Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Trưng Vương - Thành phố Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên là một điển hình trong nghiệp hóa, hiện đại hóa với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút. Phường Trưng Vương là một trong những phường trung tâm thành phố điển hình cho sự phát triển về cơ sở hạ tầng và kinh tế. Phường Trưng Vương tập trung nhiều các cơ quan hành chính của thành phố và của tỉnh. Đây cũng là phường có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội cao, với nhiều chợ đầu mối của thành phố như: chợ Thái, chợ Túc Duyên; Nhiều đường, phố thương mại như: Cách mạng tháng Tám, Bến Oánh, Bến Tượng, Phố Cột Cờ. Bên cạnh sự phát triển của mình phường Trưng Vương đã thu hút được rất nhiều lao động trong Thành phố cũng như các huyện lân cận. Dân số trong Phường tăng lên nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng theo. Các chợ, cửa hàng, các dịch vụ phục vụ người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng dẫn đến lượng rác thải sinh hoạt tăng lên rất nhiều. Hiện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên nói chung và trên địa bàn các phường, xã thuộc địa bàn thành phố đã triển khai công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là vân còn xảy ra tình trạng rác thải chưa được thu gom triệt để bị vứt bừa bãi trong khu vực dân cư, trên các tuyến đường, rơi vãi trên các hệ thống công rãnh gây mất vệ sinh công cộng, mất mỹ quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Thậm trí, tại một số khu vực nhà dân rác thải không được thu gom mà được người dân tự xử lý bằng cách đốt hoặc chôn lấp trong đất vườn của gia đình. Đối với việc xử lý rác thải sinh hoạt, thành phố Thái Nguyên hiện đang áp dụng công nghệ xử lý chôn lấp tại bãi rác hợp vệ sinh. Đây là một phương pháp xử lý rác tốn diện tích đất đai nhất và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (nguồn nước, không khí, đất), phát sinh bệnh ảnh hưởng nguy hại đến sức khoẻ con người.

doc73 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 24/07/2015 | Lượt xem: 2449 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Trưng Vương - Thành phố Thái Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Tỉnh Thái Nguyên là một điển hình trong nghiệp hóa, hiện đại hóa với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút. Phường Trưng Vương là một trong những phường trung tâm thành phố điển hình cho sự phát triển về cơ sở hạ tầng và kinh tế. Phường Trưng Vương tập trung nhiều các cơ quan hành chính của thành phố và của tỉnh. Đây cũng là phường có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội cao, với nhiều chợ đầu mối của thành phố như: chợ Thái, chợ Túc Duyên; Nhiều đường, phố thương mại như: Cách mạng tháng Tám, Bến Oánh, Bến Tượng, Phố Cột Cờ. Bên cạnh sự phát triển của mình phường Trưng Vương đã thu hút được rất nhiều lao động trong Thành phố cũng như các huyện lân cận. Dân số trong Phường tăng lên nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng theo. Các chợ, cửa hàng, các dịch vụ phục vụ người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng dẫn đến lượng rác thải sinh hoạt tăng lên rất nhiều. Hiện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên nói chung và trên địa bàn các phường, xã thuộc địa bàn thành phố đã triển khai công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là vân còn xảy ra tình trạng rác thải chưa được thu gom triệt để bị vứt bừa bãi trong khu vực dân cư, trên các tuyến đường, rơi vãi trên các hệ thống công rãnh gây mất vệ sinh công cộng, mất mỹ quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Thậm trí, tại một số khu vực nhà dân rác thải không được thu gom mà được người dân tự xử lý bằng cách đốt hoặc chôn lấp trong đất vườn của gia đình. Đối với việc xử lý rác thải sinh hoạt, thành phố Thái Nguyên hiện đang áp dụng công nghệ xử lý chôn lấp tại bãi rác hợp vệ sinh. Đây là một phương pháp xử lý rác tốn diện tích đất đai nhất và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (nguồn nước, không khí, đất), phát sinh bệnh ảnh hưởng nguy hại đến sức khoẻ con người. Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm nâng cao sự hiểu biết của bản thân về công tác quản lý, thu gom, xử lý rác thải, đồng thời tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phù hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Trưng Vương-thành phố Thái Nguyên”. 1.2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở khảo sát thu thập số liệu về hiện trạng môi trường và quản lý rác thải sinh hoạt (RTSH) tại ở phường Trưng Vương thực hiện một số mục đích sau: - Đánh giá hiện trạng quản lý RTSH trên địa bàn phường Trưng Vương; - Dự báo tốc độ phát sinh RTSH, nhu cầu vận chuyển, nhu cầu xử lý RTSH. - Đưa ra các giải pháp phân loại RTSH tại nguồn tại phường Trưng Vương. 1.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài Đề tài sẽ là tài liệu cung cấp một số cơ sở khoa học phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển, phân loại và xử lý RTSH cho phường Trưng Vương Tìm ra giải pháp thích hợp cho công tác quản lý và xử lý RTSH trên địa bàn phường Trưng Vương, trên cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp tại phường Trưng Vương như đề xuất biện pháp phân loại RTSH tại nguồn và xử lý RTSH làm phân compost và nâng cao nhận thức của người dân. Thu gom hiệu quả, triệt để lượng RTSH phát sinh hằng ngày, đồng thời phân loại, tái sử dụng RTSH. Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 2.1.1.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt Chất thải là các chất bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật. Trong đó, RTSH (còn gọi là rác) chiếm tỉ lệ cao nhất. RTSH chủ yếu phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải... Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Bất kỳ một hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng... đều sinh ra một lượng rác đáng kể. Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất. Cho nên, RTSH có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống. Hình 2.1. Nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt 2.1.1.2. Thành phần của rác thải sinh hoạt Thành phần của RTSH rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thông thường thành phần của RTSH bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm, giấy, catton, vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn... Bảng 2.1. Thành phần chất thải sinh hoạt Thaønh phaàn Ñònh nghóa Ví duï 1. Caùc chaát chaùy ñöôïc a. Giaáy Caùc vaät lieäu laøm töø giaáy boät vaø giaáy. Caùc tuùi giaáy, maûnh bìa, giaáy veä sinh... b. Haøng deät Coù nguoàn goác töø caùc sôïi. Vaûi, len, nilon... c. Thöïc phaåm Caùc chaát thaûi töø ñoà aên thöïc phaåm. Coïng rau, voû quaû, thaân caây, loãi ngoâ... d. Coû, goã cuûi, rôm raï Caùc vaät lieäu vaø saûn phaåm ñöôïc cheá taïo töø goã, tre, rôm... Ñoà duøng baèng goã nhö baøn, gheá, ñoà chôi, voû döøa... e. Chaát deûo Caùc vaät lieäu vaø saûn phaåm ñöôïc cheá taïo töø chaát deûo. Phim cuoän, tuùi chaát deûo, chai, loï. Chaát deûo, caùc ñaàu voøi, daây ñieän... f. Da vaø cao su Caùc vaät lieäu vaø saûn phaåm ñöôïc cheá taïo töø da vaø cao su. Boùng, giaøy, ví, baêng cao su... 2. Caùc chaát khoâng chaùy a. Caùc kim loaïi saét Caùc vaät lieäu vaø saûn phaåm ñöôïc cheá taïo töø saét maø deã bò nam chaâm huùt. Voû hoäp, daây ñieän, haøng raøo, dao, naép loï... b. Caùc kim loaïi phi saét Caùc vaät lieäu khoâng bò nam chaâm huùt. Voû nhoâm, giaáy bao goùi, ñoà ñöïng... c. Thuyû tinh Caùc vaät lieäu vaø saûn phaåm ñöôïc cheá taïo töø thuyû tinh. Chai loï, ñoà ñöïng baèng thuyû tinh, boùng ñeøn... d. Ñaù vaø saønh söù Baát kyø caùc loaïi vaät lieäu khoâng chaùy khaùc ngoaøi kim loaïi vaø thuyû tinh. Voû chai, oác, xöông, gaïch, ñaù, goám... 2.1.1.3. Tác động môi trường của rác thải sinh hoạt RTSH gây ô nhiễm toàn diện đến môi trường sống: không khí, đất, nước. Gây hại sức khỏe: RTSH có thành phần chất hữu cơ cao, là môi trường tốt cho các loài gây bệnh như ruồi, muỗi, chuột, gián... qua các trung gian có thể phát triển mạnh thành dịch. * Ô nhiễm nước: Rác sinh hoạt không được thu gom, thải