Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta đã xác định phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm đó đã được thể hiện rất rõ qua nhiều kỳ đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiếp tục "khẳng định" thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế vận hành theo định hướng kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước là hai phạm trù khác nhau. Khi nói tới kinh tế nhà nước là nối đến những của cải tài sản thuộc sở hữu nhà nước, còn khi nói tới thành phần kinh tế nhà nước là muốn nói đến quan hệ sản xuất tiêu biểu cho chế độ đương thời. Trong điều kiện hiện nay thì đó là hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Thành phần kinh tế nhà nước, thực chất là hệ thống các doanh nghiệp nhà nước với quy mô, cấu trúc sức mạnh riêng. Trong hơn mười năm qua, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và nền kinh tế, còn nhiều khó khăn gay gắt, doanh nghiệp Nhà nước đã vượt qua nhiều thử thách, đứng vững, không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hướng XHCN. Nhưng bên cạnh đó, DNNN cũng còn những mặt hạn chế yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như: quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý chưa tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, nhìn chung trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực: tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động cũng như chưa tương xứng với sự hỗ trợ của nhà nước.

doc41 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 1777 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời mở đầu Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta đã xác định phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm đó đã được thể hiện rất rõ qua nhiều kỳ đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiếp tục "khẳng định" thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế vận hành theo định hướng kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước là hai phạm trù khác nhau. Khi nói tới kinh tế nhà nước là nối đến những của cải tài sản thuộc sở hữu nhà nước, còn khi nói tới thành phần kinh tế nhà nước là muốn nói đến quan hệ sản xuất tiêu biểu cho chế độ đương thời. Trong điều kiện hiện nay thì đó là hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Thành phần kinh tế nhà nước, thực chất là hệ thống các doanh nghiệp nhà nước với quy mô, cấu trúc sức mạnh riêng. Trong hơn mười năm qua, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và nền kinh tế, còn nhiều khó khăn gay gắt, doanh nghiệp Nhà nước đã vượt qua nhiều thử thách, đứng vững, không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hướng XHCN. Nhưng bên cạnh đó, DNNN cũng còn những mặt hạn chế yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như: quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý chưa tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, nhìn chung trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực: tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động cũng như chưa tương xứng với sự hỗ trợ của nhà nước. Những hạn chế yếu kém của doanh nghiệp Nhà nước có những nguyên nhân khách quan. Nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan; chưa có sự thống nhất trong nhận thức về vai trò vị trí của kinh tế nhà nước và DNNN, về cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, còn nhiều điểm chưa phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Công tác cải cách hành chính chậm, công tác quản lý, công tác đào tạo cán bộ và đội ngũ người lao động trong các DNNN vẫn còn nhiều bất cập, lãng phí... Từ thực tại trên đòi hỏi không ngừng đổi mới, nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước - cụ thể là các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Phần nội dung I. Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. I.1. Các thành phần kinh tế - Tính tất yếu khách quan tồn tại nhiều thành phần kinh tế Trong tác phẩm " Bàn về thuế lương thực", Lê Nin đã viết " Danh từ quá độ có nghĩa là gì ? vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không ? