Tự do hoá dịch vụ bán lẻ Việt Nam- Thực trạng và giải pháp

Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các nước nói riêng và trong thương mại quốc tế nói chung. Nhận thức được điều này, WTO đã thông qua hiệp định GATS năm 1995. Đây là tập hợp các quy định có hiệu lực thi hành bắt buộc đối với các thành viên của WTO, gồm 29 điều, trong đó có quy định về việc gỡ bỏ các rào cản trong thương mại dịch vụ nhằm sớm đạt được tự do hoá trong lĩnh vực này. Năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, điều này đồng nghĩa với việc nước ta phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ bao gồm cả thị trường bán lẻ. Để thực hiện cam kết của WTO, ngày 01/01/2009 Việt Nam đã chính thức cho phép các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được hoạt động trong lĩnh vực phân phối tại đây. Chính sách này chắc chắn tác động rất lớn đến các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam, đặc biệt trong tình hình các doanh nghiệp phân phối trong nước còn chưa phát triển. Với mục tiêu tìm hiểu rõ hơn về thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam trong thời kì mở cửa, chúng em lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tự do hoá dịch vụ bán lẻ Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”. Đối tượng nghiên cứu là thị trường bán lẻ Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp. Bài tiểu luận của chúng tôi chia làm 3 phần chính: I.Khái quát chung về tự do hoá dịch vụ bán lẻ II.Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam III.Giải pháp cho ngành bán lẻ Việt Nam trong môi trường tự do hoá

doc30 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 2749 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tự do hoá dịch vụ bán lẻ Việt Nam- Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các nước nói riêng và trong thương mại quốc tế nói chung. Nhận thức được điều này, WTO đã thông qua hiệp định GATS năm 1995. Đây là tập hợp các quy định có hiệu lực thi hành bắt buộc đối với các thành viên của WTO, gồm 29 điều, trong đó có quy định về việc gỡ bỏ các rào cản trong thương mại dịch vụ nhằm sớm đạt được tự do hoá trong lĩnh vực này. Năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, điều này đồng nghĩa với việc nước ta phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ bao gồm cả thị trường bán lẻ. Để thực hiện cam kết của WTO, ngày 01/01/2009 Việt Nam đã chính thức cho phép các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được hoạt động trong lĩnh vực phân phối tại đây. Chính sách này chắc chắn tác động rất lớn đến các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam, đặc biệt trong tình hình các doanh nghiệp phân phối trong nước còn chưa phát triển. Với mục tiêu tìm hiểu rõ hơn về thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam trong thời kì mở cửa, chúng em lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tự do hoá dịch vụ bán lẻ Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”. Đối tượng nghiên cứu là thị trường bán lẻ Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp. Bài tiểu luận của chúng tôi chia làm 3 phần chính: Khái quát chung về tự do hoá dịch vụ bán lẻ Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam Giải pháp cho ngành bán lẻ Việt Nam trong môi trường tự do hoá Khái quát chung về tự do hoá ngành dịch vụ bán lẻ Lý luận chung Khái niệm tự do hóa Một cách tổng quát, tự do hoá dùng để chỉ việc nới lỏng đối với những chính sách đã từng được siết chặt trước đó của chính phủ, thường là trong lĩnh vực xã hội và kinh tế. Thông thường, thuật ngữ này dùng để chỉ các chính sách tự do hoá kinh tế, đặc biệt là tự do hoá thương mại hay tự do hoá thị trường vốn, và gọi chung là chính sách tân tự do. Ngành dịch vụ bán lẻ Khái niệm, mục đích Bán lẻ nói chung là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất, hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán lẻ cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hay gia đình. Theo xu hướng hiện nay, nhiều nhà sản xuất trực tiếp tổ chức điểm bán lẻ để đưa sản phẩm của mình đến người tiêu dùng. Hệ thống bán lẻ trực tiếp này ngoài chức năng bán hàng thường nhằm vào hai mục đích chính: Sử dụng điểm bán lẻ làm kênh truyền thông tương tác với người tiêu dùng. Cửa hàng được xem như là một điểm quảng cáo cố định, phần lớn diện tích mặt tiền được sử dụng với mục đích truyền thông xây dựng thương hiệu (billboard, màn hình LCD, trưng bày sản phẩm). Ngược lại, cũng có xu hướng nhà bán lẻ phát triển hoạt động ngược về hướng đầu nguồn của chuỗi cung cấp. Nhiều nhà bán lẻ lớn thay vì mua lại sản phẩm của các nhà phân phối hoặc nhà bán sỉ, họ tiếp xúc thẳng với nhà sản xuất để mua hàng và làm luôn chức năng phân phối. Nhiều nhà bán lẻ thậm chí còn tham gia vào việc phát triển sản phẩm. Họ yêu cầu nhà sản xuất sản xuất sản phẩm theo thiết kế của mình. Thậm chí họ còn đặt hàng nhà sản xuất cung cấp sản phẩm thô và tiếp thị dưới thương hiệu của nhà bán lẻ. Nhiều nhà sản xuất coi đây là một mối đe dọa đối với mình. Nhờ vào lợi thế kinh tề về qui mô, hiệu quả kinh doanh của chuỗi hệ thống cửa hàng bán lẻ thường cao hơn so với những của hàng bán lẻ đơn độc, do vậy chuổi hệ thống cửa hàng bán lẻ ngày càng trở nên phổ biến. Kết quả là kinh doanh bán lẻ trở thành một trong những nghành kinh doanh lớn nhất trên thế giới. Chức năng Ngành bán lẻ có thể được phân định trong phạm vi 4 chức năng chính. Khai thác một số nhóm mặt hàng và dịch vụ thích hợp: Tuy tất cả các cửa hàng bán lẻ đều cung cấp rất nhiều mặt hàng và thương hiệu khác nhau, nhưng mỗi cửa hàng đều có một xu hướng thiên về một nhóm sản phẩm làm nòng cốt. Chia những lô hàng lớn thành những đơn vị nhỏ: Từ “retailler” (bán lẻ) bắt nguồn từ tiếng Pháp mang nghĩa là cắt nhỏ, chia nhỏ. Chúng ta đều biết rằng bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không hề đơn giản đối với đa số các nhà sản xuất và các nhà bán sỉ. Do vậy các nhà sản xuất và các nhà bán sỉ thường thích bán từng lô lớn cho những nhà bán lẻ chuyên nghiệp, để họ chia nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng theo qui cách phù hợp với thói quen mua sắm của người tiêu dùng tại địa phương ấy. Lưu trữ sẵn hàng hóa: Một trong những chức năng chính của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làm cho hàng hóa lúc nào cũng có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến. Người bán lẻ thông thường không tích trữ chỉ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại họ tích trữ nhiều mặt hàng với khối lượng càng nhỏ càng tốt. Vì như thế khách hàng luôn luôn có nhiều sự chọn lựa hơn. Hưởng lợi từ chức năng này của người bán lẻ, khách hàng không phải mua trữ nhiều sản phẩm trong nhà. Họ chỉ mua đủ dùng vì sản phẩm lúc nào cũng có sẵn ở cửa hàng bán lẻ. Trưng bày hàng hóa và dịch vụ cộng thêm: Các nhà bán lẻ tạo ra mặt bằng trưng bày hàng hóa rộng lớn để có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú, giúp khách hàng thoải mái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua. Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng những loại thẻ tín dụng phổ biến, nhiều nhà bán lẻ còn phát hành thẻ tín dụng riêng của họ nhằm giúp cho khách hàng có được một hạn mức tín dụng để mua hàng trước và trả tiền sau. Phân loại Có thể nói chọn hình thức bán lẻ là một quyết định quan trọng nhất đối với một chiến lược bán lẻ. Trên thế giới hình thức bán lẻ là vô cùng đa dạng, nhưng chung qui lại, dưới đây là những hình thức phổ biến nhất. Cửa hàng tiện lợi (Convenience store) Cửa hàng đặc chủng (Speciality store) Siêu thị (Super market) Cửa hàng giảm giá (Discounted store) Trung tâm bán lẻ (Superstore or combination store) Cửa hàng bách hóa (Department store) Đại siêu thị (Hypermarket) Kho hàng (Warehouse store) Trung tâm mua sắm (Shopping mall) Bán hàng theo catalogue (Direct catalogue retailing) Cửa hàng trên mạng Internet (Web store) Xu hướng tự do hoá ngành dịch vụ bán lẻ trên thế giới Thị trường bán lẻ ngày nay không chỉ còn tập trung ở các nước phát triển mà đang ngày càng được mở rộng. Xu thế mở cửa thị trường bán lẻ của các quốc gia trên thế giới đã đưa các đại gia lớn như Carrefour, Wal-Mart, Dairy Farm đến với khắp các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước châu Á và các quốc gia đang phát triển.Cuộc suy thoái kinh tế hiện tại đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến các tập đoàn bán lẻ trên thế giới, nhất là các nhà bán lẻ Mỹ. Hàng loạt cửa hàng kinh doanh kém hiệu quả bị đóng cửa, một số tập đoàn đệ đơn xin phá sản (Circuit City Stores Inc., Linens ‘n Things Inc., Sharper Image Corp. và Steve & Barry’s LLC) do thị trường tín dụng đóng băng và tình hình suy thoái kinh tế khiến doanh số của họ giảm sút nghiêm trọng. Dự đoán năm 2009 các tập đoàn bán lẻ Mỹ sẽ đóng cửa khoảng 12 nghìn cửa hàng bán lẻ và danh sách các tập đoàn xin phá sản sẽ còn dài hơn.Người tiêu dùng thế giới đang thực hiện cắt giảm những khoản chi tiêu không cần thiết. Tại các trung tâm mua sắm, chủ yếu là người đi xem hàng trong khi người mua thực tế không nhiều bất chấp các chương trình khuyến mãi, giảm giá được tung ra. Các khoản chi tiêu được cho là giảm nhiều nhất bao gồm các khoản chi cho quần áo phụ nữ, hàng điện tử và đồ trang sức. Thế giới đang trông chờ vào tín hiệu tích cực từ kết quả của các chính sách khuyến khích tiêu dùng đang được một số nước Châu Á thực hiện như trao một khoản tiền mặt trực tiếp trị giá tối thiểu gần 130 USD cho gần như tất cả mọi người sống trên đất Nhật hay chính sách phát phiếu mua hàng trị giá 108 USD của chính phủ Đài Loan.Với tình hình này, giá cả là nhân tố quyết định hàng đầu trong cuộc cạnh tranh bán lẻ khắc nghiệt. Theo báo cáo của Deloitte - 2009 Global Power of Retailing, trong thời gian tới, để sống còn qua cuộc suy thoái này, các nhà kinh doanh bán lẻ sẽ có xu hướng tập trung cắt giảm chi phí, quản trị và phân chia rủi ro, tạo cho người tiêu dùng có được kinh nghiệm mua sắm tốt, quản trị nguồn nhân lực, đa dạng nguồn hàng, cân nhắc thu gọn cửa hàng, phân khúc thị trường tốt hơn, tìm kiếm thêm những thị trường ngoại quốc tiềm năng, tối ưu hóa dây chuyền cung ứng và xây dựng thương hiệu nhà bán lẻ. Ngoài ra, sáp nhập cũng là một hướng cứu cánh trong hoàn cảnh hiện nay. Mặc dù khủng hoảng kinh tế nhưng những tín hiệu lạc quan của thị trường bán lẻ đã lan truyền đến mọi khu vực trên thế giới. Các tập đoàn bán lẻ lớn xâm nhập vào các nước đang phát triển ngày càng nhiều, đồng thời các tập đoàn bán lẻ của các quốc gia châu Á mới nổi cũng xuất hiện và phát triển rất mạnh mẽ. Châu Mỹ La tinh và châu Á chính là hai khu vực có thị trường mặt bằng bán lẻ gặt hái được nhiều thành công nhất. Một điểm sáng tiêu biểu là thị trường Hồng Kông. Đối với phân khúc mặt bằng bán lẻ thì Peru, Colombia, Brazil là những nơi triển vọng khá sáng sủa, các quốc gia khác như Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc và Ấn Độ thì tình hình không khả quan bằng nhưng vẫn rất đáng ghi nhận. Australia, các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Anh là những quốc gia có tình hình thị trường bán lẻ được cải thiện khá tốt. Còn hai cường quốc hàng đầu là Mỹ và Nhật lại chưa cải thiện được gì nhiều đối với phân khúc thị trường này. Các quốc gia châu Âu khác như Ireland, Pháp và Tây Ban Nha được ghi nhận là có viễn cảnh thị trường bán lẻ u ám nhất vào thời điểm hiện tại. Niềm tin của nhà đầu tư chính là chìa khoá có tác động lớn đối với thị trường. Chính vì lẽ đó, tương lai của thị trường mặt bằng bán lẻ ở Brazil, Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ khá sáng sủa trong thời gian tới. Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ Trước khi mở cửa Thị trường bán lẻ Việt Nam có sức hút lớn với các tập đoàn bán lẻ trên thế giới. Cụ thể, Việt Nam là nước có nền kinh tế phát triển nhanh trong nhiều năm qua, khoảng 8%. Mặt khác, Việt Nam có một thị trường tiêu thụ rộng lớn với trên 86 triệu dân, dân số trẻ, 65% trong độ tuổi lao động, hơn một nửa dân số có độ tuổi dưới 30, thu nhập ngày càng tăng. Chi tiêu của người tiêu dùng tăng 16% và doanh số bán lẻ tăng 20% trong giai đoạn 2004-2005. Doanh số bán lẻ Viêt Nam dự tính đạt 20 tỷ USD mỗi năm. Sức hút của thị trường bán lẻ Việt Nam tăng nhanh khi năm 2007, Việt Nam xếp hạng 2 trên thế giới (sau Ấn Độ) và đến năm 2006 Việt Nam đứng số 1 theo xếp hạng của Công ty tư vấn Mỹ A.T.Keaney về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu. Ngoài ra, theo số liệu của Bộ Công Thương, trong giai đoạn 2001 - 2005 doanh thu bán lẻ thị trường Việt Nam tăng bình quân 18%/ năm, cao gấp khoảng 2 lần so với mức tăng trưởng bình quân của GDP cùng kỳ. Tuy nhiên, hệ thống phân phối của ta vẫn chưa phát triển và còn thô sơ. Theo số liệu thống kê tại thời điểm cuối năm 2006 thì hàng hoá đến người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ (khoảng 40%) và qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập, cửa hàng truyền thống (khoảng 44%), qua hệ thống phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tự chọn) mới chỉ chiếm khoảng 10%, do nhà sản xuất trực tiếp bán thẳng là 6%. Xuất phát từ những lý do trên, trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, nhiều thành viên đã đưa ra yêu cầu rất cao, đề nghị Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ phân phối và coi đây là điều kiện tiên quyết cho việc chấp nhận nước ta gia nhập WTO. Do đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA) nên nước ta đã đồng ý đàm phán với các thành viên WTO để dành cho các thành viên này đối xử như Việt Nam đã dành cho Hoa Kỳ. Cam kết của Việt Nam trong WTO đối với dịch vụ phân phối được thiết kế trên cơ sở Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA). Tuy nhiên, do các thành viên WTO coi BTA chỉ là khởi điểm để đàm phán nên cam kết của Việt Nam trong WTO có nhiều thay đổi so với BTA. Trên thực tế, trước khi gia nhập WTO (trước ngày 11/1/2007), thị trường phân phối Việt Nam đã có nhiều doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài của các tập đoàn phân phối lớn trên thế giới. Ví dụ như: Metro Cash & Carry (Đức): có các siêu thị tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ. BigC: có các siêu thị tại  TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Hải Phòng. Tập đoàn bán lẻ Parkson (Malaysia): có siêu thị tại TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng. Tập đoàn Dairy Farm (Singapore) cũng nộp đơn xin thành lập công ty 100% vốn nước ngoài. Lotte (Hàn Quốc) xin thành lập liên doanh. Cam kết mở cửa thị trường bán lẻ Việt Nam Như phần trên đã đề cập, BTA là hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ cam kết mở cửa thị trường phân phối. Và BTA là cơ sở để đàm phán với các thành viên khác trong WTO. Theo đó sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết mở cửa tất cả các phân ngành dịch vụ phân phối theo phân