Chuyên đề Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong bối cảnh Asean + 1 (Trung Quốc)

Việc Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa gia nhập WTO vào tháng 12 năm 2001 đã trở thành sự kiện quan trọng trong hệ thống thương mại toàn cầu. Với việc trở thành thành viên chính thức của WTO, Trung Quốc sẽ củng cố vị thế kinh tế, chính trị của mình và hội nhập sâu vào thương mại thế giới. Trung Quốc càng có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế với các nước trong khu vực. Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN) hịên đang là nhà cung cấp, cũng như một thị trường quan trọng đối với Trung Quốc và đang chịu tác động mạnh mẽ theo nhiều hướng khác nhau đặc biệt là từ khi Trung Quốc gia nhập WTO. Trong thập kỉ vừa qua Trung Quốc và ASEAN đều có những cải cách, mở cửa nền kinh tế và đều thực hiện chiến lược kinh tế hướng tới xuất khẩu, có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ảnh hưởng qua lại ngày càng lớn. Cuộc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN là sáng kiến tăng cường quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế để thành lập một khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc gọi tắt là ACFTA (ASEAN _ China Free Trade Area). Thực hiện sáng kiến ACFTA, quan hệ kinh tế – thương mại Việt Nam – Trung Quốc có vị trí hết sức quan trọng bởi vì Trung Quốc là một thị trường lớn có chung đường biên giới với Việt Nam dài hơn 1.350 km. Từ khi thực hiện đường nối cải cách, mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục. Hiện nay Trung Quốc đã trở thành thành viên chính thức của WTO, với đà phát triển này, Trung Quốc sẽ sớm trở thành một trung tâm kinh tế lớn của thế giới và đóng vai trò là một đối tác kinh tế có vị trí kinh tế chiến lược quan trọng đối với Việt Nam. Từ vị trí và vai trò của Trung Quốc nêu trên, em đã chọn đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong bối cảnh ASEAN + 1 (Trung Quốc)”. Qua đó chủ yếu em nghiên cứu nhấn mạnh đến quan hệ thương mại ASEAN – Trung Quốc, quan hệ thương mại Việt Nam- Trung Quốc và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường Trung Quốc. Phương pháp nghiên cứu là dựa trên cơ sở một số bài nghiên cứu về Trung Quốc và tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam mấy năm vừa qua để định lượng, so sánh, và nghiên cứu các tài liệu, tạp chí, sách báo khác có liên quan đến quan hệ thương mại hai nước trong phạm vi từ năm 2000 trở lại đây. Bố cục bài viết được chia làm ba chương: Chương I: Lý thuyết khu vực thương mại tự do và khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc. Chương II: Thực trạng về quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc. Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong bối cảnh ASEAN + Trung Quốc .

doc89 trang | Chia sẻ: tuandn | Lượt xem: 1846 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong bối cảnh Asean + 1 (Trung Quốc), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa kinh tế và kinh doanh Quốc Tế – Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản về Kinh Tế Quốc Tế, tự do hoá thương mại Quốc Tế cũng như nghiệp vụ Kinh doanh Quốc Tế,…làm nền tảng lý luận chung cho bài viết. Em cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến thầy giáo, PGS –TS Nguyễn Như Bình đã tận tình chỉ bảo, góp ý và hướng dẫn em hoàn thành bài viết, cũng như các cô chú, anh chị công tác trong viện Nghiên cứu thương mại, đặc biệt là chú Vũ Tiến Dương – Trưởng phòng Hợp Tác Quốc Tế đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập tại Viện từ quá trình thu thập tài liệu cho đến khi hoàn chỉnh bài viết. LỜI NÓI ĐẦU Việc Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa gia nhập WTO vào tháng 12 năm 2001 đã trở thành sự kiện quan trọng trong hệ thống thương mại toàn cầu. Với việc trở thành thành viên chính thức của WTO, Trung Quốc sẽ củng cố vị thế kinh tế, chính trị của mình và hội nhập sâu vào thương mại thế giới. Trung Quốc càng có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế với các nước trong khu vực. Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN) hịên đang là nhà cung cấp, cũng như một thị trường quan trọng đối với Trung Quốc và đang chịu tác động mạnh mẽ theo nhiều hướng khác nhau đặc biệt là từ khi Trung Quốc gia nhập WTO. Trong thập kỉ vừa qua Trung Quốc và ASEAN đều có những cải cách, mở cửa nền kinh tế và đều thực hiện chiến lược kinh tế hướng tới xuất khẩu, có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ảnh hưởng qua lại ngày càng lớn. Cuộc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN là sáng kiến tăng cường quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế để thành lập một khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc gọi tắt là ACFTA (ASEAN _ China Free Trade Area). Thực hiện sáng kiến ACFTA, quan hệ kinh tế – thương mại Việt Nam – Trung Quốc có vị trí hết sức quan trọng bởi vì Trung Quốc là một thị trường lớn có chung đường biên giới với Việt Nam dài hơn 1.350 km. Từ khi thực hiện đường nối cải cách, mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục. Hiện nay Trung Quốc đã trở thành thành viên chính thức của WTO, với đà phát triển này, Trung Quốc sẽ sớm trở thành một trung tâm kinh tế lớn của thế giới và đóng vai trò là một đối tác kinh tế có vị trí kinh tế chiến lược quan trọng đối với Việt Nam. Từ vị trí và vai trò của Trung Quốc nêu trên, em đã chọn đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong bối cảnh ASEAN + 1 (Trung Quốc)”. Qua đó chủ yếu em nghiên cứu nhấn mạnh đến quan hệ thương mại ASEAN – Trung Quốc, quan hệ thương mại Việt Nam- Trung Quốc và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường Trung Quốc. Phương pháp nghiên cứu là dựa trên cơ sở một số bài nghiên cứu về Trung Quốc và tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam mấy năm vừa qua để định lượng, so sánh, và nghiên cứu các tài liệu, tạp chí, sách báo khác có liên quan đến quan hệ thương mại hai nước trong phạm vi từ năm 2000 trở lại đây. Bố cục bài viết được chia làm ba chương: Chương I: Lý thuyết khu vực thương mại tự do và khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc. Chương II: Thực trạng về quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc. Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong bối cảnh ASEAN + Trung Quốc . Với lượng thời gian chưa nhiều, phạm vi nghiên cứu có hạn, đề tài chắc chắn còn nhiều nội dung chưa được đề cập đến. Em rất mong được các thầy cô giáo và bạn đọc bổ sung nhiều ý kiến có chất lượng để đề tài được phong phú và hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn. CHƯƠNG I LÝ THUYẾT KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO VÀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN – TRUNG QUỐC 1.1. LÝ THUYẾT VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO: 1.1.1. Tự do hoá thương mại: Cơ sở khách quan của xu hướng này bắt nguồn từ quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới với những cấp độ là toàn cầu hoá và khu vực hoá, lực lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia, sự phân công lao động quốc tế phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, vai trò của công ty đa quốc gia được tăng cường, hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng “mô hình kinh tế mở” với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nước. Tự do hoá thương mại đều đưa lại lợi ích cho mỗi nước, dù trình độ phát triển có khác nhau và nó phù hợp với trình độ phát triển của văn minh nhân loại. Nội dung của tự do hoá thương mại là nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ mậu dịch quốc tế, nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho việc phát triển các hoạt động thương mại quốc tế cả bề rộng