Luận văn Giá trị văn hoá thực tiễn trong truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó có tộc người Khmer tồn tại lâu đời ở vùng Nam Bộ. Trong quá trình giao lưu với người Việt, người Hoa, người Chăm, tộc người Khmer ở nơi đây một mặt đã thể hiện và lưu giữ những nét đẹp thuộc về bản sắc văn hóa của dân tộc mình, mặt khác cũng tiếp thu những nét văn hóa của các dân tộc anh em cùng cộng cư trong không gian sinh tồn ở phía Nam của tổ quốc. Do đó, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa dân tộc Khmer với các dân tộc Việt, Hoa, Chăm, bộc lộ trên nhiều lĩnh vực văn hóa vật thể lẫn văn hóa phi vật thể. Trong đời sống văn hoá của người Khmer Nam Bộ, truyện cười chiếm một vị trí nhất định. Đồng bào Khmer vốn tin vào duyên nghiệp, cả cuộc đời siêng năng làm lụng nhưng mục đích cuối cùng là cầu mong sự an bình dưới chân đức Phật. Bóng dáng nhà chùa che mát tâm hồn của mỗi con người từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt lìa trần. Do vậy trong đời sống nông nghiệp còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng tinh thần của họ vẫn lạc quan, hướng về cõi cực lạc. Họ mở rộng lòng mình với mọi người, mọi dân tộc anh em. Tiếng cười dân gian một phần nào đó giúp họ giải khuây sau những vụ mùa cực nhọc, mặt khác tiếng cười trong văn hoá dân gian còn là nơi người Khmer thể hiện tư tưởng, quan niệm sống của mình

pdf254 trang | Chia sẻ: duongneo | Lượt xem: 1049 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Giá trị văn hoá thực tiễn trong truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Huỳnh Vũ Lam GIÁ TRỊ VĂN HOÁ THỰC TIỄN TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN KHMER NAM BỘ PHỤ LỤC Chuyên ngành : Văn học Việt Nam Mã số : 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HỒ QUỐC HÙNG Thành phố Hồ Chí Minh – 2008 LỜI CẢM ƠN Khoa học là công việc của một cá nhân nhưng nếu chỉ có sự nỗ lực của bản thân, có thể chân lí sẽ không được chạm đến một cách toàn diện. Do đó, luận văn thạc sĩ văn học với đề tài Giá trị văn hoá thực tiễn trong truyện cười Khmer Nam Bộ dù đứng tên của cá nhân tôi nhưng đằng sau những con chữ là đầy ắp những tấm lòng của những người đã âm thầm giúp đỡ, hỗ trợ và cộng tác. Trước hết, xin được cảm ơn gia đình và bà con dân tộc Khmer ở Sóc Trăng nói riêng và các tỉnh Nam Bộ nói chung đã tận tình giúp đỡ khi chúng tôi đi sưu tầm, điền dã. Công trình này không chỉ có ích cho bản thân tôi mà còn là lời tri ân đối với bà con đã hỗ trợ trong thời gian qua. Tôi xin chân thành cảm ơn quí thầy cô của Khoa Ngữ văn, cán bộ phòng Sau Đại học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn và giúp đỡ về mặt tri thức trong quá trình giảng dạy cũng như về mặt kĩ thật trong quá trình thực hiện luận văn. Và sau cùng, xin gửi lời chân thành cảm ơn sâu sắc đến tiến sĩ Hồ Quốc Hùng, người thầy đã tận tuỵ hướng dẫn tôi trong một năm sưu tầm, nghiên cứu và thực hiện luận văn. Thầy không chỉ là người trực tiếp đặt bút vào sửa chữa những câu từ còn thô vụng mà quan trọng hơn là người đã định hướng và chỉ ra những vấn đế có tầm chiến lược giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện./. