Đề tài Tìm hiểu về thương mại điện tử và xây dựng Website thương mại điện tử công ty Nhật Thanh

Để quán triệt nguyên tắc “ Học đi đôi với hành” và tạo điều kiện cho sinh viên làm quen với thực tế, có được cái nhìn tổng hợp, giúp cho sinh viên được cọ xát với thực tế và hạn chế được sự bỡ ngỡ khi ra trường, hàng năm nhà trường tổ chức cho sinh viên đi thực tập tại các cơ sở theo nội dung ngành nghề đào tạo và theo thế mạnh của từng nhóm sinh viên. Đây là điều kiện thuận lợi để chúng em phát huy được năng lực của bản thân cũng như khả năng áp dụng lý thuyết được trang bị ở trường học vào thực tế. Như các bạn đã biết, Trong những năm gần đây, Công nghệ thông tin đã có những bước phát triển mạnh mẽ, Máy tính điện tử không còn là phương tiện quý hiếm,xa xỉ như trước đây nữa mà ngày càng thật sự cần thiết và gần gũi hơn với con người. Trước đây, chúng ta phải tốn nhiều thời gian và chi phí để tìm và mua một món hàng mà mình cần thì bây giờ với sự hổ trợ của máy tính điện tử, chúng ta không mất nhiều thời gian và chi phí đi lại mà chúng ta vẫn có thể tìm mua được những thứ mà chúng ta muốn. Tương tự như việc mà chúng ta mua một món hàng, việc bán hàng giờ đây không nhất thiết phải có trụ sở cố định như trước đây mà nó cũng có thể được bán hàng thông qua nhiều hình thức khác nhau. Công nghệ thông tin giờ đã trở thành một trong những động lực quan trọng của sự phát triển và có những tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Chính vì vậy. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh đã không còn xa lạ và đã hình thành nên thương mại điện tử. Sự ra đời của thương mại điện tử đánh dấu sự bắt đầu của một hệ thống tạo ra của cải vật chất mới, là cơ hội thương mại tuyệt vời để phát triển kinh tế. Đi đôi với sự phát triển của Công nghệ thông tin là là sự phát triển của thương mại điện tử, nó đã góp phần thay đổi những hình thức kinh doanh củ kỉ, giao dịch truyền thống mất nhiều thời gian mà thay vào đó là những hình thức kinh doanh mới, giao dịch diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, không mất nhiều thời gian và đem lại nhiều lợi ích lớn cho xã hội. Những lý do trên cho thấy tận dụng được lợi điểm do thương mại điện tử đem lại là một thế mạnh để phát triển nền kinh tế đất nước và cải thiện đời sống người dân. Trong khi thương mại điện tử đang phát triển rất mạnh trong khu vực cũng như trên thế giới thì ở Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp vẫn quen với nếp kinh doanh cũ bề bộn công việc bàn giấy cũng như hàng loạt các ràng buộc về thủ tục hành chính.Người tiêu dùng Việt Nam vẫn quen tập quán sinh hoạt ra chợ hay đến cửa hàng chọn hàng, mua hàng, trả tiền mặt và mang hàng về. Hơn nữa, các hành động về phát triển thương mại điện tử của Việt Nam còn quá chậm. Quan phân tích trên chúng ta thấy được sự hạn chế trong thương mại điện tử là một trong những lý do khiến nền kinh tế Việt Nam không thực sự phát triển mạnh như một số nước khác. Chúng em xây dựng dịch vụ thương mại điện tử này nhằm đáp ứng tình hình thương mại điện tử ở Việt Nam. Có thể đây chưa là một dịch vụ hoàn chỉnh nhưng với những ý tưởng ban đầu này hy vọng chúng em có thể phát triển và hoàn thiện hơn trong tương lai để có thể áp dụng và đem lại những ý nghĩa thiết thực. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để chúng em có thêm kinh nghiệm cũng như có những ý tưởng hay trong dịch vụ của mình. Nội dung đề tài được chia làm 3 phần: Phần I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI VÀ TÌM HIỂU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ. Phần này sẽ giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tìm hiểu về thương mại điện tử. Phần II: XÂY DỰNG WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CÔNG TY NHẬT THANH Phần này được chia thành 4 chương như sau: Chương 1: Khảo sát hệ thống, xác lập dự án. Chương này sẽ trình bày về những yêu cầu từ phía công ty, nhận xét của nhóm và khả năng thực hiện đề tài. Chương 2 : Phân tích hệ thống về thông tin. Phân tích các yêu cầu về chức năng, tiến hành xây dựng các biểu đồ phân rã chức năng, biểu đồ luồng dữ liệu các mức. Chương 3: Phân tích hệ thống về dữ liệu. Tiến hành xác định các thực thể, những thuộc tính của các thực thể đó rồi tiến hành tạo cơ sở dữ liệu và xây dựng được quan hệ cơ sở dữ liệu. Chương 4: Tiến hành cài đặt chương trình. Chương này sẽ giới thiệu về những công cụ lập trình dùng để cài đặt chương trình và tiến hành cài đặt chương trình trên công cụ đó. PHẦN 3: KẾT LUẬN Phần này sẽ đưa ra một số kết luận về mặt ưu nhược điểm của đề tài, những vấn đề đã làm được và những vấn đề chưa làm được và từ đó đưa ra hướng phát triển của đề tài trong tương lai.

doc65 trang | Chia sẻ: tuandn | Lượt xem: 2252 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Tìm hiểu về thương mại điện tử và xây dựng Website thương mại điện tử công ty Nhật Thanh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Để quán triệt nguyên tắc “ Học đi đôi với hành” và tạo điều kiện cho sinh viên làm quen với thực tế, có được cái nhìn tổng hợp, giúp cho sinh viên được cọ xát với thực tế và hạn chế được sự bỡ ngỡ khi ra trường, hàng năm nhà trường tổ chức cho sinh viên đi thực tập tại các cơ sở theo nội dung ngành nghề đào tạo và theo thế mạnh của từng nhóm sinh viên. Đây là điều kiện thuận lợi để chúng em phát huy được năng lực của bản thân cũng như khả năng áp dụng lý thuyết được trang bị ở trường học vào thực tế. Như các bạn đã biết, Trong những năm gần đây, Công nghệ thông tin đã có những bước phát triển mạnh mẽ, Máy tính điện tử không còn là phương tiện quý hiếm,xa xỉ như trước đây nữa mà ngày càng thật sự cần thiết và gần gũi hơn với con người. Trước đây, chúng ta phải tốn nhiều thời gian và chi phí để tìm và mua một món hàng mà mình cần thì bây giờ với sự hổ trợ của máy tính điện tử, chúng ta không mất nhiều thời gian và chi phí đi lại mà chúng ta vẫn có thể tìm mua được những thứ mà chúng ta muốn. Tương tự như việc mà chúng ta mua một món hàng, việc bán hàng giờ đây không nhất thiết phải có trụ sở cố định như trước đây mà nó cũng có thể được bán hàng thông qua nhiều hình thức khác nhau. Công nghệ thông tin giờ đã trở thành một trong những động lực quan trọng của sự phát triển và có những tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Chính vì vậy. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh đã không còn xa lạ và đã hình thành nên thương mại điện tử. Sự ra đời của thương mại điện tử đánh dấu sự bắt đầu của một hệ thống tạo ra của cải vật chất mới, là cơ hội thương mại tuyệt vời để phát triển kinh tế. Đi đôi với sự phát triển của Công nghệ thông tin là là sự phát triển của thương mại điện tử, nó đã góp phần thay đổi những hình thức kinh doanh củ kỉ, giao dịch truyền thống mất nhiều thời gian mà thay vào đó là những hình thức kinh doanh mới, giao dịch diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, không mất nhiều thời gian và đem lại nhiều lợi ích lớn cho xã hội. Những lý do trên cho thấy tận dụng được lợi điểm do thương mại điện tử đem lại là một thế mạnh để phát triển nền kinh tế đất nước và cải thiện đời sống người dân. Trong khi thương mại điện tử đang phát triển rất mạnh trong khu vực cũng như trên thế