vào kênh, rạch, sông, hồ... gây ô nhiễm môi trường nước bởi chính bản thân chúng. Rác nặng lắng làm nghẽn đường lưu thông, rác nhẹ làm đục nước, nylon làm giảm diện tích tiếp xúc với không khí, giảm DO trong nước, làm mất mỹ quan, gây tác động cảm quan xấu đối với người sử dụng nguồn nước. Chất hữu cơ phân hủy gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng hóa nguồn nước. Nước rò rỉ trong bãi rác đi vào nguồn nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, như ô nhiễm kim loại nặng, nồng độ nitrogen, photpho cao, chảy vào sông hồ gây ô nhiễm nguồn nước mặt. * Ô nhiễm không khí: Mùi hôi thối của rác thải sinh hoạt với các thành phần hữu cơ được thải ra trong quá trình sinh hoạt của con người luôn là vấn đề đáng lo ngại, ở nhiều vùng nông thôn và một số thành thị việc xả trực tiếp rác thải ra các khu công cộng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên, rác thải thường được tập kết ngay trên các trục đường giao thông công cộng gây hiện tượng ô nhiễm rất nhiều. Bụi trong quá trình vận chuyển lưu trữ rác gây ô nhiễm không khí. Rác hữu cơ dễ phân hủy sinh học. Trong môi trường hiếu khí, kị khí có độ ẩm cao, rác phân hủy sinh ra SO2, CO, CO2, H2S, NH3... ngay từ khâu thu gom đến chôn lấp. CH4 là chất thải thứ cấp nguy hại, gây cháy nổ. 2.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường; Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường. - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn. - Nghị quyết 41 - NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ chính trị về BVMT trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. - Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng chính phủ về đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp. - Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020. - Quyết định số 17/2001/QĐ - BXD ngày 07 tháng 08 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải. - Quyết định số 34/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2005 của thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch hoạt động thực hiện NQ số 41 - NQ/TW của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. - Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với những mục tiêu cụ thể là tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt đạt 90%, xử lý và tiêu huỷ 60% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế cơ quan chủ trì và triển khai thực hiện là Bộ TN & MT . - Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. - Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Bộ Xây Dựng về Hướng dẫn một số điều của NĐ số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý chất thải rắn. 2.2. Quản lý chất thải và quản lý môi trường 2.2.1. Các biện pháp quản lý chất thải và quản lý môi trường Chúng ta có thể chia thành 2 loại biện pháp như sau: - Biện pháp kỹ thuật. - Biện pháp quản lý. Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải. Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có phương hướng và mục đích xác định của chủ thể (con người, địa phương, quốc gia, tổ chức quốc tế v. v... ) đối với một đối tượng nhất định (môi trường sống ) nhằm khôi phục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con người trong khoảng thời gian dự định. Rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo các cách sau: - Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt ra rác thải trong nhà, rác thải ngoài nhà, rác thải trên đường, chợ... - Theo thành phần hóa học và đặc tính vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo... - Theo mức độ nguy hại: + Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác thải sịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác thải nhiễm khuẩn, lây lan... có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây nguy hại tới môi trường. Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp. + Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần. - Nhìn từ góc độ kinh tế: Con người gây ô nhiễm bởi vì đó là cách rẻ tiền nhất để giải quyết một vần đề rất thực tế là làm thế nào thải bỏ các phế phẩm sinh ra sau khi sản xuất và sử dụng hàng hóa. Điều này có nghĩa là, môi trường suy thoái do động cơ lợi nhuận. Cách thức xây dựng nền kinh tế và thể chế kinh tế có thể hướng con người đến việc đưa ra những quyết định gây ô nhiễm môi trường. Giải pháp đơn giản nhất cho vấn đề này là giáo dục, tuyên truyền, nâng cao ý thức, đạo đức môi trường cho mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ. 1, Xây dựng hệ thống trường sinh thái (eco-school) để giáo dục học sinh (mô hình eco-school tại Anh). Giáo dục cho học sinh từ trong Nhà trường, từ nhỏ, và cha mẹ, người lớn phải là người làm gương. Trong chương trình học tại trường, nên dành ra giờ ngoại khóa để thực hiện vấn đề này. Đào tạo hệ thống cán bộ, nhân viên giám sát với những kỹ năng chuyên môn cần thiết, giúp thúc đẩy tốt hơn qua trình phân loại rác và nâng cao ý thức cộng đồng, có phong cách làm việc chuyên nghiệp. Các nhóm chuyên trách sẽ được cấp kinh phí trong suốt quá trình hoạt động. Thực hiện chiến dịch 3R vì môi trường phát triển bền vững, bao gồm: Reusing (tái sử dụng) – Reducing (giảm thiểu) – Recycling (Tái sử dụng). 2, Trong nền kinh tế thị trường: có những thất bại do thị trường mang lại dẫn đến sự ô nhiễm môi trường. Có thể đưa ra 3 nguyên nhân dẫn đến thất bại của thị trường dẫn đến ô nhiễm môi trường, đó là sự xuất hiện của chi phí ngoại tác, môi trường là tài nguyên tự do tiếp cận và chất lượng môi trường là một hàng hóa công cộng. Ba nguyên nhân trên có thể đưa ra nhiều hệ quả, trong đó, một hệ quả thường gặp nhất là xuất hiện hiện tượng “ăn theo” (hiện tượng free - rider), mọi người mong muốn hưởng chất lượng môi trường sống tốt hơn nhưng không muốn trả chi phí cho việc cải thiện môi trường sống của mình và mong muốn người khác trả thay cho mình. Nhiều người có cùng suy nghĩ như thế sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề xử lý rác thải nói riêng và cải tạo môi trường nói chung. Do đó, phải tìm cách khắc phục suy nghĩ này. Xây dựng một thị trường “xanh”, nghĩa là một thị trường phát triển bền vững, hạn chế tối đa những thất bại của thị trường có thể gây ảnh hưởng đến môi trường. Để thực hiện được điều này, cần sự ra tay hỗ trợ, điều tiết và quản lý của Nhà nước bằng chính sách, pháp luật và con người. 3, Xuất phát từ ý tưởng: Rác cũng là hàng hóa, cho nên rác cũng có thể được buôn bán và sinh lợi nhuận. Hiện nay, rác thải là nguồn nguyên liệu. Có thể dùng rác thải chế tạo béton lót đường, đê chắn sóng. Nguồn kim loại thu hồi trong rác thải rất có giá trị, tái sử dụng là chúng có thể giảm một lượng hao phí tài nguyên khá lớn. Đó là bí quyết thành công trong việc xử lý rác thải của nhiều nước trên thế giới (tiêu biểu là Nhật Bản...). Mở đường cho sản xuất sạch hơn và cơ chế phát triển sạch (CDM – Clean Development Mechanism): Các công ty thu gom, mua lại các loại chai lọ mà đựng sản phẩm mà công ty đã bán ra thị trường để tiến hành tái chế. Một việc làm có thể giúp làm giảm việc thải bỏ các chai lọ sau sử dụng là khuyến khích người tiêu dùng tiếp tục sử dụng lại chai lọ đó, bằng cách sản xuất ra sản phẩm nhưng được chứa đựng trong các túi giấy, người tiêu dùng mua về và đổ vào các chai lọ có sẵn, so với việc thu gom, tái sử dụng chai lọ thì việc sử dụng bao bì giấy thuận tiện hơn. Nhà nước có chính sách giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện tốt vấn đề sản phẩm thân thiện với môi trường. Sản xuất nylon hữu cơ dễ phân hủy, trong các hoạt động thương mại, nylon không cho mà người tiêu dùng phải mua, điều này khiến người tiêu dùng ý thức hơn về việc sử dụng lại các loại túi nylon có thể sử dụng lại được. Đối với các công ty sản xuất thiết bị tiêu dùng, sinh hoạt, buộc nhà sản xuất phải có trách nhiệm với sản phẩm hàng hóa của mình, trách nhiệm này được cụ thể hóa bằng các đạo luật, họ phải tìm cách cải thiện các sản phẩm của mình sản xuất ra (kể cả máy giặt, tivi, máy điều hòa...) sao cho dễ lắp đặt, phân loại, tái chế sau khi chúng hết thời hạn sử dụng. Điều này buộc các công ty phải suy nghĩ để thay đổi, nhìn chung có thể giúp năng cao trình độ công nghệ của đất nước khi các ngành sản cuất buộc phải sản xuất thân thiện hơn với môi trường (enviromentally friendly) (mô hình của Nhật Bản). 