lẫn bề sâu. Đương nhiên tự do hoá thương mại trong thương mại trước hết nhằm vào việc thực hiện chủ trương mở rộng quy mô xuất khẩu của mỗi nước cũng như đạt tới những điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu. Kết quả của tự do hoá thương mại là ngày càng mở cửa dễ dàng hơn thị trường nội địa cho hàng hoá, công nghệ nước ngoài cũng như các hoạt động dịch vụ quốc tế được xâm nhập vào thị trường nội địa, đồng thời cũng đạt được một sự thuận lợi hơn từ phía các bạn hàng cho việc xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ từ trong nước ra nước ngoài. Điều đó có nghĩa là phải đạt tới một sự hài hoà giữa tăng cường xuất khẩu với nới lỏng nhập khẩu. Các biện pháp để thực hiện tự do hoá thương mại chính là việc điều chỉnh theo chiều hướng nới lỏng dần với bước đi phù hợp trên cơ sở các thoả thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn tại trong quan hệ thương mại quốc tế. Việc hình thành các liên kết kinh tế quốc tế cũng tạo thuận lợi cho tự do hoá thương mại trước hết trong khuân khổ các tổ chức đó. Quá trình tự do hoá gắn liền với những biện pháp có đi có lại trong khuôn khổ pháp lý giữa các quốc gia. Trên cơ sở phân tích sự không tương đồng giữa việc bảo hộ bằng hạn ngạch và thuế quan, các nhà kinh tế cho rằng tự do hoá thương mại ở các nước đang phát triển là: Một quá trình chuyển dịch khỏi hạn chế bằng hạn ngạch với những tỷ giá hối đoái mất cân bằng đến một hệ thống chỉ sử dụng hệ thống thuế quan với tỷ giá hối đoái cân bằng. Những nước này bắt đầu nhận thức về tự do hoá thương mại và tiến hành cuộc cải cách từ giữa những năm 1980, tuy chất lượng cải cách còn chưa cao và quy mô chưa sâu, tự do hoá thương mại đã được hỗ trợ bởi các hiệp ước với quỹ tiền tệ quốc tế IMF và trong nhiều trường hợp bởi những khoản cho vay để tiến hành cải cách của Ngân hàng thế giới, tuy nhiên hiện nay vấn đề này được quan tâm và thực hiện ở nhiều nước đang phát triển với chất lượng cải cách cao và phạm vi sâu rộng. Đối với các nước đang phát triển này, mặc dù người ta đã chỉ ra những lợi ích lâu dài của việc giải phóng thương mại nhưng các nước cũng phải gánh chịu cái giá để thực hiện nó khi những khu vực được bảo hộ chính thức buộc phải cạnh tranh với hàng nhập. Loại bỏ sự kiểm soát giá cả và sự hạn chế, cái thường đi cùng với những cải cách thương mại, có thể cũng đặt ra những nhu cầu cơ bản ra ngoài khả năng mua của bộ phận dân chúng nghèo nhất. Trong trường hợp này, sự hỗ trợ của chính phủ với các cải cách có thể được nâng cao và những chi phí trong quá độ cần giảm xuống bằng cách thúc đẩy sự cạnh tranh với nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho những điều chỉnh thị trường lao động và phải đạt được những lợi ích thực tế chắc chắn cho những bộ phận dân chúng nghèo nhất. Song, tự do hoá thương mại hiện nay được coi như là một phương thức có hiệu quả hơn để đẩy mạnh xuất nhập khẩu và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước. Song, theo Micheal Mussa thì tự do hoá thương mại được hiểu là hạn mức bảo hộ nói chung và thu hẹp khoảng chênh lệch mức bảo hộ giữa các ngành khác nhau. Xét theo một góc độ khác thì tự do hoá thương mại bao hàm cả việc xoá bỏ những kiểm soát- sự phá bỏ các biện pháp phi thuế quan- cũng như những chính sách chuyển các thể chế thương mại sang các trung lập – một sự giảm trong xu hướng nghiêng về một hoạt động đặc thù, đặc biệt sự sản xuất thay thế hàng nhập khẩu. Trung lập được định nghĩa như là một tình huống trong đó tỷ lệ hối đoái có hiệu quả đối với các hàng xuất khẩu của một nước – Tỷ lệ hối đoái danh nghĩa được đỉều chỉnh đối với thuế xuất khẩu và trợ cấp xuất khẩu – là tương đương với tỷ lệ hối đoái có hiệu quả đối với hàng nhập khẩu. Tỷ lệ hối đoái danh nghĩa được đỉều chỉnh đối với thuế có được do nhũng hạn chế về định lượng. Một hệ thống đòn bẩy trung lập có khả năng thích hợp hơn