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó có tộc người Khmer tồn tại lâu đời ở vùng Nam Bộ. Trong quá trình giao lưu với người Việt, người Hoa, người Chăm, tộc người Khmer ở nơi đây một mặt đã thể hiện và lưu giữ những nét đẹp thuộc về bản sắc văn hóa của dân tộc mình, mặt khác cũng tiếp thu những nét văn hóa của các dân tộc anh em cùng cộng cư trong không gian sinh tồn ở phía Nam của tổ quốc. Do đó, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa dân tộc Khmer với các dân tộc Việt, Hoa, Chăm, bộc lộ trên nhiều lĩnh vực văn hóa vật thể lẫn văn hóa phi vật thể. Trong đời sống văn hoá của người Khmer Nam Bộ, truyện cười chiếm một vị trí nhất định. Đồng bào Khmer vốn tin vào duyên nghiệp, cả cuộc đời siêng năng làm lụng nhưng mục đích cuối cùng là cầu mong sự an bình dưới chân đức Phật. Bóng dáng nhà chùa che mát tâm hồn của mỗi con người từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt lìa trần. Do vậy trong đời sống nông nghiệp còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng tinh thần của họ vẫn lạc quan, hướng về cõi cực lạc. Họ mở rộng lòng mình với mọi người, mọi dân tộc anh em. Tiếng cười dân gian một phần nào đó giúp họ giải khuây sau những vụ mùa cực nhọc, mặt khác tiếng cười trong văn hoá dân gian còn là nơi người Khmer thể hiện tư tưởng, quan niệm sống của mình. Truyện cười là thể loại tự sự dân gian có tính xã hội và ý nghĩa thực tiễn cao, nó diễn ra hằng ngày, mang hơi thở của cái thường nhật, khác với không gian thẩm mĩ của thần thoại, truyền thuyết hay cổ tích vốn là những thể loại có nội dung phản ánh với độ lùi của thời gian rất xa. Do đó, truyện cười cũng đồng thời ghi nhận được cả sự biến đổi do quá trình phát triển và giao lưu văn hóa trong đời sống xã hội. Văn học dân gian tộc người Khmer vùng Nam Bộ trước đây đã được sưu tầm và nghiên cứu trong nhiều công trình. Việc phân lập hệ thống các thể loại văn học và tìm hiểu các thể loại Thần thoại, Truyền thuyết, Cổ tích đã được nhiều tác giả thực hiện. Tuy nhiên, việc đi sâu vào nghiên cứu có tính hệ thống từng thể loại vẫn còn ít được chú trọng. Trên bình diện nghiên cứu về văn hoá Nam Bộ lâu nay, theo nhận định của nhóm tác giả Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh trong đề án nghiên cứu khoa học trọng điểm Những vấn đề xã hội-nhân văn khu vực Nam Bộ giai đoạn 2005-2010, thì các vấn đề kinh tế được quan tâm nhiều hơn các vấn đề văn hóa xã hội. Nhưng nếu xét kĩ thì nhiều vấn đề kinh tế xã hội lại có nguyên nhân từ khía cạnh văn hóa. Do vậy, tiếp tục phát huy và bảo tồn văn hóa dân tộc ở vùng Nam Bộ, trong đó có tộc người Khmer là một nhiệm vụ hàng đầu và là một hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng để giải quyết nhiều vấn đề khác có liên quan. Luận văn này cũng lấy nền tảng từ hướng nghiên cứu nêu trên. 2. Lịch sử vấn đề Văn học dân gian Khmer Nam Bộ được sưu tầm và nghiên cứu muộn hơn so với văn học dân gian các dân tộc thiểu số khác. Năm 1983, trong lời giới thiệu cho cuốn Truyện cổ Khơ me Nam Bộ, tác giả Huỳnh Ngọc Trảng đánh giá: Trước cách mạng tháng Tám 1945, những tập sách hay bài nghiên cứu về đồng bào Khơ me Nam Bộ có đề cập đến các mặt lịch sử, văn hóa, khảo cổ học, dân tộc học, nhưng phần thực sự gọi là văn học dân gian thì chưa có gì đáng kể ngoài việc đưa ra một số truyền thuyết còn hạn hẹp Dưới thời thống trị của chủ nghĩa thực dân mới, vấn đề sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian Khơ me Nam Bộ cũng không được chú ý. Rải rác đây đó, trên các tạp chí xuất bản ở Sài Gòn, người ta thỉnh thoảng bắt gặp đôi chuyện kể Khơ me Nam Bộ được giới thiệu một cách tình cờ, tùy tiện. [69, tr.3] Nhận định nêu trên là một trong những cơ sở quan trọng để đối chiếu và tham khảo khi nghiên cứu Văn học dân gian Khmer Nam Bộ. Ở miền Bắc, từ sau 1945, chiến tranh xảy ra liên tục, việc sưu tầm gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi có trích dẫn ở dạng dị bản một số truyện của người Khmer để làm cơ sở so sánh cho các truyện của người Việt. Tuy nhiên phần lớn những tác phẩm đó có nguồn gốc từ truyện của người Khmer ở Campuchia nhiều hơn là người Khmer Nam Bộ. Tư liệu về truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ trước năm 1975 chủ yếu có được từ nguồn sách vở của các nhà nghiên cứu người Pháp. Theo tác giả Trường Lưu [48], những tên tuổi như Barrault, Francois Martine, Louis Malleret, Georges Máspero ... và các tạp chí France- Asia, Extrême-Asia ...