do trong não thuỳ có yếu tố thúc đầy cá thành thục thêm một bước là FSH ). Tỷ lệ não thuỳ là 30% so với tổng liều lượng. HCG là loại kích dục tố được dùng có hiệu quả cho nhiều loài cá. Ngoài các loài cá Mè, cá Trê, cá Sặc… ở nước ngoài còn dùng cho cá Chình, cá Vược Vằn, cá Bơn theo Nguyễn Tường Anh (1999) trích dẫn bởi Trần Thị Trang (2001) . Theo Nguyễn Văn Kiểm (1999) trích dẫn bởi Trần Thị Trang (2001) liều lượng HCG sử dụng cho cá phụ thuộc vào độ tinh khiết của chế phẩm và sự thành thục của cá.  Não Thuỳ Cá Theo Nguyễn Tường Anh (1999) trích dẫn bởi Trần Thị Trang (2001) não thuỳ cá thường dùng ở hai dạng tươi và khô, đây là loại kích dục tố khi tiêm ít xảy ra phản ứng phụ. Liều lượng thay đổi theo sự thành thục của cá cho và cá nhận não, đơn vị tính là mg/kg cá cái. Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) thì não thuỳ là loại kích thích tố có thể thúc đẩy trứng thành thục thêm một bước ( phản ứng 1) và gây ra phản ứng chín và rụng trứng ở cá. Người ta thường lấy não thuỳ từ những cá thuộc các loài cá Chép, Trắm, Mè, Trê đã thành thục và còn sống vì cá chết sau vài giờ hoạt tính kích dục tố chỉ còn khoảng 50%(Marces, 1980). Cá có hệ số thành thục càng cao, càng gần với thời điểm sinh sản thì hoạt tính kích dục tố càng cao. 11 Việc định liều lượng não cho cá bố mẹ các loài phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : chất lượng hoạt tính của não thuỳ, tình trạng thành thục của cá bố mẹ( mức độ thành thục, hệ số thành thục, các điều kiện môi trường…theo Nguyễn Tường Anh(1999) trích dẫn bởi Trần Thị Trang (2001)  LRH-a ( Lutienizing Releasing Hormon) LRH-a là một dạng của GnRH-a_Hormon phóng kích dục tố. LRH-a thường được sử dụng kèm với các chất kháng Dopamin ( chất gây ức chế sự tiết kích dục tố ). Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) chất kháng dopamin hiện nay sử dụng kết hợp với GnRHa domperidin hoặc pimozide. Motilium là một trong những sản phẩm thương mại của domperidone. GnRHa được sử dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay vì có một số ưu điểm +GnRH có thể tổng hợp được nên hoạt tính luôn ổn định. +Tránh được sự lan truyền của bệnh ( vấn đề thường gặp khi sử dụng não thuỳ ). + Sử dụng được trên nhiều loại cá khác nhau. Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) thì LRH-a là loại kích thích cá tiết GtH- I, GtH-II điều khiển phản ứng 1 và 2. Đây là loại kích dục tố đạt hiệu quả cao khi kích thích nhiều loài cá sinh sản. Tuy nhiên theo Nguyễn Thị Ngọc Thuý ( 1998 ) khi sử dụng hormone kích thích cá sing sản cần chú ý tới các yếu tố sau: Thời vụ Kích cở cá bố mẹ Số lần tiêm Chất lượng kích dục tố . 12 PHẨN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
Luận văn liên quan