để khuyến khích sự sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên. Thể chế trung lập có thể được hoàn thiện bằng việc giảm bớt số tiền phải đóng góp của khu vực xuất khẩu hoặc giảm bớt thuế quan đối với các hàng xuất khẩu vì chúng bù lại khuynh hướng chống xuất khẩu được tạo ra bởi hệ thống bảo hộ. Tuy nhiên trợ cấp xuất khẩu có thể phá vỡ các thể chế trung lập và dẫn tới một sự sử dụng không hiệu quả các nguồn tài nguyên. Phá bỏ các kiểm soát không phải bao giờ cũng là một sự thay đổi hướng tới các thể chế trung lập. Một ví dụ của sự phá bỏ kiểm soát mà không có sự thay đổi hướng tới các thể chế trung lập là sự thay thế các hạn chế về số lượng bằng thuế quan tương đương. Tuy nhiên, sự bãi bỏ các hạn chế về số lượng sẽ tạo ra những thể chế thương mại đơn giản hơn, và vì vậy sẽ làm giảm các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận qua các kẽ hở, làm tăng độ nhạy giá cả của hệ thống thương mại, sự bãi bỏ các hạn chế này được sử dụng như là cơ sở cho sự giảm thuế quan sau đó. Trên thực tế, tự do hoá thương mại được hiểu là những cải cách nhằm xoá bỏ dần dần mọi cản trở đối với thương mại, bao gồm thuế quan và phi thuế quan. Được nghiên cứu trong mối liên hệ với các chính sách khác trong hệ thống chính sách kinh tế của chính phủ. Để tiến hành tự do hoá thương mại phải trải qua các bước cơ bản như: Xác định mục tiêu và bối cảnh của cải cách, xác định đặc trưng của thời điểm tiến hành để đưa ra tốc độ cải cách phù hợp, và xác định trình tự cần thiết cho cuộc cải cách. 1.1.2. Khu vực mậu dịch tự do Liên kết kinh tế quốc tế là một hình thức trong đó diễn ra quá trình xã hội hoá sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng mang tính chất quốc tế với sự tham gia của các chủ thể kinh tế quốc tế dựa trên các hiệp định đã thoả thuận và ký kết để hình thành nên các tổ chức kinh tế với những cấp độ nhất định. Liên kết kinh tế quốc tế được hình thành với nhiều hình thức ở những cấp độ thoả thuận khác nhau. Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia thì liên kết kinh tế quốc tế có thể được phân thành liên kết nhỏ và liên kết lớn, căn cứ theo phương thức điều chỉnh có thể phân chia thành liên kết giữa các nhà nước và liên kết siêu nhà nước, căn cứ vào đối tượng và mục đích của liên kết quốc tế có thể chia các liên kết thành các dạng: Khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế và liên minh tiền tệ. Khu vực mậu dịch tự do hay khu buôn bán tự do ( Free Trade Area hay Trade Zone ) là một hình thức liên kết kinh tế mà các thành viên cùng nhau thoả thuận thống nhất một số vấn đề nhằm mục đích tự do hoá trong buôn bán về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó, các thoả thuận đó là: Giảm hoặc xoá bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế số lượng đối với một phần các loại sản phẩm và dịch vụ khi buôn bán với nhau. Tiến tới tạo lập một thị trường thống nhất về hàng hoá và dịch vụ. Mỗi thành viên trong khối vẫn có quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các quốc gia ngoài khối ( các quốc gia ngoài liên minh). Hiện nay các liên kết như EFTA (European Free Trade Area), NAFTA (North American Free Trade Argeement), AFTA (ASEAN Free Trade Area) là những liên kết tiêu biểu thuộc hình thức liên kết này. 1.2 KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN – TRUNG QUỐC 1.2.1 Bối cảnh hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc 1.2.1.1 Bối cảnh Thế giới: Chiến tranh lạnh kết thúc (1991) , chấm dứt sự đối đầu quân sự Đông-Tây và giữa hai siêu cường Mỹ- Xô, toàn cầu hoá diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới, tiếp theo là sự ra đời của hàng loạt các trung tâm kinh tế thế giới và khu vực. 1.2.1.2 Khu vực Đông Nam Á: ASEAN ra đời năm 1967 (có năm nước thành viên) với mục đích ban đầu nhằm ổn định môi trường an ninh và chính trị khu vực. Từ sau năm 1990, các