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có". Luận điểm trên của Lê Nin cho thấy rằng: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải tồn tại nhiều thành phần kinh tế. *Cơ sở lý luận Sự tồn tại của các thành phần kinh tế hay của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ ở nước ta, trước hết bắt nguồn từ quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sản xuất muốn phát triển thì nhất định phải có sự phù hợp đó. Nếu như tồn tại lực lượng sản xuất khác nhau về tư liệu sản xuất và do đó tồn tại nhiều quan hệ sản xuất khác nhau về tư liệu sản xuất và do đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Trong đó luôn có những quan hệ sở hữu, thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế thống nhất. ở nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, điểm xuất phát về lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội.... còn thấp và không đều giữa các xí nghiệp, giữa các ngành, vùng, trình độ lao động, năng suất cũng khác nhau. Do đó tất yếu tồn tại nhiều cách thức kết hợp lực lượng sản xuất với sức lao động, nhưng quy mô, trình độ sản xuất khác nhau, nhiều quan hệ sản xuất khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn được bắt nguồn từ yêu cầu của các quy luật kinh tế của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, trước hết phải khôi phục cơ sở tồn tại của nó. Đó là các hình thức sở hữu khác nhau về TLSX. Điều đó có nghĩa là phải khuyến khích, duy trì, phát triển các thành phần kinh tế *Cơ sở thực tiễn Khi tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nước ta có thêm những thành phần kinh tế mới như kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Các thành phần kinh tế cũ và mới tồn tại đan xen nhau, tạo nên đặc điểm của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Thực tiễn lịch sử cho thấy, hầu như không một nước nào có một nền kinh tế thuần nhất, tức chỉ tồn tại duy nhất một kiểu quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất và do đó có một thành phần kinh tế. ở nước ta trong thời gian qua việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế đã đem lại những kết quả đáng kể nó góp phần khai thác được mọi tiềm năng của từng thành phần kinh tế. Đó là những tiềm năng về vốn, kỹ thuật, sức lao động, kinh nghiệm tổ chức, quản lý.... Ngoài ra nó còn góp phần tận dụng được sức mạnh kinh tế quốc tế, khắc phục tình trạng biệt lập của nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới bằng cách thông qua đầu tư nước ta với nền kinh tế thế giới bằng cách thông qua đầu tư và hợp tác quốc tế. Đó là một trong những yếu tố quan trọng để nước ta có thể tiếp cận được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của thế giới. Tóm lại, trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần là tất yếu khách quan xét cả mặt lý luận và thực tiễn chính vì vậy. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chỉ ra phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở củng cố và giữ vững vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước với sự điều tiết và quản lý của Nhà nước là đường lối chiến lược lâu dài ở nước ta. Đại hội Đảng lần IX tháng 4 - 2001, đã khẳng định thêm nữa tư tưởng trên. Hiện nay nền kinh tế nước ta gồm 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế ta bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ qua lại lẫn nhau, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. I.2. Khái niệm về thành phần kinh tế Nhà nước I.2.1. Kinh tế Nhà nước - Thành phần kinh tế Nhà nước Kinh tế Nhà nước là thuật ngữ bao hàm nội dung khá rộng, được xác định theo ý nghĩa khác nhau tuỳ góc độ nghiên cứu theo cách hiểu chung nhất thì kinh tế Nhà nước là phần tài sản do nhà nước làm chủ sở hữu. Hay nói cách khác, kinh tế Nhà nước là bộ phận của nền kinh tế quốc dân thuộc sở hữu Nhà nước. Với cách hiểu đó, ở nhiều nước cũng như ở Việt Nam ta bao gồm: Tài nguyên khoáng sản và phần đất đai thuộc sở hữu nhà nước; Ngân hàng nhà nước, kho bạc nhà nước, ngân sách nhà