Đề tài Kích cầu đầu tư: Lý thuyết và thực tiễn

Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu gây ra hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng nhất là khi chúng ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Khủng hoảng có những ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội và các nhà kinh tế học trên thế giới, chính phủ các nước nói chung cũng như chính phủ Việt Nam nói riêng cũng đã làm hết sức mình để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoát khỏi khủng hoảng. Bằng việc xem xét lại các lý thuyết kinh tế đang được áp dụng hiện nay đặc biệt là lý thuyết bàn tay hữu hình với sự can thiệp điều tiết nền kinh tế của nhà nước, các quốc gia đã có những chính sách kinh tế với những gói giải cứu kinh tế nhằm kích cầu đầu tư, tiêu dùng, tạo công ăn việc làm nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Chính sách kích cầu kinh tế bên cạnh những mặt tích cực thì cũng có những hạn chế. Nhận thức được những hạn chế này sẽ giúp chính phủ có được những sự lựa chọn thích hợp trong việc thực thi chính sách. Nhóm sinh viên chuyên ngành kinh tế đầu tư chúng em với mong muốn tìm hiểu, vận dụng những kiến thức chuyên ngành để đi sâu tìm hiểu vấn đề thực tiễn.

doc93 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 12/04/2013 | Lượt xem: 2396 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Kích cầu đầu tư: Lý thuyết và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu gây ra hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng nhất là khi chúng ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Khủng hoảng có những ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội và các nhà kinh tế học trên thế giới, chính phủ các nước nói chung cũng như chính phủ Việt Nam nói riêng cũng đã làm hết sức mình để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoát khỏi khủng hoảng. Bằng việc xem xét lại các lý thuyết kinh tế đang được áp dụng hiện nay đặc biệt là lý thuyết bàn tay hữu hình với sự can thiệp điều tiết nền kinh tế của nhà nước, các quốc gia đã có những chính sách kinh tế với những gói giải cứu kinh tế nhằm kích cầu đầu tư, tiêu dùng, tạo công ăn việc làm nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Chính sách kích cầu kinh tế bên cạnh những mặt tích cực thì cũng có những hạn chế. Nhận thức được những hạn chế này sẽ giúp chính phủ có được những sự lựa chọn thích hợp trong việc thực thi chính sách. Nhóm sinh viên chuyên ngành kinh tế đầu tư chúng em với mong muốn tìm hiểu, vận dụng những kiến thức chuyên ngành để đi sâu tìm hiểu vấn đề thực tiễn. Điều đó thôi thúc chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài:” Kích cầu đầu tư - Lý thuyết và thực tiễn tiễn”. Trong đề tài thảo luận này chúng em đưa ra một số vấn đề lý luận chung về đầu tư và kích cầu đầu tư, tình hình thực tiễn kích cầu đầu tư ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm kích cầu đầu tư có hiệu quả. Nhóm thảo luận chúng em xin chân thành cám ơn PGS.TS Từ Quang Phương cùng các thầy cô giáo trong bộ môn kinh tế đầu tư đã giúp đỡ chúng em thực hiện bài viết này. Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kiến thức nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được những góp ý của thầy cô để bài viết hoàn thiện hơn. MỤC LỤC LƠÌ NÓI ĐẦU…………………………………………..……………………….1 Chương I: Lí luận chung về kích cầu đầu tư………….…………………………4 I. Đầu tư và cầu đầu tư………………………………………………………..4 1. Khái niệm về đầu tư……………..………………………………………4 2. Cầu đầu tư…………………..……………………………………………4 2.1. Khái niệm………………...…………………………………………….4 2.2. Các nhân tố tác động tới cầu đầu tư……………...…………………….4 2.2.1. Lợi nhuận kì vọng…………………………………………………..4 2.2.2. Lợi nhuận thực tế……………………………………………………6 2.2.3. Lãi suất tiền vay………….………………………………………….7 2.2.4. Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia………….………………..8 2.2.5. Chu kì kinh doanh…………………………………...……………...10 2.2.6. Đầu tư nhà nước……………………..…..…………………………11 2.2.7. Môi trường đầu tư……………………..……….……………………11 2.2.8. Thuế thu nhập doanh nghiệp………......