Mô hình thí điểm xây dựng về phát triển bền vững tỉnh Sơn La

Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành chương trình Nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Năm 1992 tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janerio (Braxin) đã thông qua tuyên bố Rio de Janerio về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và chương trình Nghị sự 21 về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Từ năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 chương trình nghị sự 21 cấp địa phương. Phát triển bền vững đã trở thành đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Ngay từ năm 1991 Chính phủ đã ban hành " kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000" tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: " bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và " phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữ môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học".

doc20 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 1992 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Mô hình thí điểm xây dựng về phát triển bền vững tỉnh Sơn La, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHUYÊN ĐỀ Mô hình xây dựng thí điểm về phát triển bền vững (chương trình nghị sự 21) tỉnh Sơn La. I. BỐI CẢNH TÌNH HÌNH: 1. Sự cần thiết của việc lựa chọn xây dựng mô hình phát triển bền vững: Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành chương trình Nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Năm 1992 tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janerio (Braxin) đã thông qua tuyên bố Rio de Janerio về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và chương trình Nghị sự 21 về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Từ năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 chương trình nghị sự 21 cấp địa phương. Phát triển bền vững đã trở thành đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Ngay từ năm 1991 Chính phủ đã ban hành " kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000" tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: " bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và " phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữ môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học". Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững như Nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ngày 17/8/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg phê duyệt “Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). Đây là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21. Định hướng chiến lược phát triển bền vững cũng nêu lên những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề xuất những chủ trương, chính sách, công cụ pháp lý và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Định hướng chiến lược này không thay thế các chiến lược, kế hoạch mà là căn cứ để cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010, Chiến lược Bảo vệ môi trường đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, xây dựng kế hoạch 5 năm 2006-2010, cũng như xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển của các ngành, địa phương, nhằm kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước. Để triển khai thực hiện, ngày 09 tháng 03 năm 2005 Bộ KH&ĐT ban hành thông tư số: 01 / 2005 /TT-BKH: Triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam. Trong đó, nêu rõ yêu cầu, hướng dẫn nội dung xây dựng chương trình phát triển bền vững cấp địa phương (LA21) của 64 tỉnh, thành phố trong cả nước. Nhìn lại, trong chặng đường phát triển kinh tế - xã hội vừa qua của tỉnh Sơn La vẫn dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu như khai thác tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, song với trình độ công nghệ sản xuất còn thấp còn lạc hậu, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng không bền vững, năng suất lao động thấp, cộng với tỷ lệ tăng dân số cao, dẫn đến tỷ lệ hộ đói nghèo cao, các dịch vụ cơ bản về giáo dục, y tế hiện còn bất cập, các loại tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt để, cơ sở hạ tầng còn thấp kém đang là những vấn đề nổi cộm bức xúc. Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, rừng, nước bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả. Trong các quy hoạch tổng thể của tỉnh, ngành và các huyện thị, cũng như các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm trong thời gian qua 3 mặt của sự phát triển, gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường chưa thực sự được kết hợp, lồng ghép chặt chẽ với nhau. Vì vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững - chương trình nghị sự 21 của tỉnh là rất cần thiết, nhằm định hướng phát triển bền vững cho tỉnh trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường sinh thái trong một thời gian tương đối dài - đến năm 2020 và vạch ra những việc cần thực hiện của những năm trước mắt cũng như lâu dài, phù hợp với tiến trình chung của cả nước, tiến trình xây dựng Nhà máy thuỷ điện Sơn La, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường bền vững cho Sơn La và cho cả nước. 2. Đặc điểm tình hình chung của tỉnh Sơn La: Sơn La là một tỉnh ở vùng núi phía Tây Bắc, có diện tích tự nhiên: 1.412.500 ha, chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước đứng thứ 3 trong số 64 tỉnh, thành phố trong cả nước. Phía Bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Lào Cai; phía Đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; phía Tây giáp tỉnh Lai Châu; phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nước CHDCND Lào. Có chung đường biên giới Việt - Lào dài 250 km. Tỉnh Sơn La nằm trên trục quốc lộ 6 Hà Nội - Sơn La - Điện Biên, cách Hà Nội 320 km. Có chiều dài giáp ranh với các tỉnh bạn là 628 km. Độ cao trung bình 600 - 700 m so với mặt biển, địa hình chia cắt sâu và mạnh, 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã. Có hai cao nguyên Mộc Châu và Nà Sản địa hình tương đối bằng phẳng. Sơn La là một tỉnh vừa nằm sâu trong nội địa, vừa là tỉnh có đường biên giới quốc gia với nước bạn Lào, nằm án ngữ phía Tây bắc của Thủ đô Hà Nội, vì vậy vừa có ý nghĩa về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. Cùng với các tỉnh Hoà Bình và Lai Châu, Sơn La là mái nhà xanh của đồng bằng Bắc Bộ, với diện tích gần một triệu ha đất rừng đã và đang có vai trò to lớn về môi sinh, phòng hộ đầu nguồn sông Đà, điều tiết nguồn nước cho công trình thuỷ điện Hoà Bình (hiện tại) và cho công trình thuỷ điện Sơn La (trong tương lai). Tỉnh Sơn La gồm 1 thị xã và 10 huyện, với 201 xã, phường, thị trấn, Thị xã Sơn La là trung tâm tỉnh lỵ. Dân số trung bình toàn Tỉnh Sơn La năm 2005 có: 992.700 người, mật độ bình quân 70 người/km2, trong đó nam là 499.800 người (chiếm 50,18%), nữ 492.900 người (chiếm 49,82%). Dân số khu vực thành thị chiếm 12%; dân số khu vực nông thôn chiếm 88% tổng số dân toàn tỉnh. Tốc độ tăng dân số tự nhiên năm 2005 thực hiện là 1,69%. Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2000 – 2005 ở mức 1,85%. 3. Tài nguyên đất đai: Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.412.500 ha, trong đó đất đang được sử dụng 784.304 ha (năm 2004) chiếm 55,8% đất tự nhiên của tỉnh, so với cả nước tỉ lệ này là 97%. Diện tích đất sử dụng sẽ có thay đổi khi thủy điện Sơn La hoàn thành vào năm 2012. Theo tính toán Sơn La có 3 huyện bị ngập, tổng diện tích bị ngập khoảng 13.730 ha, trong đó có 6.321 ha đất nông nghiệp (bình quân mỗi hộ mất khoảng 0,65 ha đất nông nghiệp, trong đó ruộng nước 0,13 ha), đất rừng 2.451 ha, đất chưa sử dụng 7.214 ha… Bên cạnh đó, sẽ xuất hiện các vùng bán ngập với diện tích hàng trăm ha, có thể tận dụng diện tích này để trồng trọt vào mùa chưa bị ngập. Là một tỉnh vùng cao, quỹ đất nông nghiệp hạn chế, đặc biệt ruộng nước bình quân đầu người chỉ có 0,017 ha/người (cả nước là 0,05 ha/người). Quỹ đất có mặt nước để nuôi trồng thủy sản của Sơn La 1.670 ha, đã đưa vào sử dụng 1.476 ha, chưa kể hồ thuỷ điện Hoà Bình. Nếu công trình thủy điện Sơn La hoàn thành, sẽ có thêm 13.700 ha mặt nước hồ. Khi đó toàn tỉnh sẽ có khoảng 25.000 ha ao, hồ và hồ sông Đà là tiền đề để Sơn La phát triển mạnh nuôi trồng và khai thác thủy sản. 4. Tài nguyên nước: Sơn La có hệ thống sông suối khá dầy nhưng phần lớn mặt nước thấp hơn mặt đất canh tác. Sông suối ở Sơn La có độ dốc lớn, trắc diện hẹp nên tiềm năng thuỷ điện khá lớn. Hầu hết mọi nơi trong tỉnh đều có điều kiện làm thuỷ điện cực nhỏ, ngoài 96 điểm xây dựng được thuỷ điện vừa và nhỏ với tổng công suất 134 MW còn có công trình thuỷ điện Suối Sập 11,8 MW, thuỷ điện Nậm Chiến công suất 210 MW, thuỷ điện Huổi Quảng công suất 540 MW và đặc biệt là công trình thuỷ điện Sơn La với công suất 2.400 MW đang được khởi công xây dựng. 5. Tài nguyên rừng: Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích rừng và đất có khả năng phát triển lâm nghiệp khá lớn (chiếm 73% diện tích tự nhiên), đến năm 2005 diện tích rừng của Sơn La chỉ còn 590.310 ha, trong đó rừng tự nhiên 461.000 ha, rừng trồng 129.310 ha. Độ che phủ của rừng đạt 42% (so với toàn quốc là 40%) Sơn La có 4 khu rừng đặc dụng bảo tồn thiên nhiên: Xuân Nha (Mộc Châu) 27.084 ha; Sốp Cộp 18.709 ha; Copi A (Thuận Châu) 19.354 ha; Tà Xùa (Bắc Yên) 17.650 ha. Khi có thuỷ điện Sơn La sẽ có 1 phần rừng và đất rừng bị ngập, theo tính toán có khoảng 2.451 ha rừng sẽ bị ngập, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ. 6. Tài nguyên khoáng sản: Sơn La có nhiều loại khoáng sản khác nhau: than, đá vôi và đá sét, ni ken - đồng, vàng, bột tan (gần 150 điểm), song chủ yếu là mỏ nhỏ, phân bố rải rác trên khắp địa bàn tỉnh, trữ lượng không lớn và điều kiện khai thác không thuận lợi. 7. Tiềm năng về du lịch: Sơn La có điều kiện phát triển du lịch thuận lợi do có nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú, các mỏ suối nước khoáng nóng, vùng hồ Sông Đà, các di tích lịch sử cách mạng như Nhà tù Sơn La, cây đa bản Hẹo, Văn bia Quế lâm ngự chế... Có thể kết hợp với các tỉnh bạn để phát triển du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch văn hoá… Sắp tới trên địa bàn tỉnh Sơn La có hồ thuỷ điện Sơn La, cùng với 4 vườn quốc gia (Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha-Mộc Châu, Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp, Khu bảo tồn thiên nhiên Co Mạ-Thuận Châu, Tà Xùa - Bắc Yên), còn có 4 hang động được xếp hạng, 4 mỏ nước nóng, có nhiều bản làng văn hoá dân tộc, có các lễ hội dân tộc như: lễ hội mùa xuân dân tộc Mông huyện Mộc Châu; Hội Then dân tộc Thái huyện Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Yên Châu; Lễ hội cầu mùa dân tộc Khơ Mú huyện Yên Châu; Lễ Mởi dân tộc Mường huyện Phù Yên…đều có thể khai thác để phục vụ du lịch. 8. Cảnh quan môi trường: Tỉnh Sơn La có cảnh quan môi trường đa dạng và phong phú. Tuy nhiên trong những thập niên trở lại đây cảnh quan môi trường cục bộ từng nơi đã bị phá vỡ thế cân bằng, nhiều khu vực rừng bị tàn phá kiệt quệ, để đáp ứng nhu cầu về cuộc sống của một số đồng bào vùng cao, vì vậy vấn đề môi trường sinh thái bức súc nhất hiện nay của tỉnh là thảm thực vật che phủ còn thấp, diện tích đất trống đồi núi trọc chiếm khoảng 45 - 50% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, ngoài ra hiện tượng sói mòn, rửa trôi vẫn xảy ra trầm trọng, đã phần nào làm giảm độ phì nhiêu của tài nguyên đất sản xuất, đồng thời gây sạt lở, lũ lụt ở các vùng thấp. 9. Tài nguyên nhân văn: Dân số trung bình toàn Tỉnh Sơn La năm 2005 có: 992.700 người, mật độ bình quân 70 người/km2, trong đó nam là 499.800 người (chiếm 50,18%), nữ 492.900 người (chiếm 49,82%). Dân số khu vực thành thị chiếm 12%; dân số khu vực nông thôn chiếm 88% tổng số dân toàn tỉnh. Tốc độ tăng dân số tự nhiên năm 2005 thực hiện là 1,69%. Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2000 – 2005 ở mức 1,85%. Toàn tỉnh có 12 Dân tộc anh em, trong đó dân tộc Thái chiếm có dân số lớn nhất, chiếm gần 55% dân số toàn tỉnh. Các dân tộc có dân số đông tiếp theo là dân tộc Kinh 18%, dân tộc Mông 12%, dân tộc Mường 8,4%, dân tộc Dao 1,82%, dân tộc Khơ mú 1,89%... Một vấn đề quan trọng khác là phải di dân khỏi lòng hồ thuỷ điện. Quy hoạch tổng thể di dân tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11 năm 2004. Theo Quy hoạch này thì số hộ trên địa bàn Sơn La cần phải di chuyển cho xây dựng thủy điện Sơn La là 12.479 hộ. Bên cạnh đó, các thủy điện Nậm Chiến, Huổi Quảng,... có công suất khá lớn đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư cũng đòi hỏi việc di dân, tái định cư. Đây thực sự là một công việc đồ sộ đối với Tỉnh từ nay đến 2010. 10. Những thách thức về môi trường đặt ra với tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội: Hiện tại và tương lai có hàng loạt các vấn đề đặt ra đối với tỉnh trong thời kỳ xây dựng CNH - HĐH đó là các vấn đề về điều kiện tự nhiên, về môi trường sinh thái, cơ sở hạ tầng thấp kém và các vấn đề văn hoá, xã hội… * Về điều kiện tự nhiên: - Do địa hình đồi núi cao và chia cắt mạnh, gây trở ngại cho việc phát triển kinh tế - xã hội. - Diện tích đồi núi có độ dốc cao chiếm tỷ trọng lớn, vì vậy tỷ lệ sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp thấp. - Khí hậu chia 2 mùa rõ rệt, mùa mưa phân dải không đều ở các vùng cũng đã làm ảnh hưởng đến điều kiện cân bằng nguồn nước và dễ gây ra lũ ống và gây xói mòn đất, mùa khô hanh kiệt dễ gây cháy rừng, thiếu nước sản xuất và sinh hoạt … * Về môi trường: Rừng tự nhiên bị cạn kiệt, độ che phủ còn thấp, tài nguyên rừng của Sơn La không phải là thế mạnh mà đây là một gánh nặng cho việc phục hồi lại vốn rừng và các hệ sinh thái đã suy thoái. Qua các hoạt động của con người tác động vào môi trường đã làm cho quá trình sa mạc hoá, xói mòn, hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm nước và không khí, thay đổi môi trường sống… ngày càng diễn ra nhiều hơn. Bên cạnh đó quá trình đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ quá nhanh, đã và đang gây tổn hại đến môi trường sinh thái, dẫn đến phá vỡ thế cân bằng nền sinh thái nhằm phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. * Về cơ sở hạ tầng: Các hạn chế về CSHT như: Giao thông, cơ sở y tế, thông tin liên lạc, điện nước, trường học… Đây còn là khó khăn lớn, vì mức đầu tư cho CSHT ở tỉnh Sơn La còn cao so với các nơi khác, số người được sử dụng ít, hiệu quả không cao, mặt khác do thu nhập bình quân của người dân còn thấp nên việc huy động nguồn vốn từ nhân dân cho các công trình phúc lợi còn nhiều hạn chế. * Về phát triển dân số: Hiện tại về tốc độ tăng dân số tự nhiên vẫn còn cao nhất là các đồng bào vùng cao và dân tộc thiểu số, đây cũng là vấn đề gây nên áp lực lớn cho việc giải quyết đời sống, những vấn đề xã hội, việc bảo vệ tài nguyên môi trường tự nhiên. Đặc biệt khi xây dựng công trình thuỷ điện Sơn la làm cho dân số cơ học tăng lên việc sắp xếp dân tái định cư cũng gây biến đổi về phân bố dân cư, tác động tổng thể này mang tính toàn diện đến các thành phần môi trường trong vùng. * Về văn hoá - giáo dục: Sơn La có 12 dân tộc anh em trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều ở các dân tộc, sự đa dạng về dân tộc cũng đã dẫn tới sự đa dạng về văn hoá, về tập quán dân tộc vì vậy cũng gây nên sự trở ngại cho việc nâng cao nhận thức cộng đồng như ( tiếng nói, chữ viết, phát triển duy trì bản sắc văn hoá dân tộc…) Nhiều phong tục tập quán ở một số dân tộc còn lạc hậu, đặc biệt là phong tục sản xuất thuần nông du canh du cư chưa được xoá bỏ. * Về dân trí: Ngoài những trở ngại trên, trở ngại về dân trí thấp là một sức ỳ lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Nó dẫn đến sự hiểu biết về điều kiện tự nhiên, yếu tố môi trường… dẫn đến các hậu quả gây nên không lường trước được. * Nguồn lực: Nguồn lực và kinh phí để thực hiện còn hạn chế, ảnh hưởng tới việc đáp ứng các yêu cầu mà trong kế hoạch đã đề ra, các hoạt động ưu tiên, các mô hình trình diễn khó thực hiện theo đúng kế hoạch đã đề ra. * Vấn đề tái định cư thuỷ điện Sơn La, cơ hội và thách thức: Việc điều chỉnh quy hoạch tiếp nhận dân TĐC thuỷ điện Sơn La với tỉnh Sơn La là một cơ hội nhưng đó cũng là một thách thức lớn với những tác động về kinh tế - xã hội cũng như sự thay đổi và ảnh hưởng không nhỏ của môi trường