Đề tài Thực trạng và các giải pháp phát triển thị trường bất động sản tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Thị trường bất động sản là một trong những thị trường có vị trí và vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Thị trường bất động sản có quan hệ trực tiếp với các thị trường tài chính tiền tệ, thị trường xây dựng, thị trường vật liệu xây dựng, thị trường lao động. Do vậy, phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản sẽ góp phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đóng góp thiết thực vào quá trình phát triển đô thị và nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới xuất phát từ chính sách cho vay thế chấp bất động sản tại Hoa Kỳ là tác nhân cơ bản gây nên sự suy thoái kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới chứng tỏ những ảnh hưởng rất lớn từ thị trường bất động sản đối với nền kinh tế. Vì vậy, việc điều hành thị trường bất động sản nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực là vấn đề cần quan tâm nghiên cứu. Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, chính trị lớn nhất của khu vực miền Trung Việt Nam, là điểm đến của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Do vậy, thị trường bất động sản của thành phố Đà Nẵng phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây. Quận Hải Châu là một quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng. Cùng với sự phát triển của thị trường bất động sản Đà Nẵng, trong những năm qua thị trường bất động sản của quận cũng phát triển khá mạnh do tác động của quá trình phát triển đô thị và sự hình thành các khu tái định cư mới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được thì hoạt động của thị trường bất động sản của quận Hải Châu trong thời gian qua đã bộc lộ những mặt hạn chế như chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí của thị trường bất động sản đối với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội; tài sản nhà đất chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả gây nên sự lãng phí, thất thoát lớn cho xã hội; Nhà nước chưa có giải pháp hữu hiệu trong quản lý và điều tiết thị trường bất động sản; tình trạng đầu cơ nhà đất, kích cầu ảo để nâng giá đất vẫn còn diễn ra. Tất cả những điều đó đã gây tác động xấu đến thị trường bất động sản, ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống của người dân, nhất là đối tượng có thu nhập thấp vì họ hầu như không có điều kiện để tiếp cận được thị trường bất động sản. Xuất phát từ các lý do, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và các giải pháp phát triển thị trường bất động sản tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng".

doc21 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 4413 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng và các giải pháp phát triển thị trường bất động sản tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Thị trường bất động sản là một trong những thị trường có vị trí và vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Thị trường bất động sản có quan hệ trực tiếp với các thị trường tài chính tiền tệ, thị trường xây dựng, thị trường vật liệu xây dựng, thị trường lao động... Do vậy, phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản sẽ góp phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đóng góp thiết thực vào quá trình phát triển đô thị và nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới xuất phát từ chính sách cho vay thế chấp bất động sản tại Hoa Kỳ là tác nhân cơ bản gây nên sự suy thoái kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới chứng tỏ những ảnh hưởng rất lớn từ thị trường bất động sản đối với nền kinh tế. Vì vậy, việc điều hành thị trường bất động sản nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực là vấn đề cần quan tâm nghiên cứu. Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, chính trị lớn nhất của khu vực miền Trung Việt Nam, là điểm đến của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Do vậy, thị trường bất động sản của thành phố Đà Nẵng phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây. Quận Hải Châu là một quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng. Cùng với sự phát triển của thị trường bất động sản Đà Nẵng, trong những năm qua thị trường bất động sản của quận cũng phát triển khá mạnh do tác động của quá trình phát triển đô thị và sự hình thành các khu tái định cư mới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được thì hoạt động của thị trường bất động sản của quận Hải Châu trong thời gian qua đã bộc lộ những mặt hạn chế như chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí của thị trường bất động sản đối với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội; tài sản nhà đất chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả gây nên sự lãng phí, thất thoát lớn cho xã hội; Nhà nước chưa có giải pháp hữu hiệu trong quản lý và điều tiết thị trường bất động sản; tình trạng đầu cơ nhà đất, kích cầu ảo để nâng giá đất vẫn còn diễn ra.... Tất cả những điều đó đã gây tác động xấu đến thị trường bất động sản, ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống của người dân, nhất là đối tượng có thu nhập thấp vì họ hầu như không có điều kiện để tiếp cận được thị trường bất động sản. Xuất phát từ các lý do, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và các giải pháp phát triển thị trường bất động sản tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng". 1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài * Mục đích của đề tài Nghiên cứu thực trạng về thị trường bất động sản từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở quận Hải Châu trong thời gian tới. * Yêu cầu - Trên cơ sở các số liệu thu thập do các đơn vị cung cấp phải đánh giá khách quan, chính xác và khoa học. - Tìm hiểu, nắm bắt được tình hình phát triển thị trường bất động sản ở quận Hải Châu để đưa ra các giải pháp phát triển thị trường bất động sản. - Nắm vững các chính sách về thị trường bất động sản. PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1. Bất động sản và thị trường bất động sản 2.1.1. Bất động sản và đặc điểm của hàng hoá bất động sản 2.1.1.1. Khái niệm về bất động sản Theo khoản 1, điều 174 của Bộ luật dân sự năm 2005: Bất động sản là các loại tài sản bao gồm: đất đai; nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định. 2.1.1.2. Đặc điểm của hàng hóa bất động sản - Có vị trí cố định, không di chuyển được Đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư và nếu không có thị trường tại chỗ thì cũng không thể đem bất động sản đi nơi khác để giao dịch. - Tính bền lâu : đất đai là hàng hóa được xem như không bị hủy hoại, trừ khi có thiên tai như xói lở, vùi lấp và vật kiến trúc có thể tồn tại đến hàng chục năm đến hàng trăm năm. - Tính thích ứng Lợi ích của công trình được sinh ra trong quá trình sử dụng. Tính thích ứng của bất động sản là một trong đặc điểm cực kỳ quan trọng để thu hút khác hàng và các nhà đầu tư. - Tính dị biệt Trên thị trường bất động sản, không tồn tại hai công trình hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí không gian khác nhau. - Tính chịu ảnh hưởng của chính sách. Bất động sản có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh tế của xã hội, nên chính phủ rất quan tâm đến thị trường bất động sản và thường xuyên đưa ra các chính sách mới trong lĩnh vực này để điều chỉnh các quan hệ pháp luật, quan hệ lợi ích kinh tế trong việc sử dụng đất, giao dịch và sử dụng bất động sản. - Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý. Nhiều loại đầu tư không đòi hỏi phải tốn công quản lý lắm như đầu tư vào chứng khoán, đồ cổ hay kim loại quý nhưng đầu tư trực tiếp vào bất động sản thì phải có năng lực quản lý thích hợp, đòi hỏi nhiều kiến thức tổng hợp. - Tính ảnh hưởng lẫn nhau. Việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng có thể nâng cao giá trị bất động sản trong khu vực phụ cận lên khá nhiều. 