……………………………12 II. Một số vấn đề về kích cầu và kích cầu đầu tư………..……......................13 1. Thế nào là kích cầu…………………..…………………………………13 1.1.Khái niệm……………………………..………………………………13 1.2. Nguồn gốc và cơ sở của chính sách…………...…………………13 1.3. Mục đích của chính sách kích cầu………………………………15 1.4. Nguyên tắc cơ bản của kích cầu…………………………………15 1.5. Điều kiện áp dụng các biện pháp kích cầu……..….…………………18 2. Kích cầu đầu tư…………………………………………………………18 2.1. Khái niêm…………..………………………………...………………18 2.2. Phân biệt kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng………..……………18 2.3. Ý nghĩa của kích cầu đầu tư……………….…………………………19 2.4. Tác động của kích cầu đầu tư……………...…………………………19 2.4.1. Tác động tích cực……………………………..……………………19 2.4.2. Tác động tiêu cực……………..……………………………………22 2.5. Nguồn vốn cho kích cầu đầu tư………...………….…………………24 2.5.1. Vốn trái phiếu chính phủ……………………...……………………24 2.5.2. Vốn ngân sách nhà nước……………………...……………………25 2.5.3. Quỹ dự trữ ngoại hối………………………….……………………25 2.5.4. In tiền……………………………………….………………………26 2.5.5. Vay nợ nước ngoài…………………………………………………26 2.5.6. Trì hoãn trả nợ…………………………..…………………………27 2.6. Các công cụ, biện pháp sử dụng………...……………………………27 2.6.1. Nhóm chính sách tiền tệ……………………….…………………27 2.6.2. Nhóm chính sách tài khóa……………………….…………………30 2.6.3. Nhóm chính sách giải pháp khác……………………...……………30 2.7. Kinh nghiệm kích cầu đầu tư trên thế giới………………………32 2.8. Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kích cầu đầu tư………..……………34 2.8.1. Độ trễ chính sách…………………………………...………………34 2.8.2. Quá trình tổ chức thực hiện chính sách……………….……………35 Chương II: Thực tiễn kích cầu đầu tư ở Việt Nam I. Thực tiễn kích cầu đầu tư trước khủng hoảng kinh tế 2007…………...……37 1. Tình hình kinh tế -xã hội Việt Nam giai đoạn 1986_2007……....……37 2. Tình hình kích cầu đầu tư của Việt Nam giai đoạn 1986_2007……..…39 II. Thực tiễn kích cầu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2007_nay……….……49 1. Khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hưởng tới Việt Nam…………….49 2. Nội dung kích cầu của một số nước trên thế giới và của Việt Nam……52 2.1. Nội dung kích cầu của một số nước trên thế giới………….…………52 2.2. Nội dung kích cầu ở Việt Nam……………….………………………55 2.2.1. Gói kích cầu thứ nhất………………….………………………….55 2.2.1.1. Nội dung cụ thể goi kích cầu…………..…………………………55 2.2.1.2. Công cụ biện pháp thực hiện……………..………………………56 2.2.1.3. Tình hình thực hiện………………………………………………61 2.2.1.4. Tác động của gói kích cầu………………..………………………62 2.2.1.5. Các vấn đề của gói kích cầu…………..…………………………71 2.2.2. Gói kích cầu thứ hai………………..………………………………75 2.2.2.1. Các quan điểm……………………………………………………75 2.2.2.2. Nội dung cụ thể gói kích cầu…………….……….………………76 2.2.2.3. Tác động của gói kích cầu số 2…………………..………………77 3. So sánh các gói kích cầu ở Việt Nam và một số nước trên thế giới78 Chương III: Giải pháp thực hiện chính sách kích cầu đầu tư hiệu quả ở Việt Nam I. Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn kích cầu đầu tư……………80 1. Huy động vốn kịp thời và hiệu quả………………………..……………80 2. Giải pháp sử dụng hiệu quả vốn kích cầu đầu tư…………..……………80 2.1. Kích cầu phải kịp thời………………………...………………………80 2.2. Phân bổ nguồn vốn hợp lí……………………..………………………81 II. Kết hợp với chính sách tiền tệ, tỷ giá, khyến khích xuất khẩu, thu hút đầu tư………………………...……………………………………….……………..82 III. Giám sát và đánh giá kết quả gói kích cầu…………….………………….83 1. Vai trò giám sát của quốc hội……………………….…………………...83 2. Đánh giá kết quả thực hiện gói kích cầu………………………………...84 IV. Một số đề xuất nhằm phát huy hiệu quả chính sách kích cầu đầu tư……..84 V. Các giải pháp kich cầu đầu tư trong dài hạn…………….…………………87 1. Giải pháp kích cầu đầu tư trong nước……………………………………87 2. Giải pháp kích cầu đầu tư nước ngoài……………………………………88 KẾT LUẬN……………….……………………………………………………89 Danh mục tài liệu tham khảo:…………………………………………..………90 CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ I. Đầu tư và cầu đầu tư 1. Khái niệm đầu tư : Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lưc đã bỏ ra để đạt đươc các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn với những hi sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. 