Tìm hiểu thực trạng giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán và đưa ra ý kiến pháp lý để hạn chế và giải quyết tranh chấp

Chứng khoán là một lĩnh vực mới xuất hiện trên thị trường Việt Nam, trong quá trình hoạt động sẽ không tránh khỏi những tranh chấp, pháp luật đã có quy định cụ thể về lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn có một số vướng mắc và cần xử lý, đòi hỏi sự quyết liệt hơn từ phía nhà nước.Sau đây là thực trạng và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán và các ý kiến đưa ra để hạn chế các tranh chấp.

doc11 trang | Chia sẻ: ducpro | Lượt xem: 3651 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu thực trạng giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán và đưa ra ý kiến pháp lý để hạn chế và giải quyết tranh chấp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I. Mở bài: Chứng khoán là một lĩnh vực mới xuất hiện trên thị trường Việt Nam, trong quá trình hoạt động sẽ không tránh khỏi những tranh chấp, pháp luật đã có quy định cụ thể về lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn có một số vướng mắc và cần xử lý, đòi hỏi sự quyết liệt hơn từ phía nhà nước.Sau đây là thực trạng và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán và các ý kiến đưa ra để hạn chế các tranh chấp. II. Nội dung: 1. Khái quát chung: Tranh chấp trên thị trường chứng khoán là những xung đột về quyền và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia thị trường chứng khoán và được thể hiện ra bên ngoài dưới dạng nhu cầu cần giải quyết thông qua hình thức nhất định theo quy định của pháp luật. Tranh chấp này thường được thể hiện ra bên ngoài thông qua những hành vi thực tế của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật chứng khoán, chẳng hạn như hành vi khiếu nại về lợi ích không đạt được trong quan hệ bảo lãnh phát hành, hành vi khởi kiện về quan hệ thanh toán giữa các khách hàng với công ty chứng khoán, hành vi xử lý vi phạm pháp luật về chứng khoán. Vì giao dịch chứng khoán là một giao dịch thương mại đặc thù, nên lĩnh vực chứng khoán cũng một phần được điều chỉnh bởi luật thương mại và các luật chuyên ngành chứng khoán. Tuy nhiên, vì hiện nay luật chứng khoán mới chỉ có những quy định chung về giải quyết tranh chấp nên chúng ta có thể sử dụng luật thương mại và luật trọng tài để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán. Theo quy định tại luật chứng khoán 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2010) có quy định các phương thức giải quyết tranh chấp như sau: “Điều 131. Giải quyết tranh chấp 1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Việt Nam có thể được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải hoặc yêu cầu Trọng tài hoặc Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. 2. Thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Trọng tài hoặc Tòa án được tiến hành theo quy định của pháp luật”. Như vậy, pháp luật đã có quy định cụ thể về các phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán, bao gồm: phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc tòa án. So sánh với quy định cũ tại Nghị định 144/2003 (đã hết hiệu lực) có quy định rằng các tranh chấp trong thị trường chứng khoán phải được giải quyết trên cơ sở thương lượng, hòa giải; trong khi quy định mới này không bắt buộc điều đó. Hơn nữa, luật chứng khoán ra đời cũng đã điều chỉnh cả thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC), thay vì chỉ điều chỉnh thị trường chứng khoán tập trung như quy định cũ. Như vậy,quy định mới này mang tính linh hoạt và hợp lý hơn, thể hiện quyền tôn trọng và tự định đoạt của các chủ thể trong tranh chấp về chứng khoán. 