Báo cáo Thực hành môn công nghệ sản xuất đồ uống

Rượu là một loại đồ uống có lịch sử hàng ngàn năm, nó có mặt trong hầu hết các lễ nghi và phong tục của hầu hết các nước trên thế giới, mỗi nước mỗi vùng lại có một loại rượu đặc trưng và là niềm tự hào của các vùng. Thành phần chính của rượu là: rượu etylic (etanol: C2H5OH), nước, và các cấu tử khác tuỳ thuộc vào cách sản xuất, loại nguyên liệu, cách pha chế, tàng trữ . chính các cấu tử khác này tạo nên nét đặc trưng của mỗi loại rượu, mỗi địa phương mà nơi khác khó có thể bắt chước được vì phần lớn nó được các gia đình giữ kín, không truyền cho người ngoài.

doc89 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 7448 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Báo cáo Thực hành môn công nghệ sản xuất đồ uống, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Viện: Công Nghệ Thực Phẩm & Sinh Học Môn thực hành: CNSX Đồ Uống Báo cáo thực hành: Cồn, Rượu, Bia, Nước Giải Khát GVHD: Th.s Trần Thị Mai Anh SVTH : Tổ 5 Nhóm3 LỚP : DHTP3 NIÊN KHÓA : 2007 – 2011 TP.Hồ Chí Minh,ngày 18 tháng10 năm 2010 Danh Sách Sinh Viên HỌ VÀ TÊN MSSV Vũ Thị Sinh 07720861 Nguyễn Thị Thu Thảo 07713321 Tiêu Thị Kim Phúc 07705991 Hồ Thị Thu Nguyệt 07707801 Phùng Thị Huỳnh Như 07702831 Nhận Xét Của Giáo Viên Mục Lục Danh sách tổ 2 Nhận Xét xủa giáo viên 3 Bài 1: Rượu Truyền thống 5 Bài 2: Sản Xuất Rượu chưng cất theo phương pháp EnZyme 18 Bài 3: Xác định độ rượu của dịch giấm 26 Bài 4: sản Xuất nước trích ly 28 Bài 5: Nấu môi trường dinh dưỡng nấm men 37 Bài 6: Sản Xuất Nước giải Khát Lên Men 40 Bài 7-8: Công nghệ sản Xuất Bia 48 Bài 9: Sản Xuất nước giải khát pha chế 75 Bài1: SẢN XUẤT RƯỢU THEO PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG 1.Tổng quan về nguyên liệu và sản phẩm Rượu là một loại đồ uống có lịch sử hàng ngàn năm, nó có mặt trong hầu hết các lễ nghi và phong tục của hầu hết các nước trên thế giới, mỗi nước mỗi vùng lại có một loại rượu đặc trưng và là niềm tự hào của các vùng. Thành phần chính của rượu là: rượu etylic (etanol: C2H5OH), nước, và các cấu tử khác tuỳ thuộc vào cách sản xuất, loại nguyên liệu, cách pha chế, tàng trữ ... chính các cấu tử khác này tạo nên nét đặc trưng của mỗi loại rượu, mỗi địa phương mà nơi khác khó có thể bắt chước được vì phần lớn nó được các gia đình giữ kín, không truyền cho người ngoài. 1.1.Giới thiệu về bánh men sử dụng trong lên men rượu truyền thống ở Việt Nam 1.1.1.Sơ lược về bánh men Bánh men là hỗn hợp VSV có sự tác động tương hỗ trong quá trình lên men. Các loại bánh men bánh men có thuốc bắc bánh men không có thuốc bắc bánh men lá Ở nước ta, mỗi vùng đều có các bài thuốc làm men khác nhau tạo nên nhiều loại rượu đặc sản của từng vùng, được nhiều người biết đến như rượu Bầu Đá (Bình Định), rượu Gò Đen (Long An), rượu Làng Vân, rượu cần… 1.1.2.Hệ VSV có trong bánh men Trong bánh men có 100 – 300 triệu tế bào VSV/gr. Nấm mốc: Mucor sp, Rhizopus sp, Aspergillus