nước, Tài chính nhà nước, hệ thống dự trữ quốc gia bảo hiểm quốc gia. Các dịch vụ công cộng do Nhà nước đảm nhiệm. Các doanh nghiệp Nhà nước. Ngày nay cũng có quan điểm cho rằng kinh tế nhà nước còn bao gồm cả nguồn nhân lực, hệ thống các chính sách, công cụ, quản lý nhà nước. Kinh tế nhà nước hình thành và phát triển từ khi Nhà nước xuất hiện. Trong quá trình phát triển lịch sử, khu vực kinh tế này ngày càng được củng cố và phát triển nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên quy mô chức năng vai trò của kinh tế nhà nước có sự khác nhau ở từng quốc gia và từng thời điểm nhất định. Kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước là hai phạm trù khác nhau. Khi nói tới kinh tế nhà nước là nói tới những của cải, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước; còn nói tới thành phần kinh tế nhà nước là muốn nói tới quan hệ sản xuất tiêu biểu cho chế độ Lê Nin đã viết: " Vô luận thế nào chúng ta cũng không được quên cái mà chúng ta thường nhìn thấy: quan hệ xã hội chủ nghĩa của công nhân trong các công xưởng quốc doanh, nơi mà công nhân cố gắng phân phối đúng đắn các sản phẩm công nghiệp cho nông dân,chuyển vận các thứ ấy đến tận nơi bằng các phương tiện giao thông. Đó chính là chủ nghĩa xã hội" I.V Lênin toàn tập. NXB Tiến Bộ Matxcơva - 1978 trang 188 - Tập 43 từ đó, thành phần kinh tế nhà nước chỉ bao hàm các nguồn lực do Nhà nước sở hữu, đưa vào và biến thành tài sản được dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân. Cũng giống như các thành phần kinh tế khác chúng chỉ phản ánh quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất ở các chủ thể sản xuất chứ không phải toàn bộ nguồn lực của chúng. Như vậy, thành phần kinh tế nhà nước về thực chất là không phải toàn bộ nguồn nhân lực của chúng. Như vậy, thành phần kinh tế nhà nước về thực chất là phản ánh quy mô, cấu trúc sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước rộng và mạnh hơn bộ phận doanh nghiệp nhà nước. Phân biệt được hai phạm trù này và nhận thức đầy đủ hơn về vai trò kinh tế nhà nước là một bước phát triển về nhận thức thực tiễn nền kinh tế nước ta trong quá trình đổi mới. I.2.2. Quan niệm mới về doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như ta đã biết, thành phần kinh tế nhà nước thực chất là phản ánh quy mô, cấu trúc, sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước đã đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên cho đến nay, trong sự phát triển phong phú và đa dạng của kinh tế thị trường, xung quanh khái niệm DNNN, xác định phạm vi DNNN vẫn còn những ý kiến khác nhau. Hiểu được quan niệm mới về DNNN sẽ góp phần vào nhận thức thực tiễn, đưa ra những giải pháp để ngày càng nâng cao vai trò chủ đạo của hệ thống DNNN. Tại điều 1, luận Doanh nghiệp Nhà nước (ký ngày - 20 - 4 - 1995) quy định: "DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoật động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm và toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý ". Tuy nhiên có đến nay khái niệm DNNN do luật doanh nghiệp Nhà nước hiện hành quy định đã tỏ ra không phù hợp với nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Sự không phù hợp đó thể hiện ở những điểm sau. Một trong những khuyết tật của DNNN là không xác định chủ sở hữu đích thực. Dù luật DNNN đã xác định chủ sở hữu DNNN là thủ trưởng các tổ, cá nhân được Chính phủ uỷ quyền, nhưng trên thực tế không có một cơ chế nào cho phép xác định chủ sở hữu đích thực của các DNNN. Thực tế đó dẫn đến tình trạng DNNN. Hiện nay dưới thủ tướng Chính phủ có nhiều chủ, ai cũng có quyền điều hành, nhưng chẳng ai có quyền lực để giải quyết những khó khăn, vướng mắc, trắc chở của doanh nghiệp. Hậu quả là doanh nghiệp kém năng động, khả năng cạnh tranh yếu. Luật DNNN quy định DNNN làm tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý. Điều này mặc nhiên dẫn tới được hiểu rằng DNNN là tổ chức đơn (sở hữu Nhà nước). Nó cũng đồng nghĩa với việc Nhà nước phải đầu tư 100% để thành lập DNNN. Đây thực sự là ngánh nặng cho ngân sách Nhà nước. * Quan