2. Cầu đầu tư 2.1. Khái niệm: Cầu đầu tư là tất cả nhu cầu của doanh nghiệp về hàng hóa vật tư, máy móc, dịch vụ…và nguồn tài chính để duy trì hay mở rộng sản xuất của doanh nghiệp đó trong một thời gian nhất định. 2.2. Các nhân tố tác động tới cầu đầu tư Nhu cầu đầu tư của các cá nhân, các doanh nghiệp và của chính phủ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế bởi đầu tư là một bộ phận chính cấu thành nên tổng cầu. Vì vậy cần xem xét kĩ lưỡng các yếu tố tác động đến cầu đầu tư dưới đây để thấy được yếu tố nào tác động ít, yếu tố nào tác động nhiều và xu hướng tác động của các yếu tố như thế nào để đưa ra chính sách kích cầu phù hợp và đem lại hiệu quả mong muốn cho nhà đầu tư. 2.2.1. Lợi nhuận kì vọng 2.2.1.1. Lí thuyết của Keynes: - Lợi nhuận kỳ vọng là khoản lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, hi vọng sẽ thu được trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư. Theo lí thuyết của Keynes, lợi nhuận kì vọng là 1 trong 2 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết đầu tư của doanh nghiệp. Nếu lợi nhuận kì vọng lớn, nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn để kinh doanh. Lợi nhuận cao sẽ kích thích nhu cầu đầu tư, ngược lại nếu lợi nhuận kì vọng thấp và nhỏ hơn tiền lãi thu được khi gửi tiền vào các ngân hàng thì các nhà đầu tư sẽ không bỏ tiền vào sản xuất kinh doanh mà thay vào đó, họ gửi tiền vào ngân hàng. - Mặt khác, theo ông thì hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ suất đầu tư của số tiền đầu tư mới. Do đó vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốn giảm dần. Điều này có thể giải thích do các nguyên nhân sau: Trước hết, khi tăng chi tiêu đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư sẽ tăng. Cầu về vốn tăng dẫn đến sự gia tăng của lãi suất cho vay (giá của đồng vốn). Nếu các yếu tố khác không đổi thì khi đó, lợi nhuận giảm nên tỷ suất lợi nhuận biên giảm. Thứ hai, xuất phát từ phương diện cung sản phẩm cho thị trường. Khi gia tăng đầu tư và kết quả đầu tư đã đi vào hoạt động, phát huy kết quả trong thực tiễn thì cung sản phẩm sẽ tăng, nghĩa là có nhiều sản phẩm được cung ứng vào nền kinh tế. Cung tăng, giá sản phẩm sẽ giảm, chi phí sản xuất xem như ổn định, lúc đó tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư giảm. Thứ ba, xuất phát từ năng suất lao động. Khi gia tăng vốn đầu tư vào sản xuất thì sự gia tăng về kĩ thuật, công nghệ, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho mỗi lao động cũng giảm dần, nghĩa là khi lượng vốn còn ít thì mỗi sự gia tăng của 1 đơn vị vốn sẽ làm cho năng suất lao động gia tăng nhiều hơn so với khi lượng vốn nhiều. Năng suất lao động biên giảm dần dẫn đến lợi nhuận biên của vốn cũng giảm dần. Thứ tư, khi quy mô vốn đầu tư tăng, hiệu quả biên của vốn giảm dần nên các nhà đầu tư chỉ tiếp tục đầu tư cho tới khi hiệu quả biên của vốn còn lớn hơn mức lãi suất vốn vay trên thị trường vốn. Khi hiệu quả biên của vốn thấp hơn lãi suất vốn vay, nghĩa là lợi nhuận tăng thêm thấp hơn chi phí tăng thêm thì các nhà đầu tư sẽ ngừng việc đưa thêm vốn vào mở rộng sản xuất. Điểm cân bằng là điểm hiệu quả biên của vốn bằng với lãi suất cho vay của ngân hàng. - Theo Keynes, tỉ suất lợi nhuận là đại lượng rất khó xác định. Nhưng chính điều đó lại thúc đẩy các nhà đầu tư quyết định bỏ tiền đầu tư. Do lợi nhuận khó xác định, có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp, thậm chí có thể âm nên kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn với kì vọng có thể thu được khoản lợi nhuận cao đó. Tuy nhiên, bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với những rủi ro có thể xảy ra. Đó là tính 2 mặt của hoạt động đầu tư, chấp nhận rủi ro để thu được lợi nhuận kì vọng. 2.2.1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kì vọng + Cung – cầu hàng hóa: Trong các giai đoạn của 1 dự án thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư được xem là khâu quan trọng nhất. Việc xác định cung cầu hàng hóa cho sản phẩm của dự án