ozyzae, Asp. niger, A. awamori, Asp. sp, Penicillium sp... Nấm men: Saccharomyces sp và Candida sp. Vi khuẩn lactic và VK acetic. Ngoài ra còn có giả nấm men Endomycopsis. Aspergillus oryzae Thường có màu vàng khi già nên còn được gọi là nấm màu vàng hoa cau. Khi mới phát triển, hệ sợi có màu trắng, sau đó chuyển dần sang màu lục và khi già chuyển hẳn sang màu vàng. Phát triển trong khoảng nhiệt độ rất rộng (15-40oC), nhiệt độ tối ưu là 30-32oC. Khả năng sinh enzyme rất mạnh, trong đó chủ yếu là các loại enzyme amylase, protease, maltase. Aspergillus niger Khi mới phát triển, sợi nấm màu trắng, sau đó sẫm lại nhưng không hoàn toàn đen. Bào tử của chúng là có màu đen tuyền. Từ một sợi đầu tiên, chúng phân nhánh tạo ra 2-4 nhánh sợi nhỏ. Từ các nhánh này sẽ phát triển thành những đỉnh bào tử và từ đó sẽ phát triển thành những bào tử màu đen. Nấm sợi này có khả năng tạo ra rất nhiều enzyme khác nhau như: amylase, invertase, maltase, protease, pectinase và cellulase... Penicillium sp (Nấm chổi) Bộ phận mang bào tử có dạng phân nhánh hình chổi. Cuống có thể phân nhánh 1,2, 3 tầng, trên đó là các thể bình rồi đến bào tử đính. Các bộ phận của thể chổi có thể phát triển đều, đối xứng với trục cuống hoặc không. Có khả năng sinh cellulase. Mucor: Màu trắng, bọc bào tử hình cầu màu trắng hoặc nhạt màu. Mucor có hệ sợi hình ống, dạng nhung hoặc len, không có thân bò (Stolon) cuống bọc bào tử dựng đứng, luôn luôn tận cùng bằng bọc bào tử, đơn độc hoặc phân nhánh. Mucor mọc ở các hạt, thức ăn gia súc, thực phẩm… bị ẩm tạo thành một lớp lông tơ màu xám. Một số loài Mucor có khả năng lên men và oxy hoá. Khả năng sinh enzyme protease, amilase.... Chúng được dùng trong sản xuất axit hữu cơ, rượu và các chế phẩm enzyme Rhizopus sp Màu trắng xám, rễ giả màu vàng, bọc bào tử hình cầu, bào tử kín, phân nhánh. Phân bố rộng: đất, ngũ cốc, rau quả…. Khả năng sinh enzyme protease, amilase…. Endomycopsis Là loại nấm men rất giàu amylase và glucoamylase. Có tính chất tương tự như Sac. cerevisiae. Tế bào Encomycopsic có hình dài nối tiếp nhau thành những dạng sợi gọi là khuẩn ty (mycelium). Sinh sản dinh dưỡng bằng nảy chồi. Vừa có khả năng đường hoá vừa có khả năng rượu hoá (lên men Glucose, maltose). Enzyme glucoamylase từ nấm men Endomycopsis filligenes có pH hoạt động là 4,8; enzyme này bền ở vùng pH 4-5, nhiệt độ thích hợp cho enzyme này hoạt động là 50oC. Saccharomyces cerevisae Là loài nấm men lên men nổi, kỵ khí không bắt buộc. Sinh sản theo kiểu nảy chồi, phân đôi, bào tử. Trong điều kiện có oxy, phát triển sinh khối. Trong điều kiện không có oxy,chuyển đường thành rượu. Có khả năng lên men nhiều loại đường khác nhau (glucose, saccharose, fructose, mantose…) Nhiệt độ tối ưu:25-30oC, nhiệt độ tối thiểu 2-3oC, Ở 40oC ngừng sinh trưởng và men bị chết. Vi khuẩn Chủ yếu là VK lactic và VK acetic thường làm chua môi trường trong dịch lên men có oxy, 1.1.3.Vai trò của bánh men rượu Hệ VSV trong bánh men tham gia các quá