Đề tài Sự cụ thể hóa và phát triển của cương lĩnh 1991 trong cuộc sống kể từ khi cương lĩnh ra đời cho đến nay và một số ý kiến của bản thân để góp phần mình vào việc thực hiện cương lĩnh đó

Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.Dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao cuộc chiến tranh, đánh đuổi biết bao kẻ thù xâm lược.Đó là lịch sử hào hùng của những chiến thắng vẻ vang, của một dân tộc đoàn kết, một dân tộc anh hùng.Là chiến thắng quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh dưới thời Đinh, Lý, Trần, Lê.Là nền độc lập ta giành lại được từ tay bè lũ đế quốc, thực dân cướp nước.Lịch sử xa xưa vọng lại những vị vua anh minh, những bậc tướng tài giỏi thì chúng ta cũng tự hào biết bao với những chiến thắng mà dân tộc ta đạt được dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam.Kể từ khi Pháp nổ tiếng súng đầu tiên bắt đầu đặt ách đô hộ, cho đến cách mạng Tháng Tám thành công khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.Từ khi nước nhà chia cắt hai miền đến khi đất nước thống nhất chung về một mối(30/4/1975).Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trường kì, chúng ta đã giành được độc lập dân tộc, khẳng định chủ quyền và bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước-theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn.Với mỗi thời kì, mỗi giai đoạn khác nhau, Đảng đều đưa ra những cương lĩnh, chiến lược, sách lược phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kì ấy. Cương lĩnh chính trị năm 1991_là cương lĩnh thứ hai của Đảng cộng sản Việt Nam(sau cương lĩnh 1930, hợp nhất Đảng cộng sản Việt Nam, thực hiện cách mạng DTDCND, đánh đuổi phong kiến, độc lập dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày) cương lĩnh 1991 là cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ.Sự khéo léo, linh hoạt của Đảng ta thể hiện ở chính sự vận dụng cương lĩnh chính trị 1991 ấy vào thực tế kể từ khi cương lĩnh ra đời cho đến nay.Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mac- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi tư tưởng và hành động, Đảng đã cụ thể hóa cương lĩnh chính trị 1991 vào cuộc sống, phát triển qua các giai đoạn khác nhau với những bổ sung phù hợp và cần thiết.Đó là những bước đi đúng đắn, vững chắc, dẫn dắt đất nước ta qua những giai đoạn khó khăn, thử thách ban đầu, tiến lên trên con đường quá độ chủ nghĩa xã hội ngày càng tự tin và hùng mạnh hơn.

doc25 trang | Chia sẻ: tuandn | Lượt xem: 2452 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Sự cụ thể hóa và phát triển của cương lĩnh 1991 trong cuộc sống kể từ khi cương lĩnh ra đời cho đến nay và một số ý kiến của bản thân để góp phần mình vào việc thực hiện cương lĩnh đó, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.Dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao cuộc chiến tranh, đánh đuổi biết bao kẻ thù xâm lược.Đó là lịch sử hào hùng của những chiến thắng vẻ vang, của một dân tộc đoàn kết, một dân tộc anh hùng.Là chiến thắng quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh dưới thời Đinh, Lý, Trần, Lê...Là nền độc lập ta giành lại được từ tay bè lũ đế quốc, thực dân cướp nước.Lịch sử xa xưa vọng lại những vị vua anh minh, những bậc tướng tài giỏi thì chúng ta cũng tự hào biết bao với những chiến thắng mà dân tộc ta đạt được dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam.Kể từ khi Pháp nổ tiếng súng đầu tiên bắt đầu đặt ách đô hộ, cho đến cách mạng Tháng Tám thành công khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.Từ khi nước nhà chia cắt hai miền đến khi đất nước thống nhất chung về một mối(30/4/1975).Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trường kì, chúng ta đã giành được độc lập dân tộc, khẳng định chủ quyền và bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước-theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn.Với mỗi thời kì, mỗi giai đoạn khác nhau, Đảng đều đưa ra những cương lĩnh, chiến lược, sách lược phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kì ấy. Cương lĩnh chính trị năm 1991_là cương lĩnh thứ hai của Đảng cộng sản Việt Nam(sau cương lĩnh 1930, hợp nhất Đảng cộng sản Việt Nam, thực hiện cách mạng DTDCND, đánh đuổi phong kiến, độc lập dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày) cương lĩnh 1991 là cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ.Sự khéo léo, linh hoạt của Đảng ta thể hiện ở chính sự vận dụng cương lĩnh chính trị 1991 ấy vào thực tế kể từ khi cương lĩnh ra đời cho đến nay.Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mac- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi tư tưởng và hành động, Đảng đã cụ thể hóa cương lĩnh chính trị 1991 vào cuộc sống, phát triển qua các giai đoạn khác nhau với những bổ sung phù hợp và cần thiết.Đó là những bước đi đúng đắn, vững chắc, dẫn dắt đất nước ta qua những giai đoạn khó khăn, thử thách ban đầu, tiến lên trên con đường quá độ chủ nghĩa xã hội ngày càng tự tin và hùng mạnh hơn. Với những thành tựu mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được, càng để hiểu sâu sắc hơn mục tiêu mà chúng ta hướng tới_mục tiêu đúng đắn trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.Và để chúng ta dám nhìn thẳng vào những yếu kém, tồn tại để có những bước điều chỉnh thích hợp, đúng lúc.Trên nền tảng nội dung cương lĩnh 1991, Đảng và nhân dân ta tiếp tục vận dụng và bổ sung (chứ không phải là sửa đổi) để cương lĩnh ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của tình hình mới, thời đại mới ngày một phức tạp hơn.Dưới đây, em xin được trình bày “Sự cụ thể hóa và phát triển của cương lĩnh 1991 trong cuộc sống kể từ khi cương lĩnh ra đời cho đến nay và một số ý kiến của bản thân để góp phần mình vào việc thực hiện cương lĩnh đó” I.Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị 1991. 1/Hoàn cảnh lịch sử nổi bât : Năm 1991, hệ thống chủ nghĩa xã hội sụp đổ trên toàn thế giới.Chỉ còn số ít các nước đi theo con đường này, và đều là những nước mà nền kinh tế đang còn nghèo nàn, lạc hậu.Trong bối cảnh đó, các lực lượng phản động cả trong nước và ngoài nước nổi dậy chống phá.Câu hỏi lớn đặt ra cho chủ nghĩa Mac-Lenin_là nền tảng, kim chỉ nam cho các đảng cộng sản, yêu cầu lớn đặt ra cho các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.Trước tình hình đó, Đảng ta đã xây dựng cương lĩnh 1991, tại đại hội nhằm kiên định mục tiêu đưa đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.Muốn vậy, chúng ta phải “tự lực cánh sinh”, phải tìm tòi những hình thức, những bước đi thích hợp, phải mở rộng các mối quan hệ quốc tế… 2/Nội dung của cương lĩnh chính trị 1991 : - Cương lĩnh năm 1991 nêu 5 bài học lớn của cách mạng Việt Nam: nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; không ngừng củng cố tăng cường đoàn kết; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. - Cương lĩnh năm 1991 đã vạch ra 4 mâu thuẫn trên thế giới: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội; mâu thuẫn về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản; mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với các tập đoàn tư bản độc quyền, xuyên quốc gia; mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển. - Cương lĩnh năm 1991 thừa nhận nước ta có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. - Cương lĩnh năm 1991 vạch ra 7 phương hướng cơ bản trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: 1) Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa. 2) Phát triển lực lượng sản xuất. 3) Đa dạng về hình thức sở hữu. 4) Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. 5) Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. 6) Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. 7) Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức. - Cương lĩnh năm 1991 nêu những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh - đối ngoại. - Cương lĩnh năm 1991 trình bày hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. II.Cương lĩnh 1991 được cụ thể hóa và phát triển trong cuộc sống qua từng thời kì(các kì Đại hôi VIII, IX, X) : 1/Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII(tháng 6/1996) và các hội nghị trung ương khóa VIII : Đại hội VIII đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và 10 năm thực hiện đường lối đổi mới được đề ra từ Đại hội VI của Đảng, rút ra những bài học lớn, làm cơ sở xác định đúng đắn mục tiêu, nhiệm vụ cho chặng đường sắp tới. Các thành tựu đã đạt được: Nhìn tổng quát, công cuộc đổi mới 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991-1995 đã được hoàn thành về cơ bản. Tình trạng đình đốn trong sản xuất, rối ren trong lưu thông được khắc phục. Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhịp độ tănng tổng sản phẩm trong  nước (GDP) bình quân hằng năm thời kỳ 1991 - 1995 đạt 8, 2%. Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp hơn với tính chất, trình độ và yêu cầu phát triển của sức sản xuất, giải phóng và phát huy tiềm năng to lớn trong nước, tạo thuận lợi khai thác nguồn lực bên ngoài. Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải thiện. Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân khá hơn trước. Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo được toàn dân hưởng ứng. Dân chủ được phát huy. Lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ đất nước, với Đảng và Nhà nước được khẳng định. Ổn định chính trị - xã hội được giữ vững. Quốc phòng an ninh được củng cố. Quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ; phá được thế bị bao vây, cô lập; mở rộng hợp tác và tham gia tích cực đời sống cộng đồng quốc tế. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường đại đoàn kết toàn dân có nhiều chuyển biến tích cực. Những điểm tồn tại và yếu kém: Nước ta vẫn còn nghèo và kém phát triển; chúng ta lại chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, dành vốn cho đầu tư, phát triển. Tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết. Việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng. Vừa buông lỏng. Quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội còn nhiều thiếu sót. Hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm. Tuy vậy, đến nay, thế và lực của đất nước ta đã có sự biến đổi rõ rệt về chất. Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hỏang kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ những bài học thành công và chưa thành công, chúng ta đã điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan niệm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể; đường lối, chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Tổng kết chặng đường đổi mới 10 năm qua, Đảng ta rút ra một số bài học chủ yếu: - Trong quá trình đổi mới, phải giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược cách mạng với sự linh hoạt, sáng tạo trong sách lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới. - Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Phát huy dân chủ, khắc phục những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chống mọi khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích, mọi âm mưu lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm gây rối chính trị, chống phá chế độ, can thiệp vào nội bộ nước ta. - Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường phải đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái. - Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, động viên sức mạnh của cả dân tộc nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. - Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Động viên mọi nguồn lực bên trong là chính, đồng thời khai thác tốt những điều kiện thuận lợi mới trong quan hệ đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi và tranh thủ những nhân tố tích cực phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Việc mở rộng quan hệ đối ngoại phải trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, giữ gìn, phát huy bản sắc và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. - Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Đảng ta phải luôn tự đổi mới và chỉnh đốn. Củng cố và xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ; tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng; đổi mới phương thức, lề lối làm việc, nâng cao trình độ và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nắm vững và vận dụng sáng tạo những bài học trên đây là bảo đảm cho thành công của sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Cụ thể hóa cương lĩnh chính trị 1991 ở đại hội VIII Đại hội VI đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Đại hội VII thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương và của Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã cụ thể hóa cương lĩnh, chiến lược trên hầu hết các lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Các văn kiện trình Đại hội VIII kế thừa và phát triển hơn nữa những đường lối, chủ trương đúng đắn đó. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.Đảng ta vẫn tiêp tục nắm vững và kiên trì đường lối đó, thường xuyên nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để có những điều chỉnh, bổ sung và phát triển cần thiết, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên giành những thắng lợi to lớn hơn nữa. 1-Thời kì phát triển mới_Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Về đời sống vật chất và văn hóa, nhân dân có cuộc sống no đủ, có nhà ở tương đối tốt, có điều kiện thuận lợi về đi lại, học hành, chữa bệnh, có mức hưởng thụ văn hóa khá. Quan hệ xã hội lành mạnh, lối sống văn minh; phát huy những giá trị cao đẹp và truyền thống vẻ vang của dân tộc. 2- Phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN 3- Chăm lo phát triển nguồn lực con người’thực hiện công bằng xã hội Cương lĩnh của Đảng ta chỉ rõ: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội". Qua thực tiễn 10 năm đổi mới, chúng ta nhận thức rõ là không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. 