điểm mới về DNNN trong kinh tế thị trường Tiêu trí để xác định DNNN không chỉ dựa vào mức độ khống chế chi phối chủ Nhà nước đối với doanh nghiệp. Vì vậy DNNN không chỉ bao gồm loại doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước mà còn bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước chi phối, quản lý và kiểm soát. Quan niệm như thế là vừa phù hợp với thông lệ quốc tế vừa đáp ứng được xu thế đẩy mạnh cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu hiện nay. Mặt khác, lâu dài DNNN có 100% vốn Nhà nước sẽ thu hẹp dần. Những DNNN sẽ tham gia liên kết với các thành phần kinh tế khác sẽ tăng lên và trở thành phổ biến. Đây là xu hướng khách quan, quy luật phát triển của kinh tế thị trường. Vì vậy khái niệm DNNN phải được hiểu như sau: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình trong số tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta và xu hướng phát triển của kinh tế thế giới, về lâu dài, khái niệm này cũng cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện. I.3. Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước và tính tất yếu khách quan nâng cao vai trò chủ đạo đó trong nền kinh tế thị trường. I.3.1. Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước Qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, thành phần kinh tế Nhà nước (DNNN) đã chi phối được các ngành lĩnh vực then chốt là sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế -xã hội tăng thế và lực của đất nước. Kinh tế Nhà nước mà chủ yếu là các DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thể hiện chủ yếu trên các mặt: đi đầu và nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, nhờ đó mà thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế quốc dân. Bằng nhiều hình thức hỗ trợ các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển theo định hướng XHCN tăng cường sức mạnh vật chất tinh thần làm chỗ dựa để Nhà nước thực hiện có hiệu lực chức năng điều tiết, quản lỹ vĩ mô nền kinh tế theo định hướng XHCN, cùng với kinh tế tập thể (mà lòng cốt là các hợp tác xã) dẫn trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân và chế độ xã hội mới. Tuy nhiên hiện nay, DNNN vẫn chưa phát huy đầy đủ tính ưu việt và sự chỉ đạo của nó đối với nền kinh tế quốc dân. Cùng với việc đổi mới các nền kinh tế ngoài quốc doanh, việc cải tạo đổi mới DNNN phải hết sức coi trọng đầu tư và thường xuyên tổng kết để rút ra những bài học kinh nghiệm, bổ sung những chi thức "cập nhất" nhằm thực hiện cho kỳ được vai trò chủ đạo và mục tiêu định hướng XHCN của thành phần kinh tế này. I.3.2. Tính tất yếu khách quan nâng cao vai trò chủ đạo thành phần kinh tế Nhà nước (DNNN) trong nền kinh tế thị trường Đại hội Đảng lần IX tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội. Mô hình kinh tế thị trường khá ưu việt về nhiều mặt đặc biệt trong việc giải phóng sức sản xuất xã hội, phát huy tiền năng sức sáng tạo của các cá nhân, không ngừng nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tăng năng suất lao động, sản xuất hàng hoá với khối lượng lớn, chất lượng ngày càng tốt, giá thành ngày càng hạ. Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh những ưu thế vốn có, nền kinh tế thị trường bộc lộ những khuyết tật cố hữu như tính tự phát, mù quáng vì lợi nhuận, phân hoá giàu nghèo, tàn phá các nguồn tài nguyên thiên nhiên, huỷ hoại môi trường. Làm phát sinh các tệ nạn xã hội... Chính sự phát triển của nền kinh tế thị trường là do các tổ chức cá nhân hành động về lợi ích riêng của mình dẫn đến việc đi không đúng hướng của kế hoạch Nhà nước, mục tiêu phát triển kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. Trước tình hình đó, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có thể vì lợi nhuận, mục đích riêng của thành phần kinh tế mình mà phát triển lệch lạc ảnh hưởng tới kinh tế - xã hội của đất nước ta, tới con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn. Do đó vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước và vấn đề này càng nâng cao vai trò chủ đạo của nó đang là một vấn