giới thì ở Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp vẫn quen với nếp kinh doanh cũ bề bộn công việc bàn giấy cũng như hàng loạt các ràng buộc về thủ tục hành chính...Người tiêu dùng Việt Nam vẫn quen tập quán sinh hoạt ra chợ hay đến cửa hàng chọn hàng, mua hàng, trả tiền mặt và mang hàng về. Hơn nữa, các hành động về phát triển thương mại điện tử của Việt Nam còn quá chậm. Quan phân tích trên chúng ta thấy được sự hạn chế trong thương mại điện tử là một trong những lý do khiến nền kinh tế Việt Nam không thực sự phát triển mạnh như một số nước khác. Chúng em xây dựng dịch vụ thương mại điện tử này nhằm đáp ứng tình hình thương mại điện tử ở Việt Nam. Có thể đây chưa là một dịch vụ hoàn chỉnh nhưng với những ý tưởng ban đầu này hy vọng chúng em có thể phát triển và hoàn thiện hơn trong tương lai để có thể áp dụng và đem lại những ý nghĩa thiết thực. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để chúng em có thêm kinh nghiệm cũng như có những ý tưởng hay trong dịch vụ của mình. Nội dung đề tài được chia làm 3 phần: Phần I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI VÀ TÌM HIỂU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ. Phần này sẽ giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tìm hiểu về thương mại điện tử. Phần II: XÂY DỰNG WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CÔNG TY NHẬT THANH Phần này được chia thành 4 chương như sau: Chương 1: Khảo sát hệ thống, xác lập dự án. Chương này sẽ trình bày về những yêu cầu từ phía công ty, nhận xét của nhóm và khả năng thực hiện đề tài. Chương 2 : Phân tích hệ thống về thông tin. Phân tích các yêu cầu về chức năng, tiến hành xây dựng các biểu đồ phân rã chức năng, biểu đồ luồng dữ liệu các mức. Chương 3: Phân tích hệ thống về dữ liệu. Tiến hành xác định các thực thể, những thuộc tính của các thực thể đó rồi tiến hành tạo cơ sở dữ liệu và xây dựng được quan hệ cơ sở dữ liệu. Chương 4: Tiến hành cài đặt chương trình. Chương này sẽ giới thiệu về những công cụ lập trình dùng để cài đặt chương trình và tiến hành cài đặt chương trình trên công cụ đó. PHẦN 3: KẾT LUẬN Phần này sẽ đưa ra một số kết luận về mặt ưu nhược điểm của đề tài, những vấn đề đã làm được và những vấn đề chưa làm được và từ đó đưa ra hướng phát triển của đề tài trong tương lai. PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI VÀ TÌM HIỂU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CHƯƠNG I :TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI. Lý do chọn đề tài. Ngày nay,Thương mại điện tử(TMĐT) đã trở thành một công cụ phổ biến không những ở trên thế giới mà còn cả ở Việt Nam. Ở Việt Nam điển hình có một số trang như : , , ... đang có tình hình phát triển rất tốt, Tuy nhiên, để hình thành nên những trang TMĐT khá nỗi tiếng đó là cả một quá trình và mất rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức. Trong thời đại thông tin bùng nỗ, các doanh nghiệp đã dần ý thức được tác dụng của kênh thông tin internet, các cơ hội kinh doanh và hợp tác làm ăn có thể nãy sinh từ internet, Vì thế hình thành nên những trang TMĐT ngày một nhiều hơn và tích hợp nhiều yếu tố, chức năng khác không còn là điều xa lạ với mỗi một chúng ta nữa. Tuy nhiên, không đơn giản nói dựng lên là dựng lên được mà đó là cả một quá trình phân tích rất kỉ lưởng nhiều mặt của một vấn đề, về cách thức tổ chức, xác định yêu cầu hệ thống cần triển khai, ai là người có thể tư vấn cho chúng ta về vấn đề kỉ thuật, ai là người triển khai, phát triển hệ thống cho chúng ta, hệ thống chúng ta hoạt động như thế nào, vấn đề về tuổi thọ của hệ thống và bảo trì hệ thống