sinh thái. Có thể nêu ở đây một số các hoạt động và một số tác động lên hệ thống tài nguyên của việc TĐC như sau: Công tác tái định cư của thuỷ điện Sơn La là một nhiệm vụ hàng đầu của tỉnh trong kế hoạch phát triển kinh tế- Xã hội giai đoạn 2006- 2010 và đó là cơ hội để tỉnh quy hoạch sắp xếp lại dân cư, tổ chức lại cơ cấu sản xuất… tuy nhiên ngoài những nhiệm vụ thiết yếu thì việc bố trí sử dụng các nguồn tài nguyên đó là một vấn đề không nhỏ để có thể đáp ứng được những điều kiện sống đảm bảo và tốt hơn nơi ở cũ. Nếu vấn đề bố trí nguồn tài nguyên không hợp lý, hài hoà giữa dân TĐC và dân sở tại, đồng thời với việc nâng cao chất lượng sống của nhân dân trong tỉnh sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác nguồn tài nguyên sẵn có là điều tất yếu xảy ra dẫn tới việc các nguồn tài nguyên, đất, nước và môi trường cảnh quan bị ảnh hưởng, diện tích đất bị thu hẹp, xáo trộn các tổ chức xã hội… II. CÁC HOẠT ĐỘNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ 21 TỈNH SƠN LA: 1. Công tác tổ chức, chuẩn bị nhân sự: Thực hiện quyết định 153/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ, thông tư hướng dẫn số : 01/TT-BKH ngày 9/3/2005 của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Được sự quan tâm giúp đỡ của dự án VIE/01/021 - văn phòng PTBV -Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã chọn tỉnh Sơn La là 1 trong 6 tỉnh làm dự án thí điểm chương trình Nghị sự 21 địa phương. Sau khi có chủ trương tỉnh đã triển khai thành lập Ban chỉ đạo chương trình Nghị sự 21 của tỉnh gồm 21 thành viên của các sở, ban ngành, đoàn thể và chủ tịch UBND của 11 huyện, thị xã, đồng thời thành lập Ban điều hành dự án (văn phòng giúp việc cho Ban chỉ đạo) thường trực là sở Kế hoạch & Đầu tư trực tiếp điều phối dự án do đồng chí giám đốc sở trực tiếp làm trưởng Ban điều hành dự án (trong đó: bộ máy giúp việc văn phòng gồm có 1 kế toán, 1 phó ban điều hành và 3 thành viên giúp việc đều là kiêm nhiệm). 2. Kết quả thực hiện trong khuôn khổ dự án như sau: 2.1. Triển khai nhận thức: Sự nghiệp phát triển bền vững bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Chỉ có thể đạt được sự phát triển bền vững khi phát huy nội lực của toàn dân thông qua phát huy quyền làm chủ, chủ động sáng tạo của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội, các tầng lớp dân cư, cũng như sự tự giác và ý thức của mọi người dân. Về bản chất chương trình nghị sự của tỉnh là một kế hoạch hành động do chính quyền, các ngành, các đoàn thể, nhân dân trong tỉnh cùng đồng thuận xây dựng nhằm đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội - môi trường của tỉnh một cách hài hoà và bền vững, tập trung giải quyết những vấn đề trọng điểm trong chiến lược phát triển của tỉnh, đồng thời nhằm đạt được những mục tiêu chương trình nghị sự 21 của quốc gia. Thông qua hội thảo và các thông tin đại chúng về PTBV để nâng cao nhận thức cho các đối tượng khác nhau: những nhà lãnh đạo, nhà quản lý, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng hành động để thực hiện chiến lược PTBV của tỉnh. Sau khi thành lập Ban chỉ đạo, ban điều hành chương trình Nghị sự 21 của tỉnh, tỉnh Sơn La đã tập trung cho công tác tuyên truyền tập huấn về PTBV, phối hợp cùng các ngành, đoàn thể và các huyện, thị xã tổ chức hội thảo tập huấn để nâng cao nhận thức. Tỉnh Sơn La đã có nhiều hình thức huy động sự tham gia rộng rãi của các ngành, các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư vào việc thực hiện phát triển bền vững: - Đầu tháng 4/2005 đã tổ chức hội thảo khởi động dự án xây dựng chương trình Nghị sự 21 của cấp tỉnh và quy trình xây dựng dự án cho cán bộ lãnh đạo các sở, ban ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội, các thành viên trong Ban chỉ đạo dự án, chủ tịch UBND 11 huyện, thị xã thời gian là 2 ngày; đồng thời Ban điều hành dự án tổ chức tập huấn về chức năng, nhiệm vụ, quản lý điều hành dự án cho các thành viên trong Ban điều hành, chuyên viên của 1 số ban, ngành đoàn thể có liên quan và 11 huyện thị để hướng dẫn triển khai dự
Luận văn liên quan