đã có nhiều bài báo viết về văn hoá người Khmer. Tuy nhiên các tài liệu nêu trên thường không phân biệt giữa người Khmer ở Campuchia và ở Nam Bộ. Ông còn viết: ... trong vòng chiếm đóng của Mỹ ở Sài Gòn, một số nhà nghiên cứu - chủ yếu là Lê Hương - mới có những công trình biên soạn về người Khmer ở ĐBSCL, chủ yếu là thiên về lịch sử (Sử Liệu Phù Nam, Sử Cao Miên, Người Việt gốc Miên ...). Nhưng lịch sử hình thành người Khmer ở ĐBSCL chỉ mới ở dạng suy luận và phỏng đoán trên cơ sở tư liệu chưa được xử lí một cách nghiêm túc lắm nên các tác giả thường lúng túng hoặc khiên cưỡng khi lách sâu ngòi bút vào những khía cạnh cần sâu sắc mới xác định được vấn đề nêu ra [48, tr.8]. Nhận định trên cho thấy một thực tế trong việc sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian Khmer Nam Bộ trước năm 1975 chưa chú trọng vào việc nghiên cứu văn học dân gian mà nặng về văn hóa lịch sử. Sau khi đất nước thống nhất, công tác sưu tầm và tập hợp các nguồn truyện dân gian mới thực sự phát triển. Ở Nam Bộ, phần lớn công việc vẫn nhờ vào đội ngũ giảng viên và sinh viên các trường đại học ở Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy văn học dân gian Khmer nói chung và truyện cười nói riêng, chưa được sự chú ý của nhiều tác giả. Điều đó có nhiều nguyên nhân. Trước hết có thể thấy rõ là có một số công trình sưu tầm ở dạng tổng hợp các thể loại và khi biên soạn thì thiếu dụng công về việc phân loại. Năm 1985, nhà văn Anh Động [20] sưu tầm và giới thiệu 08 truyện dân gian Khmer, trong đó có 02 truyện cười nhưng không phân loại riêng mà sắp xếp lẫn chung với truyền thuyết, thần thoại. Trong cuốn sách vừa nêu trên của tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, có 4/43 tác phẩm thuộc thể loại truyện cười cũng không được tác giả tách riêng. Bên cạnh đó, một số công trình có khuynh hướng không phân chia thể loại truyện cười mà gom chung vào bộ phận “truyện dân gian”. Dễ nhận thấy là cuốn Văn học dân gian Đồng bằng Sông Cửu Long [41] do Khoa Ngữ văn trường Đại học Cần Thơ biên soạn năm 1997. Một thực trạng khác của việc sưu tầm các truyện cười dân gian Khmer là các công trình này thường để lẫn cùng với truyện cười của dân tộc Việt. Điều này thể hiện trong nhiều công trình có quy mô lớn như: Văn học dân gian Sóc Trăng [15] và Văn học dân gian Bạc Liêu [14] do Chu Xuân Diên chủ biên. Trong hai công trình này, phần truyện cười của người Khmer không được tách riêng. Tình trạng trên không rõ do mục đích người biên soạn hay là do điều kiện sưu tầm điền dã. Vì vậy, một thực tế không thể phủ nhận là: truyện cười dân gian của người Khmer ở Nam Bộ chưa được quan tâm, nghiên cứu với tư cách là một đối tượng riêng biệt. Hiện trạng này cũng xảy ra đối với những công trình cấp nhà nước. Năm 2002, Viện Văn học cho ra mắt Tổng tập Văn học Các Dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tập 2 [91] do tác giả Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, trong đó không có phần truyện cười của người Khmer Nam Bộ dù truyện cười của của các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn – Khmer thì được chọn vào. Ngay cả những tuyển tập văn học dân gian khác về truyện cười, nếu có được chọn lựa thì truyện dân gian của người Khmer cũng chỉ đưa ra nhóm