trình chuyển hóa cơ chất. Giai đoạn đầu VK phát triển hình thành các acid hữu cơ. pH môi trường giảm xuống tạo điều kiện thuận lợi cho các loài nấm mốc phát triển. Nấm men cũng bắt đầu phát triển (tốc độ yếu hơn nấm mốc). Quá trình chuyển hóa tinh bột thành đường: nhờ nấm mốc Aspergillus sp, Rhizopus sp, Mucor sp, Endomycopsis …. tạo ra amylase (alpha amylase, glucoamylase). Quá trình chuyển hóa đường thành rượu: nhờ các loài nấm men Saccharomyces, các loài nấm mốc Mucor rouxii, Rhizopus delamar và các loài thuộc Endomycopsis vừa có khả năng chuyển hóa tinh bột thành đường, vừa có khả năng chuyển hóa đường để tạo thành cồn. 1.2.Thành phầng gạo Thành phần (%) Tinh bột Nước Protein thô Chất béo thô Xơ thô Tro Lúa gạo 69.2 11 7.3 1.2 0.5 0.9 2. Quy trình công nghệ sản xuất 2.1.Sơ đồ quy trình 2.2.Thuyết minh quy trình Xử lí: loải bỏ tạp chất (đất, cát...), sau đó đem cân Nấu chín: phá vở các tế bào của hạt tinh bột, giúp cho en zym amylase tiếp xúc được với tinh bột, tạo điều kiện đưa tinh bột về trạng thái hòa tan trong dung dịch. Chú ý: tránh nấu quá nhão hay quá khô và cháy khét giúp tạo môi trường lên men tốt sau này. Để nguội: Đánh tơi cơm sau đó để nguội nhằm giảm nhiệt độ của khối hạt xuống tạo điều kiện thích hợp để rắc men nếu nhiệt độ cao các vi sinh vật trong bánh men sẽ chết. Khi nhiệt độ hạ xuống 30-32 o C ta tiến hành rắc men, lượng men giống, tạo điều kiện thích hợp cho vi sinh vật hoạt động: độ ẩm 80-85%, nhiệt độ : 30-32 o C, thoáng gió. Đối với men ướt : bổ sung 10g/kg tương ứng với 2l nước, sau đó lên men. Đối với men khô: bổ sung 10g/kg, trộn đều men rồi tiến hành ủ 2 ngày. Mục đích ủ: tạo điều kiện cho vi sinh vật có trong nấm men phát triển, tăng sinh khối, chuyển hóa đường thành rươu. Biến đổi sau khi ủ: dưới tác dụng của enzym amylase có sẵn trong bánh men hay do nấm mốc tiết ra chuyển hóa tinh bột thành đường làm cơ chất cho nấm men sử dụng lên men chuyển hóa đường thành rượu. Sau khi ủ: Ta bổ sung nước và để yên trong 2,5 đến 3 ngày ở nhiệt độ 25-30 o C . Đây là quá trình ngâm, trong quá trình này các loại vi sinh vật hoạt động tạo ra các sản phẩm trao đổi chất: axit hữu cơ, este, rượu, các cấu tử thơm... Tới đây sản phẩm gồm 2 pha rắn và lỏng: Rắn: Vỏ, tinh bột chưa thuỷ phân - > cần loại bỏ Lỏng: Rượu etylic, nước, các cấu tử khác: rượu bậc cao, andehyt, este... Lên men: tiến hành lên men ở nhiệt độ thường. Thời gian này sẽ có ba quá trình song song xảy ra, tất nhiên lả mức độ của các quá trình này có khác nhau. Ba quá trình đó là quá trình tăng sinh khối của vi sinh vật, quá trình đường hóa và quá trình rượu hóa. Sự kết hợp của ba quá trình này tạo cho rượp màu sắc, mùi, vị rất đặc trưng. Quá trình tăng sinh khối của vi sinh vật: Quá trình này xảy ra rất nhanh ở giai đoạn đầu lên man, khi ta cho bánh men vào nguyên liệu. Sư phát triển mạnh của vi khuẩn ở giai đoạn này kéo theo sự tạo thành một số acid hữu cơ. Kế quả là Ph môi trường giảm xuống tạo