2.1.2. Thị trường bất động sản 2.1.2.1. Khái niệm thị trường bất động sản Thị trường bất động sản là tổng hòa các giao dịch bất động sản đạt được tại một khu vực địa lý nhất định trong một thời điểm nhất định. Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, phải có vốn pháp định và đăng ký kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật. Theo khoản 1 điều 3 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007của Chính phủ thì doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định là 6 (sáu) tỷ đồng Việt Nam. 2.1.2.2. Phân loại thị trường bất động sản Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta đã chia thị trường bất động sản thành các loại như sau: * Căn cứ vào loại hình giao dịch trên thị trường: thị trường bất động sản được chia thành 5 loại gồm: - Thị trường mua bán, chuyển nhượng bất động sản. - Thị trường giao dịch các bất động sản cho thuê. - Thị trường giao dịch các bất động sản dùng để thế chấp vay vốn. - Thị trường giao dịch các bất động sản dùng để góp vốn liên doanh. - Thị trường giao dịch khác về bất động sản. * Căn cứ vào thời gian mà thị trường bất động sản tham gia vào thị trường: nếu dựa vào căn cứ này thị trường bất động sản được chia thành 3 loại, bao gồm: - Thị trường cấp I: là thị trường chuyển nhượng, giao hoặc cho thuê quyền sử dụng đất. - Thị trường cấp II: là thị trường xây dựng công trình để bán hay cho thuê. - Thị trường cấp III: là thị trường bán lại hoặc cho thuê lại công trình đã được mua hoặc thuê. * Căn cứ vào mục đích sử dụng bất động sản - Thị trường giao dịch các bất động sản dùng để ở: là thị trường giao dịch các căn hộ, ngôi nhà, công trình, lô đất được sử dụng vào mục đích ở. - Thị trường giao dịch các bất động sản dùng vào mục đích khác: như văn phòng làm việc, kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng. 2.1.2.3. Đặc điểm của thị trường bất động sản Thị trường bất động sản được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển trong nền kinh tế thị trường nên nó có những đặc điểm sau: - Thị trường bất động sản không giao dịch bản thân bất động sản mà giao dịch các quyền và lợi ích chứa trong bất động sản đó. - Thị trường bất động sản là thị trường không mang tính tập trung nhưng mang tính vùng và tính khu vực sâu sắc. - Thị trường bất động sản là thị trường có nội dung phong phú nhưng là dạng thị trường không hoàn hảo. - Thị trường bất động sản chịu sự chi phối mạnh mẽ của pháp luật. - Cung trong thị trường bất động sản không theo kịp sự thay đổi của cầu. - Giao dịch trên thị trường bất động sản cần có sự tư vấn của các chuyên gia với trình độ cao. - Thị trường bất động sản có liên hệ mật thiết với thị trường vốn. PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và định hướng phát triển kinh tế xã hội của quận Hải Châu giai đoạn 2010 – 2020. Thực trạng thị trường bất động sản ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. 3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. 3.2. Nội dung nghiên cứu - Điều tra, nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thị trường bất động sản ở quận Hải Châu. - Nghiên cứu thực trạng thị trường bất động sản tại quận Hải Châu về các vấn đề: giá cả bất động sản, các công ty kinh doanh bất động sản... - Đề xuất các giải pháp phát triển thị trường bất động sản tại quận Hải Châu. 3.3. Phương pháp nghiên cứu 3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu: để điều tra thu thập các số liệu, dữ kiện thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích đề tài nghiên cứu. Đây là bước đầu tiên rất quan trọng của đề tài nhằm thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các