thành viên ASEAN chuyển hướng sang các nội dung hợp tác kinh tế, năm 1992 khu vực mậu dịch tự do ASEAN – AFTA ra đời. Thông qua việc các nước thành viên ký kết hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan hiệu lực chung CEPT. Ngày nay ASEAN đã trở thành tổ chức lớn gồm 10 nước thành viên: Brunây, Campuchia, Inđônêxia, Malaixia, Myanmar, Lào, Philipine, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Hoà bình hữu nghị và hợp tác là xu thế không thể đảo ngược, các nền kinh tế ngoài ASEAN trong khu vực đang nỗ lực cải cách có kết quả sang thị trường nước ngoài, hơn nữa kinh tế ASEAN đang phải đối mặt với nhiều thách thức và tác động của toàn cầu hoá kinh tế trong điều kiện chiến tranh lạnh kết thúc. Bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế của ASEAN, chúng ta cũng phải kể đến cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 từ Thái Lan đã nhanh chóng lan sang các nước khác trong khu vực như Indonesia, Philipine, Malaisia….Nhằm ngăn chặn khủng hoảng lan từ nước này sang nước khác, các nước ASEAN đã cảm nhận sự cần thiết phải tăng cường hợp tác kinh tế trong khu vực, và khi đó Trung Quốc nổi lên như là một đối tác quan trọng nhất. 1.2.2 Nền tảng của việc hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc. 1.2.2.1 Quan hệ thương mại gần gũi giữa ASEAN và Trung Quốc. Trong những năm 1990, cả Trung Quốc và ASEAN đều đạt được tỷ lệ tăng trưởng ngoại thương cao. Trong giai đoạn từ 1993 đến 2000, ngoại thương Trung Quốc tăng bình quân xấp xỉ 15%/năm trong khi đó ngoại thương ASEAN tăng trưởng với tốc độ bình quân là 10,9%/năm. Biểu 1.1: Thương mại ASEAN- Trung Quốc 1991-2003 Đơn vị: triệu USD  Nguồn: Từ 1991 -2002 Tổng cục Hải quan Trung Quốc và năm 2003 là số liệu trong www.kitra.com.vn Nhìn vào biểu đồ ta thấy tổng kim ngạch giữa ASEAN và Trung Quốc tăng liên tục trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong 10 năm đổi mới của Trung Quốc. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc và ASEAN năm 1991 mới chỉ là 7,9 tỷ USD đã tăng lên 44,55 tỷ USD năm 2002 và 78,25 tỷ USD năm 2003. Trong khoảng thời gian tăng trưởng đó chúng ta chú ý rằng tổng lượng kim ngạch này bị chững lại, thậm chí còn giảm đi trong khoảng thời gian từ 1997 đến 2000, đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra ở khu vực Đông Nam Á. Bước vào thế kỷ XX, năm 2000, thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc lại tăng vọt, đạt 39,5 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng kỷ lục là 45,3% và đạt tăng bình quân 20,4%/năm kể từ năm 1991 khi tổng kim ngạch thương mại mới chỉ là 7,9 tỷ USD. Trong năm 2002, trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh, thương mại giữa hai bên vẫn duy trì được động lực tăng trưởng cao, nhập khẩu của Trung Quốc từ ASEAN tăng từ 3,8 tỷ USD năm 1991 lên 24,55 tỷ USD năm 2002. Năm 2003 thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc đã đạt mức 78,25 tỷ USD, tăng 42,8% so với năm 2002 xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc tăng 51,7% đạt 47,33 tỷ USD, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 31,1% đạt 30,93 tỷ USD, giải thích về khoản thâm hụt mậu dịch năm 2003 là 16,4 tỷ USD với ASEAN , một quan chức của bộ thương mại cho biết đó là kết quả của việc Trung Quốc gia tăng nhập khẩu nguyên liệu thô và linh kiện máy móc từ các nước Đông Nam Á. Biểu 1.2: Thương mại của Trung Quốc với từng nước ASEAN năm 2000-2002: Đơn vị: Triệu USD Các nước  2000  2001  2002    Tổng  NK  XK  Tổng  NK  XK  Tổng  NK  XK   Tổng  39.522  17.341  22.181  41.615  18.385  23.229  -  -  -   Singapore  10.821  5.761  5.060  10.934  5.792  5.143  10.976  5.961  5.015   Malaixia  8.045  2.565  5.480  9.425  3.220  6.205  9.655  4.025  5.630   Indonesia  7.464  3.062  4.402  6.725  2.837  3.888  -  -  -   Thái lan  6.624  2.243  4.381  7.050  2.337  4.713  -  -  -   