4- Mục tiêu, nhiệm vụ và các chương trình kinh tế-xã hội lớn trong kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 Kế hoạch 5 năm 1996-2000 được xây dựng trên cơ sở quán triệt những tư tưởng chỉ đạo sau đây : - Một là, thực hiện đồng thời 3 mục tiêu về kinh tế: đẩy mạnh công nghiệp hóa với nhịp độ tăng trưởng cao, bền vững và có hiệu quả; ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; chuẩn bị các tiền đề cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000, chủ yếu là phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, hoàn thiện thể chế. - Hai là, tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần, phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - Ba là, kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nhằm tạo được chuyển biến rõ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. - Bốn là, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực vừa phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế vừa phục vụ quốc phòng, an ninh. - Năm là, kết hợp phát triển các vùng kinh tế trọng điểm với các vùng khác, tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển; phát huy lợi thế của mỗi vùng, trách chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng. 5- Củng cố quốc phòng an ninh. Nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong những năm tới là : phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh toàn dân và thế trấn an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động gây mất ổn định chính trị xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn chặn có hiệu quả và nghiêm trị mọi loại tội phạm, bảo đảm tốt trật tự, an toàn xã hội. 6- Mở rộng quan hệ đối ngoại Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.  7- Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo vai trò làm chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sự nghiệp xây dựng đất nước đòi hỏi mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay đang định cư ở nước ngoài. Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng, nêu cao truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinh thần đại đoàn kết, cởi mở và tin cậy. 8-  Xây dựng Đảng và bổ sung điều lệ Đảng Phải kiên định sự lãnh đạo của Đảng, vì ở nước ta, không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì không thể có độc lập dân tộc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có Nhà nước của dân, do dân, vì dân, không thể thực hiện được công bằng xã hội, không thể có chủ nghĩa xã hội. Lúc bình thường, vai trò lãnh đạo của Đảng đã rất quan trọng; ở những bước chuyển giai đoạn, vai trò đó lại càng quan trọng. Đương nhiên, để làm tốt vai trò lãnh đạo, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Là đảng cầm quyền, lại hoạt động trong điều kiện mới hết sức phức tạp, Đảng ta ý thức sâu sắc về điều đó, coi đây là một quy luật phát triển của Đảng. 2/Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Đại hội đã tổng kết tình hình đất nước 5 năm qua và những bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới Những thành tựu quan trọng mà đảng và nhân dân ta đã đạt được: Kinh tế tăng trưởng khá. Văn hoá, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng; hệ thống chính trị được củng cố. Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt Những thành tựu 5 năm qua đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, những yếu kém, khuyết điểm còn tồn tại: Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Một số vấn đề văn hoá - xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết. Tỷ lệ thất nghiệp còn ở mức cao.Chất lượng giáo dục và đào tạo thấp so với yêu cầu. Cơ sở vật chất của ngành y tế còn thiếu thốn và lạc hậu, nhất là ở tuyến huyện và xã. Cơ chế, chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển.. Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. 15 năm đổi mới (1986 - 2000) đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu. Những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII của Đảng nêu lên đến nay vẫn còn có giá trị lớn. Nhất là những bài học chủ yếu sau đây: Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bốn là, đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới. Qua đó, Đảng ta đã tiếp tục phát triển và bổ sung cương lĩnh chính trị 1991 để phù hợp hơn trong thời kì tiếp đó 1. Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng ta một lần nữa khẳng định: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng
Luận văn liên quan