điều kiện thuận lợi cho các loải nấm, mốc phát triển. Song song đó các loài nấm men bắt đầu phát triển, tuy sự phát triển của chúng có yếu hơn sự phát triển của nấm mốc. Các loại nấm mốc chỉ phát triển trong giai đoạn đường được tạo thành hay là cuối giai đoạn nấm mốc phát triển. Quá trình sinh hóa: Quá trình chuyển hóa đường và các thành phần khác thành các acid hữu cơ: trong đó có hai quá trình tạo acid hữu cơ cơ bản. Đó là quá trình tạo acid acetic và quá trình tạo acid lactic. Qúa trình tạo acid lactic mạnh hơn quá trình tạo acid acetic. Cả hai quá trình này xảy ra với cường độ không mạnh vì giai đoạn đầu lượng đường trong khối lên men chưa cao nên vệc chuyển hóa đó xảy ra không mạnh. Quá trình chuyển hóa tinh bột thành đường: Do sự phát triển của nấm mốc và nấm men Endomycopsis, tinh bộ được chuyển hóa thành đường. Các loài nấm mốc và nấm men này trong quá trình phát triển tạo ra rất nhiều enzym amylase và glucoamylase. Các enzym này hoạt động rất thuận lợi trong giai đoạn đầu và được kéo dài suốt thời gian này. Bản chất của các enzym này là các enzym cảm ứng, do đó nguyên liệu là loại có chứa nhiều tinh bột, kích thích quá trình sinh tổng hợp rất mạnh mẽ. Điểm quan trọng thứ hai cần đề cập đến là các enzym này chịu sự điều khi63n bởi sản phẩm cuối cùng là glucose. Bình thường thì glucose sẽ ức chế quá trình thủy phân tinh bột. Nhưng các loài nấm mốc Mucor rouxei, Rhizopus delemar, các loại nấm men thuộc Endomycopsis vừa có khả năng sinh tổng hợp enzym amylase, glucomylase vừa có khả năng chuyển hóa đường thành cồn. Mặt khá các loài nấm men Saccharomyces cũng rất tích cực chuyển hóa đường glucse thành cồn. Kế quả là lượng đường glucose chyển hóa thành bao nhiêu, ngay lập tức được chuyển hóa thành cồn, một phần phục vụ cho sinh sản và phát triển của chính các loài vi sinh vật đó. Do đó trong khối lên men này thường không xảy ra cơ chế kìm hãm ngược bởi glucose. Quá trình chuyển hóa đường thành cồn: Quá trình này được thực hiện bởi: Saccharomyces sp. Mucor và Rhizoup sp. Endomycopsis sp. Trong đó các loài nấm men Saccharomyces đóng vai trò cơ bản, chuyển hóa đường để tạo thành rượu etylic và CO2. CO2 sinh ra trong quá trình lên men sẽ tạo thành bọt khí bám vào bề mặt nấm men và làm các tế bào nấm men nổi lên trên, khi lên đến bề mặt, bọt khí vỡ ra và tế bào nấm men lại chìm xuống tạo ra sự đảo trộn giúp quá trình lên men được tốt hơn. Song song với quá trình này là các quá trình chuyển hóa đường, các acid hữu cơ thành các sản phẩm phụ khác. Điều đặc biệt lưu ý là tất cả các quá trình chuyển hóa được xảy ra xen kẽ, hỗ trợ nhau và tạo nên một quá trình chung hài hòa., để cuối cùng ta tạo ra sản phẩm không chỉ có nước và cồn mà là hỗn hợp sản phẩm bao gồm nhiều thành phần khác nhau. Sản phẩm sau quá trình lên men: cồn là chủ yếu ngoài ra còn có aldehyd, acid lactic, acid acetic, các rượu cao phân tử( propanol, isopropanol...) Lọc: Hỗn hợp sau khi lên men tồn tại theo 3 pha: Rắn, lỏng, khí (pha khí chiếm rất ít, không đáng kể). Mục đích của giai đoạn này là tách pha lỏng (rượu là chủ yếu, các cấu tử thơm, este, axit hữu cơ, ...) ra khỏi pha rắn (bã, vỏ quả, vỏ hạt...) Chưng cất: mục đích thu được rượu có độ cồn cao hơn, loại bỏ tạp chất. Chưng cất dựa trên nguyên tắc độ bay hơi của các chất khác nhau thì khác nhau. Đầu tiên là sự bay hơi của aldehyt, este sau đó đến cồn rồi acid hữu cơ và cuối cùng là các rượu cao phân tử. 3.Kết quả Sử dụng men ướt Ngày pH Độ brix 09/09 5.8 5 10/09 6.05 16,05 11/09 3.3 15.2 12/09 4 15.4 15/09 3.31 7 16/09 3.34 6 Sử dụng men khô Ngày pH Độ brix 11/09 3.25 13.2 12/09 3.58 10.5 15/09 3.67 6 16/09 3.69 6.5 Men khô : thể tích V=1510ml Men ướt: thể tích V=1750ml Độ cồn: men khô: 10% men ướt: 9,7% 4. Nhận xét Từ kết quả theo dõi qua các ngày ta thấy Dùng men ướt: Độ Brix của dung dịch lúc đầu thấp sau đó tăng lên từ từ rồi giảm xuống. Điều này có thể giải thích do tác dụng của enzym amylase phân cắt tinh bột thành đường làm cho nồng độ chất khô trong dung dịch tăng lên, sau là quá trình lên men chuyển hóa đường thành rượu dưới tác dụng của nấm men nên nồng độ chất khô lại giảm xuống. Về pH: lúc đầu pH có xu hướng giảm xuống do sự phát triển mạnh của vi khuận ở giai đoạn này tạo thành một số acid hữu cơ như acid acetic, acid lactic dẫn đến kết quả pH giảm xuống tạo điều kiện thuận lợi cho các nấm men, nấm mốc phát triển. Sau giai đoạn này pH có xu hướng tăng lên do sự tạo thành rượu. Dùng men khô: Độ Brix của dung dịch lúc đầu cao do chỉ bổ sung men khô không có nước nên nồng độ chất khô cao, rồi sau đó có sự tạo thành của rượu nên nồng độ chất khô giảm xuống và sau khi châm nước nồng độ chất khô ngày càng giảm do sự tạo thành rượu ngày càng nhiều. Về pH: trong suốt quá trình đều giảm xuống. Bài 2: SẢN XUẤT RƯỢU CHƯNG CẤT- SỬ DỤNG ENZYME THỰC HIỆN QUÁ TRÌNH ĐƯỜNG HÓA 1.Tổng quan 1.1. Tổng quan về nguyên liệu 1.1.1. Gạo Gạo là một sản phẩm lương thực thu từ cây lúa. Hạt gạo thường có màu trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng. Hạt gạo chính là nhân của thóc sau khi xay để tách bỏ vỏ trấu. Hạt gạo sau khi xay được gọi là gạo lứt hay gạo lật, nếu tiếp tục xát để tách cám thì gọi là gạo xát hay gạo trắng. Gạo là lương thực phổ biển của gần một nửa dân số thế giới. Gạo trắng hạt dài, đều, thô, không làm giàu Giá trị dinh dưỡng trên 100 g (3,527 oz) Năng lượng 370 kcal   1530 kJ Cacbohydrat     79 g - Đường  0.12 g - Xơ tiêu hóa  1.3 g   Chất béo 0.66 g Protein 7.13 g Nước 11.62 g Thiamin (Vit. B1)  0.070 mg   5% Riboflavin (Vit. B2)  0.049 mg   3% Niacin (Vit. B3)  1.6 mg   11% Axít pantothenic (B5)  1.014 mg  20% Vitamin B6  0.164 mg 13% Folat (Vit. B9)  8 μg  2% Canxi  28 mg 3% Sắt  0.80 mg 6% Magiê  25 mg 7%  Phốtpho  115 mg 16% Kali  115 mg   2% Kẽm  1.09 mg 11% Các phần trăm là theo khuyến cáo của Mỹ cho người lớn. 1.1.2. Enzyme Các enzyme sử dụng trong quá trình đường hóa - Enzyme - amylase (enzyme dịch