Philipine  3.148  1.464  1.677  3.566  1.620  1.945  3.867  1.752  2.112   Việt Nam  2.466  1.537  929  2.815  1.804  1.011  3.654,28  2.158,79  1.495,50   Mianma  621  496  125  632  497  134  -  -  -   Campuchia  224  164  59  240  206  35  350  237  113   Bruney  74  13  61  165  17  148  189  31  158   Lào  41  34  7  62  54  6  -  -  -   Nguồn: Tổng cục hải quan Trung Quốc Ta thấy, nhìn chung thì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc với từng nước ASEAN tăng từ năm 2000 đến năm 2002 mặc dù tốc độ tăng trưởng không cao, quan hệ thương mại của Trung Quốc mạnh nhất là đối với Singapore là 10.821 triệu USD năm 2000 tăng lên 10.943 triệu USD năm 2001, tăng lên 10.976 triệu USD năm 2002 và chênh lệch xuất nhập khẩu vơí nước này cũng không lớn, con số này giữ ổn định ở khoảng 700 triệu USD, tiếp theo là Malaysia, Indonesia… và thấp nhất là Lào, chủ yếu là xuất khẩu sang Lào, mặc dù khối lượng không nhiều, riêng đối với Việt Nam mức độ tăng trong kim ngạch xuất nhập khẩu ở mức tương đối cao so với các nước đang phát triển trong khối, tăng từ 2.466 triệu USD năm 2000 lên 2.815 triệu USD năm 2001 và 3.654,28 triệu USD năm 2002 trong đó xuất khẩu từ Trung Quốc tăng nhanh hơn nhập khẩu, tăng từ 1.537 triệu USD lên 2.158,79 triệu USD, như vậy cho thấy kim ngạch khi quan hệ với Trung Quốc đóng góp phần lớn và là quan trọng đối vơí kinh tế khối ASEAN. Quan hệ đầu tư ASEAN- Trung Quốc: ASEAN là một nguồn quan trọng cung cấp FDI cho Trung Quốc , đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc tăng trung bình hằng năm là 28%. Mặt khác, ASEAN hiện không phải là thị trường chủ yếu cho đầu tư nước ngoài của Trung Quốc, mỗi năm ASEAN chỉ nhận dưới 100 triệu USD FDI từ trung Quốc, vào cuối năm 2001 tổng đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN bao gồm 740 dự án và trị giá 1,1 tỷ USD. Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO Tháng 11 năm 2001 Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của WTO, đánh dấu sự hội nhập hoàn toàn của Trung Quốc vào kinh tế thế giới, sự kiện này đã tác động tới kinh tế ASEAN trên một số khía cạnh quan trọng. Thứ nhất là cơ hội tiếp cận thị trường Trung Quốc đối với các nước ASEAN tăng lên như là hệ quả của việc Trung Quốc thực hiện các cam kết gia nhập của mình. Thứ hai là cơ hội tiếp cận thị trường của các nước ASEAN của Trung Quốc tăng lên bởi vì với tư cách là thành viên WTO, Trung Quốc có quyền được hưởng những quyền lợi như các thành viên WTO khác, và các nước ASEAN không thể áp dụng chế độ phân biệt với Trung Quốc nữa. Thứ ba là sự cạnh tranh ở thị trường truyền thống của ASEAN và Trung Quốc như Mỹ, Nhật, EU. Cuối cùng là tác động có thể gây ra đối với nguồn vốn FDI tới ASEAN trong bối cảnh Trung Quốc gia nhập WTO. Tháng 3 năm 2002 Trung Quốc tuyên bố dành MFN cho Việt Nam theo cam kết của Trung Quốc tại WTO trong cam kết ưu đãi đối với các nước đang phát triển của ASEAN, tháng 11 năm 2002 hiệp định thương mại hợp tác quốc tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc đã được ký kết, sự kiện này đặt mốc kết thúc quá trình xây dựng khuôn khổ mở đường cho các hiệp định đàm phán tiếp theo để xây dựng khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA). 1.2.3 Nội dung hiệp định về khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc 1.2.3.1 Sự hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc Một câu hỏi được đặt ra với các nước ASEAN là liệu ASEAN sẽ đi theo định hướng hội nhập nào sau AFTA Trong khi mối quan hệ ASEAN – Trung Quốc ngày càng phát triển? Câu trả lời chính là việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Theo khuyến nghị của các chuyên gia Trung Quốc, do những năm gần đây có nhiều yếu tố kìm hãm sự phát triển hơn nữa của thương mại và đầu tư giữa ASEAN và Trung Quốc, hai bên nên bắt đầu việc triển khai sớm các biện pháp n
Luận văn liên quan