ra sao...Chính vì có qua nhiều giao đoạn và nhiều vấn đề cần giãi quyết như vậy nên thường là chi phí cho một hệ thống là rất cao. Không dừng lại ở đó, hiện nay một số công ty có xu hướng tiếp cận TMĐT theo một hướng khác, đó là họ sẽ tạo ra những dịch vụ khác ngay trên dịch vụ của chính mình, Tức là một trang TMĐT bây giờ không chỉ dừng lại ở một công ty, một doanh nghiệp, một tổ chức hay là một cá nhân nữa mà nó tiến hành liên kết tất cả các công ty, các doanh nghiệp, các cá nhân lại với nhau hoặc là từ một doanh nghiệp ta có thể tổ chức thành nhiều doanh nghiệp nhỏ hơn cùng chung một lịch vực hoạt động tạo thành một hệ thống TMĐT linh động hơn, chuyên nghiệp hơn. Vậy, làm thế nào để thực hiện được những vấn đề trên, đi tìm câu trả lời cho những vấn đề đó chính là Lý do mà nhóm TNT-Group chúng em quyết định chọn đề tài : “TÌM HIỂU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ XÂY DỰNG WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CONG TY NHẬT THANH”. Nhằm hiểu biết về tính hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới cũng như trong nước, để từ đó có thể áp dụng phù hợp với thương mại điện tử nước nhà hiện nay. Mục đích Nhằm tổng hợp những cái kiến thức đã học được trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như những kiến thức chúng em thu thập được trong suốt quá trình thực tập để : Tìm hiểu rõ hơn, sâu hơn và làm rõ các khái niệm về TMĐT. Khả năng phân tích cho một hệ thống. Tiếp cận công cụ lập trình. Kỉ thuật lập trình trên môi trường internet. Trên cơ sở đó ta tiến hành xây dựng hệ thống TMĐT đa lĩnh vực với các mục đích sau: Xây dựng một hệ thống TMĐT toàn diện cho người dùng là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cũng có thể là người tiêu dùng.Việc xây dựng hệ thống TMĐT này phải thỏa mản những tiêu chí sau: Có đầy đủ những chức năng của một website TMĐT bình thường. Tích hợp những tính năng mới nhất hiện nay vào công việc thanh toán(Sử dung ngân lượng) Chi phí triển khai thấp. Thời gian triển khai nhanh. Chi phí duy trì, bảo trì hệ thống thấp. An toàn, ổn định và bảo mật dử liệu. Đối tượng Đối tượng mà đề tài phục vụ đó chính là các doanh nghiệp( Có thể là doanh nghiệp lớn hoặc vừa và nhỏ), các tổ chức, cá nhân và người sử dụng interet, người tiêu dùng. Với đối tượng người dùng là doanh nghiệp, đề tài sẽ nghiên cứu và xây dựng hệ thống TMĐT toàn diện theo những yêu cầu mà doanh nghiệp cần đáp ứng với chi phí thấp nhất, thời gian triển khai nhanh nhất và bảo trì hệ thống dể dàng nhất có thể. Với đối tượng là cá nhân muốn kinh doanh qua mạng internet, họ có thể sử dụng kết quả của đề tài với tư cách là một doanh nghiệp hoặc với tư cách là một người dùng mạng. Với đối tượng là người sử dụng mạng internet, họ có thể là người dùng đầu cuối của hệ thống TMĐT của những doanh nghiệp trên hoặc có thể họ cũng đóng vai trò như một doanh nghiệp nhỏ trên môi trường internet hoặc cũng có thể đơn thuần chỉ là tìm kiếm thông tin, tham khảo giá cả để phục vụ cho nhu cầu của mình, kết quả của đề tài cũng cung cấp cho họ một nơi tập trung những thông tin của một lĩnh vực nào đó – Như ta vẫn thường gọi bằng từ “Cộng đồng” để họ có thể dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm thông tin, tham khảo giá cả, chất lượng... Phạm vi nghiên cứu. TMĐT đa lĩnh vực là cả một lịch vực rất rộng cả về nghiệp vụ lẫn lý thuyết ứng dụng. Doanh nghiệp, tổ chức hay cá nhân muốn hoạt động trong lĩnh vực này cần đòi hỏi phải có thời gian tìm hiểu để tiếp cận và hiểu nó hơn. Với một khoảng thời gian rất có hạn, đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong một phạm vi có thể : - Tìm hiểu lý thuyết về TMĐT. - Phân tích thiết kế hệ thống thông tin cho hệ thống TMĐT đa lĩnh vực. - Tiến hành xây dựng một hệ thống TMĐT đa lĩnh vực hoàn thiện cho một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tùy theo thời gian cho phép mà nhóm TNT có thể thêm một số chức năng khác hoặc cũng có thể cắt giảm bớt một số chức năng. CHƯƠNG II : TÌM HIỂU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 2. 