số liệu về đất đai… 3.3.2 Phương pháp kế thừa: tham khảo các tài liệu, số liệu, các bài viết đã được công bố, đề tài sẽ kế thừa những số liệu có liên quan để hoàn thiện các nội dung nghiên cứu của đề tài. 3.3.3 Phương pháp so sánh: so sánh số liệu giữa các năm để từ đó rút ra được nhận xét cũng như đánh giá được tính hiệu quả của việc thực hiện các chỉ tiêu nghiên cứu. 3.3.4 Phương pháp phân tích thống kê, xử lý số liệu: nhóm toàn bộ các đối tượng điều tra có cùng chỉ tiêu, xác định các giá trị trung bình của chỉ tiêu, phân tích tương quan giữa các yếu tố; xử lý số liệu và đưa ra giá trị có tính chính xác cao. PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội: 4.1.1. Vị trí địa lý Hải Châu là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, có tọa độ địa lý nằm ở 10802’ kinh độ Đông, 16003’ vĩ độ Bắc với tổng diện tích tự nhiên là 2135,42 ha. Ranh giới hành chính được xác định: Phía Bắc giáp Vịnh Đà Nẵng; Phía Tây giáp quận Thanh Khê và quận Cẩm Lệ; Phía Đông giáp quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn; Phía Nam giáp quận Cẩm Lệ. Trên địa bàn quận Hải Châu có sân bay quốc tế, có quốc lộ 14B đi ngang qua, có các cảng sông, các trung tâm hành chính, văn hóa, thương mại, dịch vụ, du lịch của thành phố Đà Nẵng. Do vậy, Quận có nhiều ưu thế về địa lý, kinh tế so với các quận, huyện khác trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội cũng như thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản. 4.1.2 Thực trạng phát triển các ngành và lĩnh vực của quận Hải Châu 4.1.2.1 Ngành Dịch vụ Do là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng có nhiều điều kiện phát triển thương mại dịch vụ nên hoạt động thương mại - dịch vụ - du lịch trên địa bàn quận đã phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế của quận năm 2009 (66.68%). Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành dịch vụ bình quân thời kỳ 2000 - 2005 đạt 16,2%/năm; giai đoạn 2005 - 2009 là 18,22%/năm. 4.1.2.2 Ngành Công nghiệp - Xây dựng Với vị trí là quận trung tâm, dân cư đông đúc, mặt bằng sản xuất chật hẹp nên quận chỉ phát triển công nghiệp có công nghệ sạch và chứa hàm lượng khoa học kỹ thuật cao. Trong những năm gần đây, do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như giá cả nguyên vật liệu gia tăng, nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng kéo theo sự khủng hoảng của kinh tế trong nước....đã làm cho sản xuất công nghiệp trên địa bàn quận có nhiều biến động. Tuy nhiên tỷ lệ đóng góp của ngành công nghiệp - xây dựng trong GDP của quận vẫn đạt trên 35% năm 2009 và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2005 - 2009 là 10,6%. 4.1.2.3 Ngành nông nghiệp Do là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, quỹ đất nông nghiệp hầu như không có do được trưng dụng sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp nên việc phát triển nghành này chủ yếu dựa vào việc khai thác thủy hải sản trên địa bàn quận. 4.1.3. Đặc điểm về dân số, lao động, việc làm và mức sống Dân số trung bình của quận Hải Châu năm 1997 là 174.115 người, đến năm 2009 là 189.090 người tăng thêm 14.975 người, mật độ dân số trung bình là 9.139 người/km2 phân bố không đều, tập trung ở các phường trung tâm quận. Mật độ dân số cao nhất ở phường Nam Dương (46.055 người/km2) và thấp nhất là phường Hòa Cường Nam (5.764 người/km2). Sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh tại thành phố Đà Nẵng nói chung và quận Hải Châu nói riêng đã làm cho nhu cầu về bất động sản ở quận Hải Châu trở nên hết sức bức thiết. Lực lượng lao động nhập cư lớn, lao động trẻ có tỷ lệ cao. Với loại đối tượng này, số người có việc làm, thu nhập ổn định nhưng chưa có nhà ở là khá lớn. Đây chính là những khách hàng tiềm năng cho thị trường bất động sản, tạo nên cầu bất động sản tăng mạnh. 4.1.4. Điều kiện cơ sở hạ tầng Kết cấu hạ tầng trên địa bàn quận Hải Châu khá phát triển và có các phương thức vận tải đường bộ, đường sông, đường hàng không, gần nhà ga đường sắt và cảng biển rất thuận lợi cho việc giao thương, giao lưu văn hóa và du lịch nên có vai trò quyết định cho sự phát triển của thành phố 4.2. Khái quát về tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn quận Hải Châu 4.2.1. Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn quận Hải Châu. - Công tác quản lý đất đã có những tác động tích cực, giải quyết kịp thời những vấn đề thiết thực trong quản lý sử dụng đất đai, góp phần đáng kể vào sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Đã tác động trực tiếp đến lợi ích người dân, tạo nên một động lực mới, thúc đẩy sản xuất phát triển, làm cho tình hình sử dụng đất ngày càng được ổn định, hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại xung quanh việc giải quyết tranh chấp đất đai, chuyển đổi mục đích sử dụng đất chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Điều đó dẫn đến các ngành, các cấp địa phương còn lúng túng trong việc quản lý sử dụng đất. - Nhìn chung, việc sử dụng đất trên địa bàn quận có hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nơi, nhiều chỗ sử dụng đất chưa hợp lý, gây lãng phí đất, hiệu quả sử dụng đất không cao mà nguyên nhân chính là chưa có quy hoạch cụ thể, để ổn định và phát huy hiệu quả sử dụng đất. - Trên địa bàn quận vẫn còn những khu quy hoạch treo, những dự án dàn trải, chậm tiến độ hoặc không thực hiện dẫn đến hiện tượng lãng phí đất đai, hiệu quả sử dụng đất thấp. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của thị trường bất động sản, tạo nên những khu vực không có giao dịch, hoặc tỷ lệ giao dịch thành công rất thấp trong mua bán bất động sản (khu quy hoạch treo). Những dự án chậm tiến độ gây nên hiện tượng lãng phí rất lớn, giá thành bất động sản tăng cao, gây thiệt hai cho ngân sách nhà nước và lợi ích của nhà đầu tư. Cá biệt, có những dự án đã được cấp phép nhiều năm vẫn chưa có hoạt động gì (khu 88 Hùng Vương), hay hoạt động cầm chừng (khu vực bên cạnh nhà hát Trưng Vương do nhà thầu Vũ Châu Long thực hiện). 4.2.2. Hiện trạng sử dụng đất của quận Hải Châu năm 2009 Theo số liệu thống kê đất đai năm 2009, tổng diện tích tự nhiên của quận Hải Châu là 2135.42 ha. Trong đó, đất phi nông nghiệp là 2088,42 ha, chiếm 97,8%, đất nông nghiệp có 26,06 ha; chiếm 1,22% và đất chưa sử dụng có 20,94 ha chiếm 0,98% tổng diện tích tự nhiên toàn quận. Cơ cấu sử dụng đất của quận năm 2009 được thể hiện qua biểu đồ 1. (Nguồn: Phòng Tài Nguyên và Môi Trường năm 2009) 4.3. Thực trạng thị trường bất Động sản ở quận Hải Châu. 4.3.1. Thực trạng mua, bán nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở. Bảng 2: Thực trạng mua bán nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn 2005 - 2009 Đơn vị tính: Hồ sơ Nguồn: Sổ đăng ký biến động phòng TNMT Q. Hải Châu, TP. Đà Nẵng 4.3.2. Thực trạng chuyển mục đích sử dụng đất Bảng 3: Thực trạng chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2009 Năm Diện tích (m2) Năm 2005 1870 Năm 2006 1230 Năm 2007 890 Năm 2008 550 Năm 2009 420 Tổng 4960 Nguồn: Sổ đăng ký biến động phòng TNMT Q. Hải Châu, TP. Đà Nẵng Trong những năm qua, với sự phát triển của kinh tế - xã hội quận Hải Châu, đời sống của nhân dân đã có những bước chuyển biến đáng kể, thu nhập bình quân của các hộ dân tăng cao, các dịch vụ - thương mại phát triển đã ảnh hưởng đến việc chuyển mục đích sử dụng đất của các cá nhân, doanh nghiệp. Mục đích sử dụng đất chủ yếu được chuyển là từ mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất nông nghiệp với mục đích kinh doanh đối với các doanh nghiệp; mục đích đất ở đối với các hộ gia đình cá nhân. Phần lớn diện tích đất nông nghiệp chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, diễn ra ở thời điểm trước năm 2004, theo