4, Hàng năm, nước ta phải tiêu tốn đến 15.000 tỷ đồng và 5000 ha diện tích đất quanh đô thị để xử lý và chôn lấp rác thải. Đây là một biểu hiện cho thấy sự yếu kém và che lấp những khuyết điểm. Nhà nước cũng đã phải chi ra rất nhiều tiền để nhập các thiết bị, công nghệ xử lý rác thải của các nước tiên tiến nhưng hiệu quả cũng không khả quan. Để quá trình xử lý rác thải hiệu quả, chúng ta cần giải quyết tốt 3 vần đề sau: Thứ nhất, phân loại rác triệt để. Thứ hai, các chất hữu cơ trong rác thải phải được xử lý bằng các chủng vi sinh vật hữu hiệu và an toàn, tạo những sản phẩm phân hữu cơ giàu mùn, giúp dần thay thế được lượng phân hóa học Nhà nước phải nhập khẩu ngày càng nhiều, phá vỡ sự cân bằng vật chất (nitrogen, phospho, khoáng vi lượng) trong đất. Thứ ba, tái chế toàn bộ chất dẻo và phần lớn RTSH, mở đường cho sản xuất sạch hơn và phát triển bền vững. Qua ba yếu tố trên đây, ngoài hai yếu tố sau nghiêng về khía cạnh kỹ thuật, yếu tố đầu tiên cho thấy tầm quan trọng của phân loại rác, trongđó, việc phân loại rác tại mỗi gia đình đóng vai trò rất quan trọng. Đầu tư mạnh cho hệ thống phân loại rác tại nguồn sẽ rất tốn kém, nhưng phần có lợi nhất là những loại phế liệu bán được, sẽ bị mạng lưới thu gom rác... bán trước. Do đó, điều kiện thu hồi vốn ban đầu là rất khó. Trang thiết bị tồn trữ và phân loại trong nhà ít nhất phải có 1 thùng chứa hữu cơ, 1 thùng chứa vô cơ, bao PE. Đó là chưa kể đến chi phí tuyên truyền rất cao để thay đổi thói quen của cộng đồng dân cư. Thu phí rác thải, mỗi người đều phải trả tiền cho việc phát thải của mình, tiền này được sử dụng cho việc thu gom và xử lý rác. Có thể dùng hình thức thu phí để không chế lượng rác thải, buộc người dân chỉ được thải ra một lượng rác nhất định (có thể tính theo kg/đầu người), nếu vượt quá sẽ phải đóng phí phạt. Phạt nặng đối với hành vi đổ rác thải bừa bãi. Một vấn đề khó khăn là nếp suy nghĩ đã ăn sâu vào mọi người dân, cho rằng việc xử lý chất thải, việc phân loại rác không phải là việc của mình, do không biết hay không quan tâm, cho rằng những việc xả thải của mình làm có ảnh hưởng không đáng kể đến môi trường. Trên quy mô rộng lớn thì suy nghĩ này gây tác hại vô cùng lớn. Về mặt môi trường sẽ gây tích tụ và gia tăng ô nhiễm, về mặt xã hội thì sẽ gây nếp suy nghĩ lan truyền trong cộng đồng và giữa các thế hệ. Do đó, cần thiết phải xây dựng và phát triển những chương trình giáo dục cộng đồng trên những phương tiện giao thông đại chúng. Trong chương trình đó nêu rõ những tác hại của rác với môi trường và cộng đồng, những lợi ích mà môi trường và cộng đồng sẽ thu được khi tiến hành phân lại rác tại gia đình, những vấn đề mình đã làm được cho cộng đồng, chính điều này, người dân, trong mỗi gia đình, cảm thấy vui vì mình đã làm việc có ích cho mọi người, và chính cảm giác này sẽ khuyến khích cho việc làm phân loại rác, không chỉ tại gia đình mà còn ở nhưng nơi khác như nơi công cộng, cơ quan... Trong những chương trình giáo dục cộng đồng đó nên phát kèm theo những kiến thức cơ bản về cơ chế phát triển sạch (CDM), năng suất xanh... theo hướng đại chúng hóa, để mọi người hiểu rõ, tìm cách ứng dụng những gì mình nghe vào cuộc sống, gây tác động vào tiềm thức lâu dài, tác động đến hành động của mọi người. Ngoài ra, giúp nâng cao trình độ chung của xã hội. 5, Tuyên truyền để thay đổi thói quen của người dân. Hiện nay ở các nước tiên tiến, người ta đã bắt đầu chiến dịch giảm thiểu sử dụng túi nylon để đựng hàng trong các siêu thị và cửa hàng. Ở nhiều siêu thị của Pháp, người mua hàng được khuyến khích mua các túi đựng hàng loại lớn và siêu thị sẽ không phát các túi nylon đựng hàng cỡ thông thường nữa. Các túi nylon cỡ lớn này giá rất rẻ (khoảng 0, 1 euro, tương đương với 2. 000 đồng), có thể sử dụng nhiều lần và khi rách thì có thể đem đến siêu thị để đổi lấy túi mới. Có nhiều chất liệu, loại nylon thông thường, loại nylon có thể phân huỷ sinh học (biodegrab
Luận văn liên quan