loại của WTO, bao gồm: Dịch vụ đại lý hoa hồng. Dịch vụ bán buôn. Dịch vụ bán lẻ (bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp). Dịch vụ nhượng quyền thương mại. Cần nhấn mạnh rằng 1/1/2009 không phải là “giờ G” hay thời điểm “mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ”. Thực tế việc mở cửa thị trường dịch vụ phân phối đã được thực hiện ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO (tháng 1-2007) theo hình thức liên doanh. Nhưng từ 1-1-2009, doanh nghiệp nước ngoài mới được hoạt động trong lĩnh vực phân phối dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, việc mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài gắn liền với một số điều kiện chứ không phải ồ ạt đổ bộ vào thị trường Việt Nam. Trong danh mục hàng hóa mà doanh nghiệp nước ngoài được phân phối theo lộ trình từ 1-1-2009 có  máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy. Từ 1-1-2010 có thêm: xi măng, clinke, phân bón, sắt, thép, giấy, lốp xe, thiết bị nghe nhìn... Những hàng hóa doanh nghiệp nước ngoài không được quyền phân phối gồm: lúa gạo, đường, thuốc lá - xì gà, dầu thô và dầu đã qua chế biến, dược phẩm, thuốc nổ, sách-báo-tạp chí, kim loại quý-đá quý, vật phẩm đã ghi hình trên mọi chất liệu (đĩa, băng, các phương tiện đã lưu trữ thông tin). Hiện có năm tập đoàn bán lẻ nước ngoài quy mô lớn đang hoạt động tại Việt Nam. Trong đó, tập đoàn Metro đăng ký kinh doanh theo hình thức bán buôn nhưng thực ra hoạt động phần lớn là bán lẻ (bán cho người mua cuối cùng). Big C hoạt động theo hình thức bách hóa tổng hợp. Parkson có mô hình bán hàng bách hóa chuyên về hàng công nghiệp. Lotte kinh doanh cả siêu thị lẫn gian hàng. Còn Louis Vuiton chỉ bán sản phẩm mang thương hiệu của họ. Song, điều đáng lo ngại nhất là trong 10 nhà bán lẻ hàng đầu thế giới mới chỉ có Metro (đứng thứ 5) xâm nhập vào Việt Nam. Lotte Mart của Hàn Quốc tuy có những chiến dịch quảng bá rầm rộ nhưng vẫn chỉ là nhà bán lẻ đứng thứ 79 thế giới và thứ 14 châu Á, vậy mà đã khiến nhiều doanh nghiệp nội địa “hoảng hốt”, huống chi sắp tới, dự báo sẽ còn hàng loạt tên tuổi trong top 10 nhà bán lẻ thế giới đổ bộ vào Việt Nam. Theo thông tin mới nhất, tập đoàn Tesco của Anh (đứng thứ 4) đã có sẵn 2 địa điểm để mở đại siêu thị ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Phương thức tiếp cận của tập đoàn này là mua một thương hiệu bán lẻ nội địa hoặc liên doanh với một đơn vị trong nước để mở hệ thống phân phối, bán lẻ. Sắp tới sẽ là Tập đoàn Carrefour của Pháp (đứng thứ 2), Seven-Eleven của Nhật. Ngoài 8 siêu thị trên toàn quốc, Metro Cash & Carry đang có ý định mở thêm 4 trung tâm nữa tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang và Đồng Nai. Hay Tập đoàn Bourbon, chủ sở hữu Hệ thống siêu thị Big C cũng đang chuẩn bị xây dựng thêm 4 siêu thị mới tại Hà Nội, làm tròn chuỗi 10 siêu thị mà họ đang sở hữu. Tập đoàn bán lẻ Dairy Farm (HongKong) thông qua công ty con là Giant South Asia Việt Nam cũng vừa khai trương siêu thị đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh. Lotte Mart khai trương vào ngày 18-12-2008 cũng quyết định nâng chỉ tiêu mở rộng mạng lưới từ 15 lên 30 siêu thị trong vòng 10 năm với tổng vốn đầu tư lên đến 5 tỉ USD. Trước đó, Dairy Farm đã mua lại toàn bộ chuỗi 6 siêu thị Citimart của Công ty Đông Hưng. Dự kiến, Dairy Farm sẽ rót tới 5 triệu USD nhằm mở rộng kinh doanh tại thị trường Việt Nam. Đánh giá những thuận lợi khó khăn sau khi mở cửa thị trường bán lẻ a. Thuận lợi Quy mô thị trường Thị trường bán lẻ Việt Nam tuy quy mô không lớn (55 tỷ USD trong năm 2008), nhưng rất hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài do mức lưu chuyển hàng hóa liên tục tăng trong những năm gần đây. Quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam năm 2007 khoảng 20 tỉ USD và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8%/năm. Kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng 13%, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm rất cao – khoảng 30%. Doanh số bán lẻ thị trường Việt Nam được dự tính khoảng trên 20 tỷ USD mỗi năm. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng khoảng 28% (năm 2008) và dự kiến lên đến 37% vào năm 2010. Mức độ HOT của thị trường bán lẻ Việt Nam (Tháng 11 - 2008)  (Nguồn: Nielsen Việt Nam) Quy mô và mức dân số đang trong thời điểm có khả năng chi tiêu đã làm cho Việt Nam khác biệt so với các thị trường kinh doanh bán lẻ khác tại châu Á. Việt Nam có số dân hơn 86 triệu người và hằng năm tăng trên 1 triệu người là thị trường có tiềm năng rất hấp dẫn đối với các nhà bán lẻ. Công ty nghiên cứu thị trường của Mỹ RNCOS trong báo cáo "Phân tích thị trường bán lẻ Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2012" đã cho rằng tuy quy mô thị trường bán lẻ nhỏ hơn nhiều so với các nền kinh tế đang phát triển khác tại châu Á, nhưng đổi lại, Việt Nam có những yếu tố căn bản cho sự phát triển mạnh với doanh thu bán lẻ tăng từ 23,7 tỉ đô la Mỹ năm 2005 lên gần 39 tỉ đô la Mỹ năm 2008. Với một thị trường tiêu thụ rộng lớn khoảng 86 triệu dân, thu nhập ngày càng cao, cùng với áp lực cạnh tranh giữa các hệ thống bán lẻ chưa nhiều thì thị trường bán lẻ Việt Nam thực sự có sức hấp dẫn rất lớn. Thói quen chi tiêu Thu nhập tăng và văn hóa tiêu dùng đang dần dần xuất hiện đã góp phần thúc đẩy sức tiêu dùng gia tăng. Chi tiêu cho các loại hàng tiêu dùng tăng 20% mỗi năm. Năm 2000, chi tiêu cho bán lẻ tại Việt Nam chỉ đạt mức 15 tỉ USD, năm 2006 đã đạt mức 36 tỉ USD và đến năm 2010 dự kiến con số này sẽ vượt mức 50 tỉ USD. Việt Nam có tiềm năng lớn về sức mua với tốc độ tăng trưởng cao và dân số trẻ. Tính tự cấp tự túc giảm nhanh, tỷ lệ tiêu dùng thông qua mua bán tăng rất mạnh (tỷ lệ tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng so với tiêu dùng cuối cùng đã tăng từ 64,7% năm 1995 lên 68,5% năm 2000, 82,1% năm 2005, 93,1% năm 2007 và có khả năng vượt qua mốc 95% trong năm nay). Mức tiêu dùng bình quân đầu người tuy còn thấp, nhưng tốc độ tăng quy mô và tổng mức bán lẻ hàng hóa cũng như doanh thu dịch vụ tiêu dùng, nếu loại trừ tốc độ tăng giá tiêu dùng vẫn tăng cao (tăng 12,3%/ năm), ước tính đạt 57,6 tỉ USD trong năm nay. Tỷ lệ dân số đô thị chưa cao (năm 2007 mới đạt 27,44%, thuộc loại thấp trên thế giới), nhưng đang có xu hướng tăng nhanh, nên cơ cấu tiêu dùng cũng sẽ có sự chuyển dịch nhanh. Đến năm 2011 gần 3/4 dân số (69%) sẽ nằm trong độ tuổi từ 15-64, và môi trường kinh doanh bán lẻ của Việt Nam dự đoán sẽ trưởng thành cùng với thế hệ những người tiêu dùng trẻ, tạo nên cuộc cách mạng về thị trường kinh doanh bán lẻ tại khắp các khu vực thành thị của Việt Nam. Môi trường kinh tế vĩ mô Công ty nghiên cứu thị trường RNCOS còn khẳng định, với việc Chính phủ Việt Nam cho phép các công ty nước ngoài gia nhập thị trường bán lẻ, doanh thu của thị trường này tại Việt Nam vào năm 2012 sẽ vượt mức 85 tỉ đô la Mỹ và các kênh bán lẻ hiện đại sẽ đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển của ngành công nghiệp này trong tương lai. Trong khi Việt Nam tăng trưởng kinh tế vẫn thuộc loại cao so với các nước, tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tuy thấp hơn các năm trước nhưng tính chung 10 tháng qua vẫn còn tăng 6,1%, thì thị trường Việt Nam vẫn còn rất hấp dẫn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái (triệu USD)  (Nguồn: Tổng cục Thống kê) Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cũng có một số