truyện trạng Thơ Mênh Chây (sic). Đi sâu vào các công trình chuyên về thể loại truyện cười, năm 1981, tác giả Châu Ôn trong bài viết Một vài thể loại văn học dân gian đồng bằng Sông Cửu Long đã có nhận xét: Truyện cười không chỉ hấp dẫn đối với bà con Khmer mà bao giờ nó cũng tạo niềm thích thú kéo dài và thường xuyên đối với người nông dân của mọi dân tộc trên trái đất. Truyện cười của người Khmer gây được tiếng cười hóm hỉnh, sảng khoái, khi thì châm biếm thói hư tật xấu ở đời, khi thì nhằm đả kích bọn quan lại, nhà giàu về thói đạo đức giả. Truyện cười Khmer là một trong những thể loại truyện phong phú nhất; nhưng tập trung, tiêu biểu về hàng loạt truyện móc xích nhau của một nhân vật như Thnênh Cheay (tương tự nhân vật Trạng Quỳnh của người Việt). Bằng sự thông minh, hóm hỉnh, Thnênh Cheay làm cho bọn quan lại, nhà giàu đau đầu và đem đến cho dân chúng những nụ cười thoải mái. Ngoài ra, còn có truyện về nhân vật A Lev (tương tự nhân vật Cuội của người Việt) cũng thuộc loại này. Truyện cười đã phản ánh được cuộc đấu tranh một cách mạnh mẽ và cũng biểu hiện được trí thông minh và óc tưởng tượng phong phú của nhân dân. [88, tr.180-181] Năm 2006, trong luận văn thạc sĩ Khảo sát nguồn truyện dân gian Khmer Nam Bộ [77], tác giả đã giành một phần để nói về truyện cười, nhưng chỉ dừng lại ở những khái niệm và phân loại mà chưa nêu được đặc điểm thi pháp thể loại. Gần đây nhất, năm 2007, tác giả Phạm Tiết Khánh đã bước đầu phân loại và có sự đánh giá sơ bộ về giá trị của các thể loại văn học dân gian của người Khmer ở Nam Bộ, trong đó có truyện cười. Trong một bài viết, ông cho rằng: Bộ phận đặc biệt nhất trong dòng tự sự dân gian của người Khmer Nam Bộ là mảng truyện cười. Hầu hết truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ xoay quanh bộ ba truyện À Lêu, Thơ Mênh Chây (là truyện thơ mà tên nhân vật chính cũng là tên truyện) và Chấc Sờ Mốc []. Ngoài ba chuỗi truyện trên, trong kho tàng truyện khôi hài của người Khmer Nam Bộ còn có những câu chuyện độc lập, tản mạn nhưng cũng không kém phần dí dỏm. [39] Nhận định như vậy chưa phải đã đúng và đủ (vì tác giả cho rằng Thơ Mênh Chây là truyện thơ) nhưng dù sao đây vẫn là một trong số ít bài viết bàn về thể loại truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ. Như vậy, có thể thấy vấn đề tìm hiểu truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ cho đến nay đang dừng lại ở hai mức độ: thứ nhất, sưu tầm biên soạn; và thứ hai, nghiên cứu bước đầu ở mức độ khái niệm và một vài đặc điểm sơ lược. Trong phần sưu tầm, biên soạn, những người đi trước chưa dành riêng cho truyện cười một hệ thống nên thể loại này hoặc là để cùng với các thể loại khác của văn học dân gian Khmer (như công trình của Huỳnh Ngọc Trảng và Anh Động) hoặc có phân loại nhưng đặt nó chung với truyện cười người Việt (tiêu biểu là các công trình của Chu Xuân Diên). Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về văn hoá dân gian của người Khmer ở Nam Bộ, những tác giả đi trước thường tập trung vào ba phương diện: Thứ nhất là mô tả, phân tích kĩ lưỡng các bình diện thuộc văn hoá vật thể và phi vật thể để làm rõ nét bản sắc của người Khmer trong cộng đồng các dân tộc ở vùng Nam Bộ. Điều này thể hiện khá rõ trong các báo cáo ở “Hội nghị về Văn hoá, văn nghệ tuyền thống của người Khmer tại đồng bằng Sông Cửu Long” tổ chức tại Hậu Giang năm 1981. Song song đó trong nhiều công trình nghiên cứu khác của nhiều tác giả, đây đó cũng đã đề cập đến các vấn đề thuộc về nguồn gốc và bản sắc của người Khmer ở Nam Bộ. Hướng nghiên cứu thứ hai được nhiều nhà khoa học chú ý khi tiếp cận với văn