các dự án quy hoạch của Thành phố. 4.3.3. Thực trạng cho thuê đất, thuê nhà và thuê cơ sở sản xuất kinh doanh Một trong những đặc trưng phát triển của thị trường bất động sản ở quận Hải Châu là sự phát triển của loại hình thuê đất, thuê nhà, thuê cơ sở sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân chính mang lại nét đặc trưng trên là do sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch, dịch vụ. Hàng ngày, có hàng trăm lượt khách đổ về thuê phòng tại các khách sạn, nhà nghỉ, đây là nguồn cung rất lớn cho những người có nhu cầu về nhà ở trong một thời gian nhất định và góp phần vào trong tổng thu ngân sách địa phương. Thực trạng cho thuê đất, thuê nhà ở, thuê cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn 2005 - 2009 được thể hiện qua bảng 4. Bảng 4: Thực trạng cho thuê đất, thuê nhà ở, thuê cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn 2005 - 2009 Năm Diện tích (m2) Năm 2005 12992 Năm 2006 53988 Năm 2007 24795 Năm 2008 1585241 Năm 2009 483362 Tổng 2.160.378 Nguồn: Sở TNMT thành phố Đà Nẵng Đà Nẵng là một thành phố lớn, là trung tâm kinh tế, văn hóa của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Do đó, cùng với sự phát triển về kinh tế là nhu cầu ngày càng tăng về nhà ở, cơ sở sản xuất kinh doanh, văn phòng cho thuê v.v... Quá trình đô thị hóa tại Đà Nẵng nói chung, quận Hải Châu nói riêng phát triển với tốc độ chóng mặt, thành phố thay da đổi thịt hàng ngày. Để đạt được điều đó là nhờ tầm nhìn, những quyết sách hợp lý mang tính chiến lược của thành phố, cùng với sự đồng thuận của nhân dân, mang đến một môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước cũng như quốc tế. Cùng với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng, quận Hải Châu cũng được phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, nên đã tạo được sự thuận lợi trong sản xuất và đầu tư kinh doanh trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực kinh doanh về bất động sản. Do đó, từ năm 2005 đến năm 2009, quận Hải Châu trở thành một trong những địa bàn có diện tích thuê đất sản xuất kinh doanh, nhà ở, đất ở lớn nhất thành phố Đà Nẵng, cụ thể như: Bảng 5: Một số trường hợp thuê đất sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn 2005-2009 STT Đơn vị thuê Diện tích (m2) 1 Công ty TNHH Indochina Riverside Tower 3.652 2 Công ty TNHH Việt Lý tại miền Trung 14.022 3 Công ty TNHH Deawon Canavil 43.314 4 Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Hàn Quốc 10.773 Ngoài các dự án trên (chủ yếu là thuê đất mới), các hợp đồng cho thuê đất ở, đất sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh, trụ sở các công ty, cơ quan, ban ngành trên địa bàn quận đã được ký những năm trước đây, nay được ký lại, hoặc gia hạn hợp đồng cũng chiếm số lượng rất lớn. Những số liệu trên cho thấy nguồn cung trên thị trường bất động sản trong lĩnh vực nhà - đất cho thuê là hết sức dồi dào. Điều đó lý giải cho việc thị trường bất động sản ở quận Hải Châu nói riêng và Đà Nẵng nói chung trong thời gian gần đây đang hết sức sôi động. Tuy nhiên, do có sự cân bằng tương đối về cung - cầu, nên giá bất động sản tăng mạnh, nhưng ít có những biến động đột biến như thị trường bất động sản Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. 4.3.4. Thực trạng thế chấp quyền sử dụng đất và thế chấp tài sản gắn liền với đất Với thành quả của quá trình phổ biến pháp luật và trình độ dân trí ngày càng cao của người dân địa phương, đã phán ánh ngày càng sâu sắc nhận thức của người dân về quyền lợi của mình trong việc sở hữu các bất động sản. Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trở thành một trong những điều kiện tạo nguồn vốn cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đổi mới khoa học – công nghệ trong các dây chuyền sản xuất; mở rộng quy mô sản xuất hoặc chuyển đổi loại hình sản xuất
Luận văn liên quan