hóa): Enzyme α-Amylase là protein có phân tử lượng thấp, thường nằm trong khoảng 50.000 đến 60.000 Dal. Có tác dụng lên nối - 1,4 glucozit ở vị trí bất kì, nhưng tập trung vào giữa mạch amyloza và amylopctin. Dưới tác dụng của enzyme, tinh bột chuyển hóa thành dextrin + maltoza + 1 ít glucoza. Lúc này độ nhớt của tinh bột giảm nhanh. Nhiệt độ hoạt động của enzyme: - amylase của vi khuẩn hoạt động tốt ở nhiệt độ tối ưu = 95-100 0C. - amylase của mầm thóc hoạt động tốt ở nhiệt độ tối ưu = 73-760C. - amylase của Asp.ozyzae hoạt động tốt ở nhiệt độ tối ưu =50-55 0C. => pH của môi trường và nhiệt độ tối ưu cũng phụ thuộc vào nhau: nhiệt độ tăng thì pH tăng. t0C pH tối ưu 30-40 4.5-5 50 4.6-5 60 5.2-5.5 70 5.3-5.8 - Enzyme - amylase (enzyme đường hóa): có tác dụng lên nối - 1,4 glucozit, nhưng bắt đầu từ vòng không có nhóm khử và cắt theo hai gốc glucoza một trong phân tử của amyloza và amylopectin. Sản phẩm tạo thành là maltoza, có khả năng biến đổi amyloza hoàn toàn thành maltoza, còn với amylopectin chỉ cắt được 50-55%. pH tối ưu = 4.8 (- amylase của mầm thóc) - Enzyme glucose amylase: cũng là một exoenzyme, cắt liên kết 1,4-glucoside và 1,6-glucoside, mỗi lần phân cắt tạo một phân tử glucose. 1.1.3. Men giống Saccharomyces cerevisiae là một chi nấm men được sử dụng rộng rãi trong ngành thực phẩm như làm bánh mì, sản xuất cồn. Saccharomyces có nghĩa là nấm đường và là loại vi sinh vật duy nhất được sản xuất với quy mô rất lớn trên thế giới. Nguyên liệu chính dùng để sản xuất men là mật rỉ, ngoài ra một số hóa chất khác sẽ được cung cấp trong quá trình nuôi cấy men để bổ sung các chất dinh dưỡng mà mật rỉ không đủ. Đa số các tế bào có hình ovan, kích thước (3 – 8) x (5 – 12)m, sinh sản theo lối nẩy chồi và tạo thành bào tử. Saccharomyces cerevisiae sinh ra enzyme invectara có khả năng khử đường sacaroza thành fructoza và glucoza. Nguồn dinh dưỡng cacbon của S.cerevisiae là đường, cồn và acid hữu cơ, những tác nhân sinh trưởng là acid pantotinic, biotin, mezoinozit, thiamin và piridoxin. S.cerevisiae có đặc tính riêng về khả năng tạo cồn, chịu sunfit, tổng hợp các cấu tử bay hơi và các sản phẩm thứ cấp tạo ra cho sản phẩm có mùi vị đặc trưng riêng biệt. Ở giai đoạn cuối lên men Saccharomyces cerevisiae kết lắng nhanh và làm trong dịch rượu. Giai đoạn cuối cùng của quá trình lên men các tế bào Saccharomyces cerevisiae thường bị già, không tiếp tục chuyển đường thành cồn và bị chết rất nhanh. 1.2. Tổng quan về sản phẩm Rượu được chiết xuất từ gạo hoặc tinh bột, điều đó sẽ giúp ích cho cuộc sống của chúng ta và đồng thời cũng giúp ích rất nhiều cho những ứng dụng trong công nghệ chế biến thức ăn và dược phẩm. Công nghệ sản xuất rượu đã và đang là một công nghệ chuyên nghiệp lâu đời ở nhiều nước trên thế giới. Phương pháp truyền thống là dựa vào kinh nghiệm và kỹ thuật thủ công. Nhưng ngày nay, những thiết bị tự động hoá và sử dụng enzyme công nghiệp đang dần thay thế và đồng thời kiểm soát được chất lượng cũng như cải thiện được vấn đề vệ sinh trong quá trình sản xuất. Do đó mà việc sản xuất rượu sử dụng enzyme được sử dụng trong sản xuất công nghiệp để tạo ra hiệu suất cao hơn so với sản xuất rượu bằng phương pháp truyền thống. 