2. Các phương thức giải quyết tranh chấp. 2.1. Thương lượng: Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp mà không cần đến bên thứ ba, các bên sẽ tự ngồi lại với nhau và cùng tìm ra hướng giải quyết. Trên thực tế, viêc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng có ưu điểm là nhanh chóng, đơn giản, ít tốn kém. Chính vì thế, những tranh chấp nhỏ thường được giải quyết thành công bằng phương thức này, và cũng vì thế mà nó thường được khuyến khích sử dụng khi có tranh chấp xảy ra. 2.2. Hòa giải: Phương thức hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp có sự xuất hiện của bên thứ ba trung gian, bên thứ ba này có nhiệm vụ đứng ra đàm phán giúp tìm ra hướng giải quyết nhanh nhất và hợp lý nhất để giải quyết các tranh chấp. Trên thực tế, các tranh chấp về chứng khoán thường là những tranh chấp phức tạp, đòi hỏi bên tham gia hòa giải phải là bên có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm làm việc mới có thể đứng ra để hòa giải được. Xuất phát từ yêu cầu trên, pháp luật có quy định một số chủ thể có thể tham gia hòa giải như: sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán. Theo quy định tại khoản 8 điều 37 Luật chứng khoán quy định sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán có thể làm trung gian hòa giải nếu được các thành viên yêu cầu đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch chứng khoán. Như vậy, các chủ thể khác cũng có thể tham gia vào hoạt động hòa giải. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể nào về trình tự, thủ tục hòa giải trong lĩnh vực chứng khoán, mà các đơn vị hòa giải thường tự đặt ra trình tự để tiện trong việc thực hiện hoạt động này. Trên thực tế, quá trình hòa giải trải qua bốn bươc cơ bản sau: Thứ nhất: tiếp nhận đơn đề nghị hòa giải. Bên yêu cầu hòa giải gửi đơn đề nghị hòa giải và các chứng từ tài liệu cần thiết đến trung tâm. Sau đó, trung tâm sẽ gửi bản sao đơn cho bị đơn. Thứ hai: chuẩn bị hòa giải, bị đơn phải gửi văn bản trả lời chấp nhận hoặc không chấp nhận việc hòa giải. Nếu chấp nhận, giám đốc trung tâm sẽ quyết định thành lập ban hòa giải. Ban hòa giải tiến hành triệu tập trực tiếp hoặc yêu cầu các bên giải thích bằng văn bản, cung cấp chứng cứ và tài liệu có liên quan. Thứ ba: tiến hành hòa giải dưới sự chủ trì của trưởng ban hòa giải. Thứ tư: hòa giải kết thúc bằng việc ban hòa giải lập biên bản hòa giải thành hoặc biên bản hòa giải không thành. Việc thực hiện kết quả hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của các bên. Các quy định về hòa giải này có tính kế thừa thành tựu lập pháp của các nước, vì hầu hết các nước có thị trường chứng khoán phát triển lâu đời đều có quy định về hòa giải như trên. 2.3. Giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán bằng hình thức trọng tài: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên (với tư cách là bên thứ ba độc lập), nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra phán quyết có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Trọng tài được sử dụng phổ biến để giải quyết các tranh chấp trên thị trường chứng khoán nói riêng và tranh chấp kinh doanh nói chung, bởi tranh chấp sẽ luôn được giải quyết tận gốc bằng pháp quyết chung thẩm, có tính bắt buộc chung trong khi thời hạn và chi phí không cao, thủ tục đơn giản, không cứng nhắc. Giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán tại trọng tài thương mại phải tuân theo trình tự thủ tục luật định. Do pháp luật chuyên ngành không có quy định riêng nên theo quy định chung của pháp luật tố tụng trọng tài, thời hiệu khởi kiện tranh chấp trên thị trường chứng khoán nói riêng và hoạt động thương mại nói chung là 2 năm kể từ ngày xảy ra tranh chấp. 2.3.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán bằng hình thức trọng tài: Trước tiên, chúng ta xem xét đến các điều kiện để được giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài. Thứ nhất, tranh chấp phát sinh giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động thương mại. Thứ hai, ít nhất một trong các bên tranh chấp có hoạt động thương mại. Thứ ba, tranh chấp giữa các bên được pháp luật cho phép giải quyết bằng trọng tài. Thứ tư, phải có thỏa thuận sử dụng biện pháp trọng tài để giải quyết tranh chấp, thỏa thuận này có thể trước hoặc sau khi có tranh chấp xảy ra. Ngoài hình thức văn bản, các bên có thể sử dụng các hình thức khác được pháp luật cho phép như: fax, telex... Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rõ tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, khi mà hợp đồng vô hiệu thì sẽ không kéo theo sự vô hiệu của thỏa thuận về hợp đồng. Như vậy, pháp luật không hề hạn chế các chủ thể lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết các tranh chấp, mà nó phụ thuộc vào các chủ thể có lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp cho mình hay không. 