để cấp bách tất yếu trong thời kỳ hiện nay. Mặt khác để thành phần kinh tế Nhà nước (DNNN) đã phát huy vai trò chủ đạo trong hơn 15 năm đổi mới Nhà nước đã thực hiện đổi mới sắp xếp lại các doanh nghiệp để tăng cường sức mạnh nội lực của nó. Đó cũng tất yếu khách quan. Hiện nay, DNNN nước ta đang đứng trước thực trạng yếu kém về nhiều mặt: số doanh nghiệp Nhà nước thực sự có hiện quả chỉ có 40%, số DNNN bị lỗ liên tục chiếm khoảng 20% còn 40% DNNN không có hiệu quả khi lỗ khi lãi; số nợ DNNN phải trả quá lớn thường xuyên vượt mức vốn hiện có của doanh nghiệp (116% - 1997; 113% - 1998; 130% - 1999) Tạp chí Tài chính tháng 7 /2001 ; hệ thống DNNN vốn qua manh mún chồng chéo quy mô nhỏ: số doanh nghiệp vốn dưới 5 tỷ chiếm 65,45%, trình độ công nghệ lao động thấp. Từ thực trạng trên đây để tiếp tục tồn tại và phát triển có hiệu quả, nâng cao vai trò chủ đạo, DNNN không có con đường nào khác là phải đổi mới một cách triệt để và toàn diện. Tuy nhiên, đổi mới DNNN không đơn thuần tích nhật doanh nghiệp hoặc tăng giảm số lượng các doanh nghiệp mà là đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước kết hợp với điều chỉnh cơ cấu hợp với trong quan hệ ngành, vùng, lãnh thổ và các thành phần kinh tế. Vì vậy đối với DNNN phải nhằm tăng cường hệ thống doanh nghiệp Nhà nước làm cho DNNN thực sự lớn mạnh về quy mô, hiệu quả và phát huy được vai trò nòng cốt góp phần dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng XHCN là trách nhiệm lịch sử của DNNN ở nước ta. II- Thực trạng thành phần kinh tế nhà nước và quá trình nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước ở nước ta hiện nay II.1. Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhà nước (thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong hơn 10 năm qua, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi phức tạp và nền kinh tế còn nhiều khó khăn gay gắt, DNNN đã vượt nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo đinh hướng XHCN. Mặc dầu đạt được những kết quả nhất định nhưng hiện nay DNNN đang đứng trức thực trạng yếu kém về nhiều mặt, sức cạnh tranh còn quá yếu kém, quy mô quá nhỏ, thiếu vốn nghiêm trọng, lãi suất kinh doanh bình quân thấp hơn lãi vay ngân hàng, hiệu quả sút kém. * Hiệu quả hoạt động kinh doanh Những năm 1991 - 1995, tốc độ tăng trưởng bình quân của DNNN là 11,7% gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế. Năm 1997 tốc độ tăng trưởng của DNNN là 9,67% (nền kinh tế: 8,15%). Tuy nhiên đến năm 1998 tì ngược lại thấp hơn. tốc độ tăng trưởng của DNNN là 5,48% trong đó tốc độ tăng trưởng nền kinh tế nói chung là 5,80%. Mức đóng góp cho ngân sách còn thấp so với nguồn lực bỏ ra, mức nộp của từng doanh nghiệp chênh lệch lớn, thậm chí có nhiều DNNN mức nộp ngân sách thấp nhiều so với mức được ngân sách hỗ trợ. Ta lấy DNNN của Hà Nội làm ví dụ. Năm 1997 so với năm 1995 doanh thu của DNNN tăng 12,56% nhưng tổng lãi thực hiện bằng 78% của năm 1995, tổng nộp ngân sách bằng 92,76% của năm 1995, trong 3 năm (1995 - 1997) mức vốn ngân sách cấp cho doanh nghiệp địa phương tăng 43,64% nhưng mức đóng góp của DNNN có lỗ kỹ kế đến 01/01/2000 chiếm 30,8% số doanh nghiệp (5.079 tỷ đồng). Ngoài ra, nếu hạch toán đủ chi phí như chi phí khấu hao tài sản cố định, nợ khó đòi, vật tư thành phần ứ đọng, kém, mất phẩm chất.. thì số lỗ thật còn cao hơn. Số các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ tập trung ở các doanh nghiệp địa phương như: Nan Định 46%, Thái Bình 35%, Hà Nam 33%, Hải Phòng 21%.... * Cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh Hiện tại, cơ cấu bộ máy tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ hệ thống DNNN còn rất lỏng lẻo. Trong từng doanh nghiệp thì bộ máy cồng kềnh, vận hành nặng nề kém hiệu quả. Bất hợp lý trong khâu tổ chức dựa trên phí tổn sản xuất cao. Một số doanh nghiệp có khả năng tổ chức lại tốt hơn nhưng lại vấp phải vấn đề giải quyết lao động dư. Bản thân giữa các doanh nghiệp thành viên trong một tổng công ty cũng không đủ sự kết dính cần thiết. Mối quan hệ giữa c
Luận văn liên quan