1 Khái niệm thương mại điện tử. Có nhiều khái niệm về TMĐT, nhưng hiểu một cách tổng quát, TMĐT là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử. TMĐT vẫn amng bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống. Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử, các hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh. * Một cách hiểu khác về Thương mại điên tử. TMĐT là hình thức quan trọng của các hoạt động thương mại trong xã hội thông tin hóa ở thế kỉ XXI, bao gồm một loạt các hoạt động thương mại được thực hiện qua mạng, từ tìm nguồn nguyên liệu, thu mua, trưng bày sản phẩm, đặt hàng đến việc giao hàng, vận chuyển và thanh toán điện tử ... Ngoài các giao dịch điện tử đối với mua bán hàng hóa, TMĐT sẽ bao gồm cả những hoạt động thương mại dịch vụ như việc truyền tin trực tuyến, chuyển tiền điện tử, giao dịch cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, tiến hành đấu giá trên mạng ...TMĐT vừa đề cập việc mua bán hàng hóa và cung cấp các dịch vụ, vừa có những nội dung hoạt động xã hội mới (Như cửa hàng ảo, kinh doanh qua mạng ...) Tuy nhiên, TMĐT càng được biết tới như một phương thức kinh doanh hiệu quả từ khi internet hình thành và phát triển. Chính vì vậy, nhiều người hiểu TMĐT theo nghĩa cụ thể hơn là giao dịch thương mại, mua sắm qua internet và mạng. Căn cứ vào đối tượng giao dịch, người ta chia các giao dịch TMĐT thành 2 nhóm: Giao dịch buôn bán hàng hóa vật chất và dịch vụ thông thường. Giao dịch trao đổi trực tuyến thông tin, hàng hóa, dịch vụ số hóa như phần mềm, âm nhạc, chương trình video theo yêu cầu ... Trong nhóm đầu, các phương tiện điện tử được sử dụng như một công cụ cho các giao dịch chào hàng, chấp nhận chào hàng, thậm chí là cả thanh toán, nhưng việc giao hàng hóa và dịch vụ tới khách hàng vẫn phải thông qua những phương thức truyền thống. Trong nhóm thứ hai, bất kỳ công đoạn nào của hoạt động động TMĐT đều có thể thực hiện qua các phương tiện điện tử. 2.1.1 Lợi ích của thương mại điện tử. - Đối với doanh nghiệp, lợi ích lớn nhất mà TMĐT mang lại chính là sự kết hợp chi phí và tạo lợi nhuận cho các bên giao dịch. Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn so với giao dịch truyền thống. Ví dụ gữi fax hay thư điện tử thì nội dung thông tin đến tay người nhận sẽ nhanh hơn là gữi thư. Các giao dịch qua internet có chi phí rất rẽ, một doanh nghiệp có thể gữi thư tiếp thị, chào hàng đến hàng loạt khách hàng chỉ với chi phí giống như gữi cho một khách hàng, với TMĐT các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, giữa thành phố với nông thôn, từ nước này sang nước khác hay nói cách khác là không bị giới hạn không gian địa lý. điều này cho phép các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sản xuất, giao dịch. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, liên lạc với đối tác và khách hàng ở bất kì nơi đâu với chi phí phí thấp hơn phương thức tiếp cận thị trường truyền thống. Những lợi ích như trên chỉ có với những doanh nghiệp thực sự nhận thức được giá trị của thương mại điện tử. Vì vậy, TMĐT góp phần thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để thu được nhiều lợi ích nhất. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đối với người tiêu dùng, TMĐT mở rộng khả năng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp. Do có nhiều lựa chọn nên khách hàng dể tìm được sản phẩm có chất lượng cao hoặc giá thấp. Hàng hóa như phần mềm, phim, nhạc có thể được giao ngay đến khách hàng qua internet. Đối với xã hội, TMĐT tạo ra một phong cách kinh doanh, làm việc mới phù hợp với cuộc sống công nghiệp, giúp các khu vực kém phát triển nhanh chóng mở rộng trao đổi. TMĐT là một công cụ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ khắc phục những điểm kém lợi thế để cạnh tranh ngang bằng với doanh nghiệp lớn. TMĐT cũng tạo ra động lực cỉa cách mạnh mẽ cho các cơ quan quản lý nhà nước nhằm theo kịp nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội. 2.1.2 Thách thức trong ứng dụng thương mại điện tử. TMĐT là một loại hình hoạt động xã hội mới, gắn liền với hạ tầng công nghệ, do vậy cần có khung pháp lý điều chỉnh thích hợp. Tuy nhiên, việc ban hành đầy đủ các văn bản pháp lý trong lĩnh vực này là công việc không dể, đòi hỏi sự nghiên cứu và quan sát từ chính quá trình tham gia TMĐT. Đối với nhiều người, nhiều doanh nghiệp, phương thức giao dịch và kinh doanh bằng các phương tiện điện tử còn chưa quen thuộc.người ta vẫn nghi ngờ độ tin cậy của các phương tiện điện tử cũng như tính pháp lý của các giao dịch thực hiện thông qua các phương tiện đó. Do vậy, mặc dù đã biết đến lợi ích của TMDT, nhưng những người tiêu dùng này vẫn chưa tham gia TMĐT. Hạ tầng kỷ thuật cũng là một trở ngại cho các giao dịch điện tử. Điều kiện nối mạng tại các địa phương trên cả nước còn khó khăn, không phải hộ gia đình nào cũng có khả năng kinh tế để tham gia mua sắm trực tuyến. Việc thanh toán qua mạng chưa phải dể dàng, thuận tiện. Tham gia sâu vào TMDDT đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi cơ cấu, nhân sự, quy trình làm việc ... vì thế nên các doanh nghiệp cũng cần xữ lý nhanh nhạy các biến cố rũi ro có thể xãy ra. Để tham gia TMĐT, người tiêu dùng phải có trình độ tối thiểu về sử dụng các phương tiện điện tử và máy tính. Bên cạnh đó, có những người sử dụng được máy tính nhưng vẫn duy trì thói quen mua sắm trực tiếp tại cửa hàng. 2.1.3 Các loại hình ứng dụng thương mại điện tử. Dựa vào các chủ thể tham gia giao dịch TMĐT, người ta phân thành các loại hình ứng dụng TMĐT gồm : Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B. Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng – B2C. Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước – B2G. Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau – C2C. Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân – G2C. Trong đó: B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Theo Hội nghị liên hợp quốc về TMĐT và phát triển (UNCTAD), TMĐT B2B chiếm tỉ trọng lớn trong thương mại điện tử(Khoảng 90%). Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng TMĐT như mạng giá trị gia tăng (VAN), dây chuyền cung ứng hàng hóa, dịch vụ(SCM), các sàn giao dịch TMĐT ... Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, kí kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Ở một mức độ cao, các giao dịch này có thể diễn ra một cách tự động. TMĐT B2B đem lại nhiều lợi ích thực tế cho doanh nghiệp, đặc biệt giúp giảm các chi phí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán, tăng cơ hội kinh doanh... B2C là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các phương tiện điện tử. Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử(PTĐT) để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng. Giao dịch B2B tuy chiếm tỉ trọng ít(khoảng 10%) trong TMĐT, nhưng có phạm vi ảnh hưởng rộng. Để tham gia hình thức hình thức kinh doanh này, thông thường các doanh nghiệp sẽ phải thiết lập website, hình thành cơ sở dữ liệu (CSDL) về hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. TMĐT B2C đem lại lợi ích trực tiếp cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Doanh nghiệp tiết kiệm chi phí do không cần địa điểm thuận lợi cố định, phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn. Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng, có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc. B2G là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong đó cơ quan nhà nước đóng vai trò khách hàng. Quá trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được tiến hành qua các phương tiện điện tử. Cơ quan nhà nước cũng có thể lập những website, tại đó đăng tải thông tin về nhu cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hóa, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp, mặt khác giúp tăng cường tính minh bạch trong hoạt động mua sắm công. C2C là loại hình giữa các câ nhân với nhau. Sự phát triển của các phương tiện điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động TMĐT với tư cách là người bán, người cung cấp dịch vụ. Một cá nhân có thể tự lập website để kinh doanh những mặ hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá một số món hàng mình có. C2C góp phần tạo nên sự đa dạng của thị trường. G2C là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân. Đây chủ yếu là các giao dịch mang tính hình chính, nhưng có thể mang những yếu tố của TMĐT. Ví dụ: Khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng kí hồ sơ trực tuyến ... 2.2 Phương tiện điện tử. Thương mại điện tử được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử như: điện thoại, máy fax, truyền hình, các hệ thống ứng dụng TMĐT kỷ thuật cao và các mạng kết nối máy tính với nhau. TMĐT phát triển chủ yếu qua internet và trên các hệ thống cung ứng dịch vụ hổ trợ giao dịch TMĐT(như mạng giá trị gia tăng, hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng hàng hóa, dịch vụ). Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ không dây được tích hợp đa chức năng đang dần trở thành một phương tiện điện tử quan trọng, có khả năng kết nối với Internet và rất thuận tiện cho việc tiến hành các giao dịch TMĐT. Các hoạt động thương mại được tiến hành trên những phương tiện di động được gọi là thương mại di động (M-Commerce). Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dể sử dụng và thường mở đầu cho các giao dịch thương mại. Một số loại dịch vụ có thể cung cấp trực tiếp qua điện thoại như dịch vụ bưu điện, ngân hàng, hỏi đáp, tư vấn, giãi trí. Với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên rộng rãi hơn. Tuy nhiên công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh, mọi cuộc giao dịch cuối cùng vẫn phải kết thúc bằng giấy tờ, ngoài ta chi phí giao dịch điện thoại, nhất là điện thoại đường dài và điện thoại ra nước ngoài vẫn còn cao. Bên cạnh điện thoại, máy fax có thể thay thế dịch vụ đưa thư và gữi công văn truyền thống và nay gân như đã thay thế hẵn máy telex chỉ truyền được lời văn. Nhưng máy fax lại có một số hạn chế như: không thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều. Để thay thế cho sự bất cập của điện thoại cũng như máy fax. Ngày nay, truyền hình trở thành một trong những công cụ điện tử phổ thông nhất. Truyền hình đóng vai trò quan trọng trong thương mại, nhất là trong quảng cáo hàng hóa. Song truyền hình mới chỉ là một công cụ truyền thôn