2.3.2. Thủ tục giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán bằng trọng tài: Pháp luật cho phép các bên lựa chọn một trong hai hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp, các trung tâm trọng tài hoặc hội đồng trọng tài do các bên tự thành lập. Trường hợp các bên lựa chọn trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi trung tâm, trong đó nêu rõ tên trọng tài viên đã chọn. Trung tâm trọng tài sẽ gửi bản sao đơn kiện kèm theo danh sách trọng tài viên của trung tâm cho bị đơn. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được, bị đơn phải gửi cho trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ cùng tên trọng tài viên đã chọn. Hai trọng tài viên được chọn thống nhất chọn trọng tài viên thứ ba là chủ tịch hội đồng trọng tài. Chủ tịch trung tâm trọng tài có thể chỉ định trọng tài viên nếu hết hạn mà bị đơn không chọn trọng tài viên không thống nhất chọn được trọng tài viên thứ ba. Đối với trường hợp chọn trọng tài viên thứ ba. Đối với trường hợp hội đống trọng tài do các bên thành lập, nguyên đơn gửi đơn đến bị đơn và quyền chỉ định trọng tài viên do tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở. Các trọng tài viên có thể thay đổi trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp nếu có yếu tố ảnh hưởng đến tính khách quan trong công việc. Hiện nay ở Việt Nam chưa tồn tại trung tâm trọng tài nào chuyên phân xử tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán. Phiên họp giải quyết tranh chấp là không công khai, các bên có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người đại diện tham dự, có thể mời nhân chứng, luật sư. Hội đồng trọng tài quyết định dựa trên nguyên tắc đa số và quyết định này có tính cưỡng chế thi hành. Quyết định phân xử của trọng tài là quyết định chung thẩm và có tính chất bắt buộc thi hành. 2.4. Pháp luật giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán bằng tòa án: Giải quyết tranh chấp bằng tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp theo đó một bên bằng đơn kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tòa án theo thủ tục luật định sẽ đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên. Lựa chọn hình thức này, các bên phải tuân thủ trình tự thủ tục pháp lý phức tạp, thời gian bị kéo dài, công sức và chi phí cao. Do vậy, giải quyết tranh chấp bằng tòa án chủ yếu khi các bên không đồng ý hòa giải, hòa giải không thành hoặc không thể áp dụng hình thức trọng tài (do không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vô hiệu). 2.4.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán của tòa án: Căn cứ điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự ta có: các tranh chấp trên thi trường chứng khoán thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế và tòa dân sự. Nhóm thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế gồm tranh chấp xảy ra giữa các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; một số tranh chấp xảy ra trên thị trường chứng khoán được nhà làm luật quy kết về loại tranh chấp xảy ra giữa công ty với thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau. Các tranh chấp trên thị trường chứng khoán không thuộc hau nhóm trên thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án dân sự. Căn cứ điều 33, 34 BLTTDS, tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về mua bán chứng khoán giữa các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh và có tranh chấp giữa công ty với cổ đông hoặc giữa các cổ đông với nhau, không phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài. Các tranh chấp còn lại thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu đương sự hay tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài. Pháp luật quy định như vậy là hợp lý, vì lĩnh vực chứng khoán là một lĩnh vực mới, có tính chuyên môn cao, nên cần có nguồn nhân lực chất lượng tốt mới có thể xét xử chính xác và hợp lý. Về thời hiệu: thời hiệu khởi kiện các tranh chấp trên thị trường chứng khoán là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. 2.4.2. Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán bằng tòa án: Thủ tục giải quyết tranh chấp bằng tòa án trong lĩnh vực chứng khoán được làm theo thủ tục chung. Thủ tục tố tụng bắt đầu khi tòa án thụ lý đơn kiện của nguyên đơn và kết thúc bằng bản án hoặc quyết định của hội đồng xét xử. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tòa án sẽ tiến hành hòa giải, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được. Nếu hòa giải thành, thẩm phán lập biên bản hòa giải thành, trong thời hạn 7 ngày, nếu không có bên nào thay đổi ý kiến, thẩm phán mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này có hiệu lực ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị kháng cáo theo thủ tục giám đốc thẩm. Trường hợp hòa giải không thành, thẩm phán sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử làm việc tập thể và đưa ra bản án theo nguyên tắc dựa trên đa số, trên kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Bản án có hiệu lực bắt buộc thi hành với các bên và đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước. Nếu không đồng ý với quyết định của tòa án, các bên có quyền kháng cáo trong thời hạn pháp luật quy định. Đây là điểm khác biệt giữa bản án của tòa án và phán quyết của trọng tài. Trong khi bản án sơ thẩm còn có thể bị kháng cáo kháng nghị, thì quyết định của trọng tài có tính chung thẩm. Điều ấy vừa tạo cơ hội cho cơ quan xét xử sửa chữa sai lầm nhưng lại vừa là nguyên nhân khiến cho quá trình giải quyết được kéo dài, gây lãng phí thời gian và tiền bạc các bên đương sự. 3. Thực trạng và hướng hoàn thiện về vấn đề giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán hiện nay. 3.1. Ưu điểm trong hoạt động giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán hiện nay. Thứ nhất, pháp luật đã có quy định các phương thức giải quyết tranh chấp để các bên có thể lựa chọn phương thức giải quyết tốt nhất và phù hợp nhất cho mình, thể hiện tính kịp thời của pháp luật trong lĩnh vực này. Thứ hai, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp cũng đã có sự quan tâm, chú ý đến lĩnh vực này, góp phần giúp cho các tranh chấp được giải quyết nhanh và hiệu quả hơn. 3.2 Hạn chế và hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán hiện nay. Thứ nhất, mặc dù hòa giải và thương lượng được đề cập đến là một phương thức giải quyết tranh chấp, nhưng vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về trình tự thủ tục của hai phương thức này, gây khó khăn cho các bên trong quá trình thực hiện hòa giải hoặc thương lượng. Thứ hai, trong thời gian qua, việc giải quyết tranh chấp bằng các con đường hòa giải gặp rất nhiều khó khăn. Hạn chế nhất hiện nay của việc thương lượng, hoà giải là phương án hoà giải không thực hiện được nếu các bên không thiện chí thực hiện vì không có biện pháp cưỡng chế thi hành. Ngay đối với các phương án hoà giải thực hiện trên cơ sở hoà giải bắt buộc cũng không cưỡng chế thi hành được vì chỉ là bắt buộc phải sử dụng hoà giải như phương pháp đầu tiên chứ không có nghĩa quyết định hoà giải là bắt buộc. Chính vì vậy, đối với chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ nêu trong phán quyết, họ có thể chấp nhận phương án hoà giải nhưng trì hoãn thực hiện nghĩa vụ hoặc không thực hiện nghĩa vụ. Kết quả là tranh chấp không thực hiện được bằng con đường hoà giải, nguy cơ hết thời hiệu khởi kiện là tiềm tàng. Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng pháp luật cần quy định toà án có trách nhiệm từ chối thụ lí vụ việc phát sinh từ các tranh chấp bắt buộc phải hoà giải; đồng thời thời gian hoà giải ngoài toà án không tính vào thời hiệu khởi kiện. Một điểm cần xem xét thêm, đó là trường hợpđã có phương án hoà giải thành, nếu vụ việc tiếp tụcđược giải quyết tại toà án thì hội đồng xét xử phải coi phương án hoà giải như là tài liệu quan trọng để đưa ra phán quyết cuối cùng. Chỉ có quy định như vậy, việc hoà giải trước tố tụng mới có ý nghĩa, các hoạt động hoà giải mới được phát huy, uy tín của ban hoà giải mới được giữ vững. Để thực hiện được điều đó, yêu cầu cần phải đạt được là uy tín của thành viên ban hoà giải (điều kiện thành viên), cơ cấu thành phần ban hòa giải phải đáp ứng được nhu cầu thị trường. Thực tế quá trình giải quyết tranh chấp chứng khoán ở Hàn Quốc có thể là kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong vấn đề này. Tuy nhiên, để các phán quyết (của trọng tài, của ban hoà giải, của toà án) có giá trị cao, phản ánh đúng nguyện vọng của các bên, yêu cầu đối với thành viên xét xử, trọng tài viên, thành viên ban hoà giải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, theo