Tài liệu thi công chức

1.1. Sự ra đời của nhà nước Về sự xuất hiện của nhà nước, từ trước tới nay có nhiều quan niệm khác nhau. Thuyết thần học là thuyết cổ điển nhất về sự xuất hiện nhà nước, cho rằng Thượng đế là người sáng lập và sắp đặt mọi trật tự trên trái đất, trong đó có nhà nước. Nhà nước do Thượng đế sáng tạo, thể hiện ý chí của Thượng đế thông qua người đại diện của mình là nhà vua. Do đó việc tuân theo quyền lực của nhà vua là tuân theo ý trời, và nhà nước tồn tại vĩnh cửu. Những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng cho rằng nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người. Vì vậy, cũng như gia đình, nhà nước tồn tại trong mọi xã hội và quyền lực nhà nước về bản chất cũng giống như quyền gia trưởng của người chủ trong gia đình. Trong thời kỳ phục hưng xuất hiện các quan niệm mới về sự xuất hiện của nhà nước, trong đó nổi bật nhất là thuyết khế ước xã hội. Những người theo học thuyết này cho rằng sự xuất hiện của nhà nước là kết quả của một khế ước (hợp đồng) được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên, không có nhà nước. Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội, chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân. Trong trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kết khế ước mới. Học thuyết Mác- Lênin coi nhà nước là một hiện tượng xã hội có quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và tiêu vong mang tính tất yếu lịch sử. Nhà nước nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người, chỉ xuất hiện khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định. Những luận điểm quan trọng trên được P. Ăngghen trình bày một cách hệ thống, khoa học trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước” và sau này được V.I. Lênin phát triển trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”. Theo học thuyết Mác-Lênin, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu công cộng đối với tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Cơ sở xã hội là tổ chức thị tộc được hình thành dựa trên yếu tố huyết thống. Trong điều kiện đó xã hội loài người chưa có nhà nước mà chỉ có các tổ chức mang tính tự quản của cộng đồng. Nhà nước ra đời là kết quả của sự phát triển nội tại của các mâu thuẫn xã hội. Tiền đề kinh tế cho sự ra đời của nhà nước là chế độ tư hữu tài sản. Tiền đề xã hội làm xuất hiện nhà nước là sự phân chia xã hội thành những giai cấp, tầng lớp xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau tới mức không thể điều hoà được.

doc58 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 1831 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu thi công chức, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHUYÊN ĐỀ 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Tài liệu tham khảo: - Hiến pháp năm 1992 (SĐ, BS năm 2001) - Luật Tổ chức Quốc Hội (2002) - Luật Tổ chức Chính phủ (2002) - Luật Tổ chức HĐND và UBND(2003) - Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (2002) - Luật Tổ chức Viện Kiểm Sát nhân dân(2002). 1. Nguồn gốc và bản chất của Nhà nước 1.1. Sự ra đời của nhà nước Về sự xuất hiện của nhà nước, từ trước tới nay có nhiều quan niệm khác nhau. Thuyết thần học là thuyết cổ điển nhất về sự xuất hiện nhà nước, cho rằng Thượng đế là người sáng lập và sắp đặt mọi trật tự trên trái đất, trong đó có nhà nước. Nhà nước do Thượng đế sáng tạo, thể hiện ý chí của Thượng đế thông qua người đại diện của mình là nhà vua. Do đó việc tuân theo quyền lực của nhà vua là tuân theo ý trời, và nhà nước tồn tại vĩnh cửu. Những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng cho rằng nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người. Vì vậy, cũng như gia đình, nhà nước tồn tại trong mọi xã hội và quyền lực nhà nước về bản chất cũng giống như quyền gia trưởng của người chủ trong gia đình. Trong thời kỳ phục hưng xuất hiện các quan niệm mới về sự xuất hiện của nhà nước, trong đó nổi bật nhất là thuyết khế ước xã hội. Những người theo học thuyết này cho rằng sự xuất hiện của nhà nước là kết quả của một khế ước (hợp đồng) được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên, không có nhà nước. Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội, chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân. Trong trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kết khế ước mới. Học thuyết Mác- Lênin coi nhà nước là một hiện tượng xã hội có quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và tiêu vong mang tính tất yếu lịch sử. Nhà nước nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người, chỉ xuất hiện khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định. Những luận điểm quan trọng trên được P. Ăngghen trình bày một cách hệ thống, khoa học trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước” và sau này được V.I. Lênin phát triển trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”. Theo học thuyết Mác-Lênin, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu công cộng đối với tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Cơ sở xã hội là tổ chức thị tộc được hình thành dựa trên yếu tố huyết thống. Trong điều kiện đó xã hội loài người chưa có nhà nước mà chỉ có các tổ chức mang tính tự quản của cộng đồng. Nhà nước ra đời là kết quả của sự phát triển nội tại của các mâu thuẫn xã hội. Tiền đề kinh tế cho sự ra đời của nhà nước là chế độ tư hữu tài sản. Tiền đề xã hội làm xuất hiện nhà nước là sự phân chia xã hội thành những giai cấp, tầng lớp xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau tới mức không thể điều hoà được. Ở Việt Nam, sự xuất hiện của nhà nước có một số đặc trưng riêng. Đặc trưng chế độ tư hữu ở Việt Nam là tư hữu về tư liệu sinh hoạt và một phần tư liệu sản xuất, còn đất đai thuộc sở hữu công cộng, sau chuyển thành sở hữu của nhà nước. Đặc điểm này làm cho quá trình phân hoá giai cấp diễn ra chậm và không sâu sắc trong xã hội. Các tầng lớp trong xã hội dần dần hình thành nhưng sự khác biệt giữa họ không lớn, mâu thuẫn không quá gay gắt. Do đặc điểm của nền văn minh lúa nước và điều kiện tự nhiên của Việt Nam đòi hỏi có sự cố kết cộng đồng dân cư để giải quyết nhu cầu thuỷ lợi và thực hiện công tác trị thuỷ đối với các con sông. Mặt khác, do vị trí địa lý của Việt Nam nằm trên đường giao lưu Bắc- Nam, cản trở con đường bành trướng của các dân tộc người có số lượng đông ở phía Bắc xuống phía Nam. Vì vậy, nhu cầu tổ chức lực lượng chống ngoại xâm trở nên bức thiết, cần hợp nhất cộng đồng, thống nhất lực lượng và có bộ máy quản lý thống nhất. Bộ máy đó là mầm mống của một nhà nước sau này. Trong giai đoạn đầu, nó chủ yếu làm các chức năng xã hội. Tuy nhiên, cùng với quá trình phân hoá giai cấp không ngừng trong xã hội, dần dần nó trở thành bộ phận độc lập với xã hội, trở thành bộ máy chủ yếu nhằm thực hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội. 1.2. Bản chất của nhà nước nói chung. Trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính trị luôn thuộc về một giai cấp hoặc liên minh các giai cấp thống trị. Giai cấp cầm quyền tổ chức ra bộ máy đặc biệt để duy trì sự thống trị đối với xã hội, buộc các lực lượng xã hội khác phục tùng ý chí của mình. Bộ máy đó là nhà nước - tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt. Quyền lực chính trị, như C.Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ, về thực chất là “bạo lực có tổ chức của một giai cấp để đàn áp giai cấp khác”. Bản chất của nhà nước trước hết thể hiện ở tính giai cấp, nghĩa là nhà nước luôn thực hiện ý chí và bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị trong xã hội. Tuy nhiên, ngoài tính giai cấp, nhà nước còn mang tính xã hội. Với tư cách là tổ chức công quyền, nhà nước đại diện cho xã hội thực hiện chức năng quản lý các quan hệ xã hội. Trong khi thực hiện các chức năng giai cấp, nhà nước ít nhiều còn phải tính đến lợi ích chung của xã hội. Nhà nước phải giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội, bảo đảm duy trì các giá trị xã hội đã đạt được. Những đặc tính này được thể hiện khác nhau, phụ thuộc vào cơ sở kinh tế - xã hội của các kiểu nhà nước. 1.3. Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản chất Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là biểu hiện cụ thể bản chất nhà nước XHCN, thể hiện ở tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân và tính thời đại. - Nhà nước CHXHCN Việt Nam mang tính giai cấp công nhân dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, được dẫn dắt bởi CN Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản chất giai cấp của Nhà nước CHXHCNVN được thể hiện rõ nhất ở đặc điểm là được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng Cộng Sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân. - Bản chất Nhà nước CHXHCN Việt Nam còn thể hiện ở tính đại đoàn kết dân tộc. Năm mươi tư dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, trải qua quá trình lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước đã tạo nên một khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước đại diện cho ý chí và quyền lợi của tất cả các dân tộc không phân biệt địa bàn cư trú, quy mô dân số, tổ chức để các dân tộc anh em cùng “kề vai, sát cánh” xây dựng một nước Việt Nam “độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”, từng bước đi lên CNXH. - Bản chất Nhà nước CHXHCN Việt Nam thể hiện ở tính nhân dân sâu sắc. Bản chất giai cấp của Nhà nước ta không mâu thuẫn với tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc. Bởi vì, ý chí và lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động nói chung ở Việt Nam có tính thống nhất cao. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. - Bản chất của Nhà nước CHXHCN Việt Nam thể hiện ở tính thời đại. Xu thế chung hiện nay trên trường quốc tế là hoà bình, hữu nghị, hợp tác và cùng tiến bộ. Nhà nước CHXHCN Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng hợp tác, giao lưu với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi; Tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. 2. Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2.1. Khái niệm bộ máy nhà nước. Nhà nước CHXHCN Việt Nam là tổ chức quyền lực chính trị của nhân dân Việt Nam, đại diện cho nhân dân thực hiện quản lý thống nhất mọi mặt của đời sống xã hội trên các lĩnh vực đối nội và đối ngoại (kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng, an ninh…). Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, đòi hỏi phải lập ra hệ thống các cơ quan nhà nước. Mỗi cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, đảm nhận những chức năng, nhiệm vụ nhất dịnh, có cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động phù hợp với tính chất các chức năng, nhiệm vụ được trao. Cùng với những chức năng, nhiệm vụ, nhà nước còn trao cho các cơ quan những thẩm quyền tương ứng. Các cơ quan nhà nước sử dụng thẩm quyền vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước tuỳ thuộc vào tính chất của các chức năng, nhiệm vụ được giao nhưng phải dựa trên những nguyên tắc chung, đảm bảo tính thống nhất của bộ máy nhà nước. Như vậy, bộ máy nhà nước là hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, dựa trên những nguyên tắc chung nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. 2.2. Khái niệm về cơ quan nhà nước Các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước nói chung được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước cụ thể. Nếu như nhà nước là một khái niệm tương đối “trừu tượng” thì cơ quan nhà nước là một khái niệm cụ thể. Cơ quan nhà nước là các bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước. Đặc điểm cơ bản của các cơ quan nhà nước là hoạt động của nó mang tính quyền lực nhà nước và được đảm bảo hiệu lực bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Quyền lực của mỗi cơ quan nhà nước là “quyền được trao” (thẩm quyền) tuỳ thuộc vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ của nó trong bộ máy nhà nước. Như vậy, có thể hiểu cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, gồm một tập thể người (hoặc một người) được trao quyền lực, thông qua các công cụ, hình thức và phương pháp cần thiết để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhất định trên cơ sở pháp luật. Cơ quan nhà nước ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau: - Các cơ quan nhà nước được thành lập theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ được pháp luật quy định; - Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; - Hoạt động của cơ quan nhà nước mang tính quyền lực và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, các hoạt động đó phải tuân theo những hình thức, thủ tục do pháp luật quy định; - Những người đảm nhiệm chức trách trong các cơ quan nhà nước phải là công dân Việt Nam. 2.3. Hệ thống các cơ quan trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2.3.1. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội được xác định là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, do đó Quốc hội thể hiện tính đại diện nhân dân và tính quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạt động của mình. Thông qua hoạt động của mình, Quốc hội thể chế hóa ý chí của nhân dân thành ý chí nhà nước, thể hiện trong Hiến pháp, luật, các nghị quyết, mang tính bắt buộc thực hiện đối với mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, tập trung quyền lực nhà nước, thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng không phải là cơ quan độc quyền. Hiến pháp và pháp luật quy định cho Quốc hội có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như sau (Theo Điều 83 Hiến pháp 1992 sửa đổi): - Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Đây là chức năng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, tạo nên nền tảng của thể chế xã hội. Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan khác của nhà nước ban hành phải dựa trên cơ sở Hiến pháp, luật để thực hiện Hiến pháp, luật và bảo đảm tính thống nhất của pháp luật. - Quốc hội quyết định những vấn đề cơ bản nhất về đối nội và đối ngoại của đất nước: các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Những vấn đề này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển toàn diện của đất nước cũng như duy trì trật tự, ổn định xã hội. - Quốc hội xác định các nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trực tiếp thành lập các cơ quan quan trọng trong bộ máy nhà nước; trực tiếp bầu, bổ nhiệm các chức vụ cao nhất trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương. - Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua việc nghe báo cáo công tác của các cơ quan tối cao của nhà nước, thông qua hoạt động của các cơ quan Quốc hội, đại biểu Quốc hội, thông qua các hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với những đối tượng xác định trong bộ máy nhà nước. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. 2.3.2. Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước trong các quan hệ đối nội và đối ngoại (Điều 101, 103 Hiến pháp 1992 sửa đổi). Chủ tịch nước có phạm vi quyền hạn khá rộng, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội. Trong tổ chức nhân sự của bộ máy nhà nước, Chủ tịch nước có quyền quan trọng về tổ chức nhân sự của bộ máy hành pháp và tư pháp: đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính Phủ; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tói cao… Trong lĩnh vực an ninh quốc gia, Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang và giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao và cấp hàm trong các lĩnh vực khác... Quyền hạn của Chủ tịch nước còn thể hiện trên lĩnh vực ngoại giao; quyết định vấn đề thôi, nhập quốc tịch; vấn đế đặc xá… Khi thực hiện quyền hạn, Chủ tịch nước ban hành Lệnh, Quyết định. 2.3.3. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp có Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong đó Chính phủ được xác định là “Cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 109, Hiến pháp 1992 Sửa đổi). Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội; chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; trong hoạt động Chính phủ phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Quy định trên bảo đảm tính tập trung, thống nhất của quyền lực nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội. Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cả nước, Chính phủ có chức năng thống nhất quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; lãnh đạo thống nhất bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở về tổ chức cán bộ; bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật; quản lý việc xây dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc gia; quản lý y tế, giáo dục; quản lý ngân sách nhà nước; thi hành các biện pháp cần thiết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; quản lý công tác đối ngoại; thực hiện chính sách xã hội... Những quy định trên bảo đảm cho Chính phủ phát huy được vai trò là cơ quan đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Chính phủ có quyền giải quyết công việc với tính sáng tạo, chủ động, linh hoạt trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định... Chính phủ có quyền tham gia vào hoạt động lập pháp bằng quyền trình dự án luật trước Quốc hội, dự án pháp lệnh trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trình Quốc hội các dự án kế hoạch, ngân sách nhà nước và các dự án khác (Điều 112, Hiến pháp 1992). Chính phủ theo Hiến pháp 1992 có Thủ tướng Chính phủ, được quy định là người đứng đầu Chính phủ, do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ là thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ lựa chọn, không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội, và đề nghị Quốc hội phê chuẩn. Chính phủ không tổ chức ra cơ quan thường vụ, mà một Phó Thủ tướng được phân công đảm nhận chức vụ Phó Thủ tướng thường trực. Trong hoạt động của Chính phủ, chế độ trách nhiệm tập thể, trách nhiệm cá nhân được quy định rõ. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước; đồng thời thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết. Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách. Hiệu quả hoạt động của Chính phủ được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt động của tập thể Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên Chính phủ. Trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, tập thể Chính phủ ban hành Nghị quyết, Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định, Chỉ thị; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành Quyết định, Chỉ thị, Thông tư. 2.3.4. Hội đồng nhân dân các cấp Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phưong và cơ quan nhà nước cấp trên (Điều 119 Hiến pháp 1992 SĐ). Trong quá trình hoạt động, Hội đồng nhân dân chịu sự giám sát, hướng dẫn của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thông qua Uỷ ban thường vụ Quốc hội; sự kiểm tra, hướng dẫn của Chính phủ; chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước, giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương. Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết quyết định chủ trương, biện pháp thông qua các hình thức hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban và Đại biểu Hội đồng nhân dân, trong đó hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất là kỳ họp của Hội đồng nhân dân. Kỳ họp của Hội đồng nhân dân là hoạt động duy nhất để ra các Nghị quyết có ý nghĩa pháp lý. Thông qua kỳ họp, ý chí của nhân dân địa phương trở thành quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước cấp trên được bàn bạc và các biện pháp thực hiện chúng được Hội đồng nhân dân vạch ra cụ thể, quyền giám sát của Hội đồng nhân dân được thực hiện. Hội đồng nhân dân họp thường lệ một năm hai kỳ. Trong trường hợp cần thiết có thể họp bất thường. Các kỳ họp tiến hành công khai, theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt dưới sự điều hành của Thường trực Hội đồng nhân dân (ở cấp xã do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân chủ trì). Kết quả kỳ họp thể hiện bằng Nghị quyết do Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp ký chứng thực. 2.3.5. Ủy ban nhân dân các cấp Theo quy định của Hiến pháp 1992 (SĐ), Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003, Uỷ ban
Luận văn liên quan