2. Quy trình công nghệ 2.1 Sơ đồ quy trìnhGạo Xay, nghiền Enzyme Nước Hồ hóa Dịch hóa Nấu Đường hóa Enzyme Làm nguội nhanh Lên men Men giống 2.2 Thuyết minh quy trình Gạo được xay nghiền có đường kính khoảng 1mm, quá trình này nhằm phá vỡ cấu trúc màng tế bào thực vật, tạo điều kiện giải phóng hạt tinh bột khỏi các mô, để khi đưa vào nấu với nhiệt độ phù hợp biến tinh bột thành dạng hòa tan. Nấu với tỉ lệ nước:gạo(4,5:1), mục đích của quá trình nấu là phá vỡ màng tế bào của các hạt tinh bột, giúp cho amylase tiếp xúc được với tinh bột, tạo điều kiện đưa tinh bột về trạng thái hòa tan trong dung dịch. Trước khi nấu ta bổ sung enzyme - amylase (termamyl) 0.3ml/kg và gia nhiệt đến 830C, giữ nhiệt trong 40-45 phút với mục đích là hồ hóa tinh bột, sau đó nâng nhiệt lên 950C, giữ nhiệt trong 5 – 10 phút để enzyme - amylase hoạt động (t0opt=95 0C) (quá trình dịch hóa). Sau đó hạ nhiệt xuống 60-67 0C, cho enzyme glucose amylase (saczyme) 0.5ml/kg, giữ nhiệt trong 60 phút, để cho enzyme này thực hiện quá trình đường hóa đưa về đường glucose cho nấm men sử dụng (t0opt=60-67 0C) (quá trình đường hóa). Thông thường ta hồ hóa xong mới cho enzyme - amylase vào để dịch hóa, nhưng nếu làm như vậy, dịch cháo sẽ rất đặc, khó khuấy trộn, dễ bị hồ hóa cục bộ, quá trình đường hóa sẽ không đều. Nhưng cho vào trước khi gia nhiệt sẽ dẫn đến một phần enzyme sẽ mất hoạt tính. Làm nguội nhanh về nhiệt độ thường (300C) để tạo điều kiện sốc nhiệt, có thể tiêu diệt thêm một phần vi sinh vật còn sống sót sau quá trình nấu. Sau khi làm nguội ta cho men giống vào (không cho khi nóng vì nhiệt độ quá cao sẽ tiêu diệt nấm men) để thực hiện quá trình lên men. Hàm lượng men giống cho vào phải đủ mật độ là 10 – 12*106tb/ml. 3. Kết quả Nguyên liệu (gạo) : 0.5kg Nước : 2,25 lít Hàm lượng tinh bột tối đa là 75% Enzyme - amylase: 0.1125 ml Enzyme glucose amylase: 0.1875ml Thể tích dịch: V=2.6 lít =2600ml Lượng men giống cho vào: Cân 0.005g nấm men + 50ml H2O đem đi đếm số tế bào. Số tế bào trung bình đếm được trong 4 ô lớn b==84 tb Số tế bào nấm men đếm được trong 1ml: a(tb/ml)=b.25.104= 84.25. 104=tb/ml Số tế bào nấm men có trong 0.005g : a.50= 21..50= 1,05. 1010 tb Số tế bào nấm men có trong 1g : 1,05. 1010 / 0.005 = 2,1. 1012 tb Số tế bào nấm men cần có trong 2,6 lít dịch thu được: 12. 106.2600=3,12. 1010 tb Vậy số lượng men giống cần cho vào là: 3,12. 1010 / 2,1. 1012 = 0.1486g Kết quả theo dõi pH và độ Brix của sản phẩm Ngày pH Độ Brix 1 6.05 16.5 2 4.45 16.2 3 3.99 15.8 4 3.72 13 5 3.76 13 6 3.55 12.5 Độ cồn chưng cất được là: 4% vol. 4. Nhận xét Qua các ngày theo dõi độ pH và độ brix của sản phẩm ta thấy rằng độ pH và độ Brix đều giảm. Độ brix giảm là do nấm men trong qu