ý kiến chúng tôi, thành viên của hội đồng xét xử, trọng tài viên phải là những người (hoặc ít nhất có một thành viên) am hiểu về pháp luật chuyên ngành chứng khoán, hiểu biết về hoạt động chứng khoán. Không loại trừ trường hợp chúng ta có thẩm phán, trong tài viên chuyên về lĩnh vực này. Hoặc mô hình giải quyết tranh chấp trên thị trường bằng con đường tố tụng có thể nêu ra để tham khảo: Có thể thành lập hội đồng xét xử đặc biệt trong đó thành viên của hộiđồng ít nhất có thẩm phán (trọng tài) chuyên về lĩnh vực chứng khoán, có chuyên gia chứng khoán (có thể là chuyên gia độc lập). Hội đồng xét xử với cơ cấu thành viên như vậy có khả năng đưa ra những phán quyết có giá trị. Thứ ba, đội ngũ cán bộ chuyên trách về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán còn có chuyên môn hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu xử lý vụ việc. Vấn đề đặt ra đối với quá trình giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán nói riêng và hoạt động kinh tế nói riêng là việc áp dụng pháp luật để đưa ra những phán xét nhất định. Luật áp dụng ở đây không chỉ đơn thuần là pháp luật chứng khoán (mang tính chất chuyên ngành) mà còn liên quan đến rất nhiều văn bản thuộc các ngành luật khác. Chẳng hạn, đối với những tranh chấp về quyền sở hữu chứng khoán và các quyền có liên quan, luật áp dụng không chỉ đơn thuần là pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động chứng khoán mà còn dựa trên nhiều văn bản pháp luật khác như Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp. Các chủ thể có liên quan không chỉ dựa trên luật nội dung mà còn phải tuân thủ luật tố tụng như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế, pháp luật về trọng tài. Nhiều thuật ngữ pháp lí nếu không được hiểu đúng và áp dụng đúng đắn, quyền lợi của các bên có liên quan không được đảm bảo, quan trọng hơn, nguyên tắc pháp chế bị vi phạm, tính tôn nghiêm của pháp luật khôngđược bảo toàn. Thực tế hoạt động chứng khoán, quản lí nhà nước về chứng khoán ở thị trường chứng khoán Việt Nam đã chỉ ra rằng trình độ hiểu biết pháp luật và áp dụng pháp luật một cách tổng thể của các chuyên gia chứng khoán chưa đủ để giải quyết mọi vấn đề pháp lí phát sinh (nếu có). Với những phân tích này, chúng tôi muốn chỉ ra vai trò của các cán bộ pháp luật, cơ quan tư vấn pháp luật, bộ phận pháp chế trong quá trình giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán. Nhữngđối tượng này là các chuyên gia pháp luật, có khả năng áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp nhuần nhuyễn nhất. Họ đồng thời cũng là các chuyên gia pháp lí trong lĩnh vực chứng khoán (trong sự so sánh với các chuyên gia pháp lí thuộc các chuyên ngành khác). Các cơ quan có thẩm quyền (mà trước tiên là Uỷ ban chứng khoán nhà nước), muốn thực hiện được những tiêu chí trên, cần phát huy tối đa khả năng sẵn có của lực lượng này; đồng thời cũng đặt ra chiến lược xác định cụ thể nhiệm vụ, vai trò của họ trong quá trình giải quyết tranh chấp chứng khoán. Cụ thể là trong thành phần của ban hoà giải bắt buộc phải có chuyên gia pháp lí (tham gia với tư cách thành viên). Chuyên gia pháp lí này có thểđang công tác tại trung tâm (sở) giao dịch hoặc là chuyên gia pháp lí của cơ quan quản lí nhà nước về chứng khoán hoặc có thể là chuyên gia pháp lí độc lập. Mỗi trường hợp đều có những lợi thế riêng. Chẳng hạn như, nếu là cán bộ của trung tâm (sở) giao dịch, họ làđối tượng cọ sát trực tiếp với hoạt động chứng khoán; nắm bắt nhanh nhất các diễn biến của thị trường, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, vì vậy, quyết định hoặc hướng dẫn của họ phản ánh được tính thực tế. Nếu chuyên gia pháp lí là cán bộ của Uỷ ban chứng khoán, những đối tượng này chính là những người tham gia vào quá trình tư vấn, soạn thảo các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán nên họ hiểu hơn ai hết nội dung trong mỗi văn bản. Việc phán quyết, hướng dẫn, giúp đỡ sẽ phản ánh đúng tinh thần của văn bản pháp luật. Không chỉ như vậy, việc tham gia với tư cách thành viên của ban hoà giải không chỉ mang lại lợi ích cho các bên có tranh chấp mà còn mang lại lợi ích cho Uỷ ban chứng khoán nhà nước. Sự tham gia của họ đồng nghĩa với việc các đối tượng này nắm được những vấn đề cơ bản phát
Luận văn liên quan