hóa dân gian của người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng và Nam Bộ nói chung là sự giao thoa văn hóa giữa người Khmer với các tộc người khác trong quá trình cộng cư. Điều này đã tạo cho người Khmer ở Nam Bộ một nét bản sắc riêng khác với người Khmer bản địa ở Campuchia. Vì vậy công tác quản lí về mặt nhà nước đối với những thay đổi văn hoá này là cần phải làm như thế nào để thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng dân tộc Khmer trong thời kì mới. Điều này thể hiện rõ trong hội thảo khoa học với chủ đề xây đựng đời sống văn hoá của người Khmer trong khuôn khổ những ngày hội văn hoá dân tộc Khmer Nam Bộ tại thủ đô Hà Nội năm 2003. Hướng nghiên cứu thứ ba thường nằm trong các công trình viết về một khía cạnh nào đó của văn hoá Nam Bộ. Trong đó, các tác giả đã tiến hành phân tích vấn đề đó ở tất cả các dân tộc vùng Nam Bộ hay một địa phương. Chẳng hạn công trình Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng Sông Cửu Long [21] in năm 1991. Hay gần đây, công trình Tín ngưỡng dân gian ở Thành phố Hồ Chí Minh [85] đã thực hiện theo hướng này. Ở tác phẩm này, các tác giả chỉ đi sâu vào vấn đề tín ngưỡng của các dân tộc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có người Khmer. Các công trình có tính chuyên sâu như vậy không trực tiếp liên qua đến đề tài nhưng là một trong những cơ sở đáng tin cậy để đồi chiếu, tham khảo khi lí giải nội dung của luận văn. Từ đó có thể nói, qua một số công trình, tác phẩm bàn về văn hóa dân gian tộc người Khmer nói chung và thể loại truyện cười dân gian nói chung, vấn đề đã được bóc tách ở hai cấp độ: Thứ nhất là đặc điểm riêng của tộc người Khmer và quá trình cộng cư đã tạo ra sự giao lưu trong những sản phẩm văn hóa dân gian, mà văn học dân gian là một phương diện cụ thể. Thứ hai, công việc sưu tầm và nghiên cứu về văn học dân gian của tộc người Khmer nói chung và thể loại truyện cười nói riêng bước đầu có nhiều thành tựu nhưng còn thiếu dụng công đầu tư vào chiều sâu nâng lên thành lí thuyết. Do đó, một cái nhìn thấu đáo và hệ thống đối với thể loại này là cần thiết. Nhưng quan trọng hơn là việc lý giải cội nguồn tạo nên những giá trị đặc trưng của tộc người Khmer biểu hiện trong thể loại truyện cười và đặc biệt là tìm hiểu những diễn hoá của nó trong đời sống hằng ngày của xã hội đương đại, sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm đặc điểm loại hình truyện cười Khmer. Để làm được việc này đòi hỏi phải có một cái nhìn hệ thống từ những gì đã được công bố kết hợp với việc khảo sát nguồn truyện dân gian hiện đang tồn tại, đặt trong bối cảnh văn hoá của dân tộc Khmer. Từ đó mới có thể đúc kết thành những quy luật vận động của một loại hình văn hoá dân gian cụ thể. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Từ cơ sở lịch sử vấn đề, đề tài Giá trị văn hóa thực tiễn trong truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ có mục đích sẽ hệ thống hoá nguồn truyện cười dân gian Khmer và xác định những giá trị văn hoá đã trở thành quy luật nội tại thúc đẩy sự vận động và phát triển của thể loại này. Qua đó góp phần làm rõ tính tất yếu của quá trình giao lưu văn hóa cũng như nét đặc trưng còn giữ lại, không thể hòa lẫn của từng tộc người. Do vậy, luận văn này phải đạt ba nhiệm vụ cơ bản: Một là, tổng hợp nguồn truyện cười dân gian Khmer hiện đã được công bố bằng văn bản. Bên cạnh đó, việc tiến hành điền dã, sưu tầm từ thực tế ở một số địa phương cũng là điều bắt buộc để có cơ sở đối chiếu, so sánh. Hai là, tiến hành phân tích, đánh giá toàn bộ tư liệu có được để tìm ra đặc điểm cơ bản nhất của truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ về mặt thể loại cũng như những nét độc đáo của nó đặt trong bối cảnh văn hóa và môi trường sống. Ba là, khảo sát diễn hóa của loại hình này trong đời sống thực tiễn để tìm hiểu tác động qua lại giữa nó với hoạt động tinh thần của người Khmer Nam Bộ. Từ đó có thể hiểu thêm những tương đồng, dị biệt của loại hình này trong hệ thống thể loại truyện cười của dân tộc. Như vậy có thể nói mục tiêu của luận văn hướng tới không chỉ là các biểu hiện về hình thức của loại hình mà còn tập trung chú ý đời sống đích thực của truyện cười trong mọi lĩnh vực hoạt động tinh thần của người Khmer Nam Bộ. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Truyện cười là thể loại có ranh giới dễ hòa lẫn với thể loại truyện cổ tích sinh hoạt, truyện ngụ ngôn. Do đó, để tạo sự nhất quán về mặt khoa học, chúng tôi xác định đối tượng chính của luận văn này là: Những sáng tác tự sự dân gian của tộc người Khmer ở Nam Bộ mang đặc điểm của thể loại truyện cười dân gian. Do đó việc khảo sát hình thức truyền miệng trong đời sống hiện tồn lẫn những sáng tác đã được công bố sẽ giúp cho việc thẩm định khoa học hơn. Phạm vi của văn hoá được bàn đến trong đề tài này chủ yếu là môi trường văn hoá và những lĩnh vực hoạt động tin thần của người Khmer Nam Bộ có sự tác động nhất định đến thể loại truyện cười. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Người Khmer có mặt hầu hết ở 20 tỉnh thành phố Nam Bộ nhưng đông nhất là ở 05 tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ (Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu). Mỗi tỉnh này đều có trên 5 vạn dân Khmer, nhiều nhất là Sóc Trăng (hơn 400.000 người). Do đó phạm vi khảo sát thực tế khi sưu tầm, điền dã chúng tôi chỉ giới hạn ở các tỉnh thành Tây Nam Bộ nêu trên. Vì nguồn tư liệu khi nghiên cứu văn học của người Khmer ở Nam Bộ có biên độ rất rộng và đa dạng, có liên quan đến khối cộng đồng người Khmer nói chung, nên lẽ ra trong mức độ nào đó luận văn phải so sánh đối chiếu với với nguồn truyện, bối cảnh văn hóa và các lĩnh vực hoạt động tinh thần của người Khmer bản địa ở Campuchia để tìm những nét độc đáo riêng của tộc người này ở Nam Bộ. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn thạc sĩ ngành văn học dân gian, chúng tôi xin chọn những tư liệu văn học dân gian và dân tộc học về người Khmer được viết và xuất bản bằng tiếng Việt ở Việt Nam. 5. Phương pháp nghiên cứu Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (là một loại hình văn học dân gian nằm trong tổng thể văn hóa dân gian có gắn yếu tố tộc người trong một vùng văn hóa nhất định) và mục đích đạt đến của đề tài (làm rõ các giá trị của thể loại dưới góc độ văn hóa), chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích theo lối tiếp cận hệ thống: Bản thân văn học dân gian là một thực thể gồm nhiều thành tố phức tạp, khi đặt trong tổng thể văn hóa dân gian thì văn học dân gian là một thành tố. Do vậy lối tiếp cận nhiều hệ thống sẽ giúp cho việc nhìn nhận vị trí của thể loại truyện cười người Khmer trong hệ thống thể loại truyện cười Việt Nam, cũng như trong hệ thống thể loại văn học dân gian Khmer Nam Bộ; đồng thời cũng xác nhận giá trị của thể loại ấy trong văn hóa dân gian của người Khmer. Phương pháp dân tộc học: Theo tác giả Dan Ben-Amos, trong bài viết Truyện dân gian thì “đây là phương pháp có chức năng mở rộng mục đích của việc mô tả có hệ thống đối với câu chuyện sang việc kể nó, bằng cách khai thác sự tường thuật trong xã hội và trong văn hóa” [65, tr.340]. Nghĩa là những người nghiên cứu sẽ đặt truyện dân gian vào trong bối cảnh sốn
Luận văn liên quan