có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Nghiên cứu cầu hàng hóa để đảm bảo sản phẩm bán ra có thể tiêu thụ được. Cầu hàng hoá trước hết phụ thuộc vào sức mua chung của người dân, đó là tỷ lệ tiêu dùng (C) chia cho thu nhập khả dụng của từng người dân (Yd) với tổng số dân cư của địa phương hay của một quốc gia. Như vậy cầu hàng hóa phụ thuộc vào thu nhập, mức sống, thói quen tiêu dùng và thị hiếu của người dân. Cung hàng hóa là mức độ và khả năng đáp ứng nhu cầu trong 1 thời điểm nhất định. Trước hết nó phụ thuộc vào khả năng sản xuất xã hội, tức là khả năng cung ứng và kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất như lao động, vốn, công nghệ...Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào hàng nhập khẩu và khả năng phân phối, lưu thông hàng hóa. + Mức độ rủi ro: Một trong những đặc điểm của đầu tư phát triển là thời kì đầu tư và thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài, nguồn vốn chi cho đầu tư khá lớn, nghĩa là kèm theo với mức độ rủi ro cao. Từ đó nó ảnh hưởng lớn đến yếu tố lợi nhuận kì vọng. Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro là rất rộng, ví dụ như những thay đổi không lường trước được của giá cả, công nghệ,… Vấn đề là khả năng quản trị rủi ro của doanh nghiệp như thế nào, mức độ phát triển của các dịch vụ hạn chế rủi ro (bảo hiểm, tín dung,..) và quan trọng nhất là sự ổn định của môi trường đầu tư cả về kinh tế, xã hội và chính trị. + Các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất: Với mỗi dự án, khi nhà đầu tư quyết định bỏ vốn đầu tư thì họ phải xác định được các yêu tố đảm bảo cho quá trình thực hiện đầu tư cũng như vận hành khai thác kết quả của dự án sau này, đó bao gồm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Cụ thể là: - Các điều kiện về nguồn nhân lực: bao gồm cả về chất lượng và số lượng. Khi xem xét nguồn nhân lực ta cần chú ý về khả năng dự báo tốc độ tăng dân số, về tiền lương, về trình độ học vấn và văn hóa của họ… - Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển: đó chính là khả năng huy động vốn trên thị trường tài chính và tỷ lệ phân bổ vốn cho hoạt động đầu tư. - Về nguồn nguyên nhiên liệu đầu vào: phụ thuộc vào các chính sách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tốc độ đền bù giải phóng mặt bằng, các mối liên hệ giữa các ngành kinh tế…. - Về trình độ công nghệ: phụ thuộc vào các quy định về chuyển giao công nghệ, khả năng nghiên cứu ứng dụng của đội ngũ khoa học trong nước. Nếu là nhập công nghệ từ nước ngoài thì còn phụ thuộc vào trình độ của đội ngũ cán bộ khoa học trong nước: họ tiếp thu, triển khai công nghệ đó như thế nào? - Về cơ sở hạ tầng: phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước, do đó phụ thuộc vào quy hoạch vùng và khả năng ngân sách. + Thuế: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ tái phân phối của cải xã hội vừa là công cụ điều tiết phân bổ vốn giữa các ngành, vùng, miền. Thuế ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp nên các ưu đãi về thuế thường được sử dụng như 1 biện pháp khuyến khích đầu tư. Vấn đề ở đây là phải xây dựng một chính sách thuế phù hợp. Bởi nếu ưu đãi quá mức sẽ gây thất thu ngân sách và giảm đầu tư công cộng. Ngược lại, một mức thuế cao sẽ giảm tính cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước cũng như làm gia tăng tình trạng trốn thuế hay buôn lậu. 2.2.2. Lợi nhuận thực tế Liên quan đến mối quan hệ giữa đầu tư và lơi nhuận thực tế ta có thể xem xét đến “lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ”,theo thuyết này thì qui mô đầu tư tỷ lệ thuận với lợi nhuân thưc tế của doanh nghiệp thể hiện qua phương trình: I = f (lợi nhuận thực tế) Do đó, dự án nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn. Vì lợi nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao hơn. Nguồn vốn có thể huy động cho đầu tư bao gồm: lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu. Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội bộ của doanh nghiệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào phá sản. Do đó việc đi vay không phải là hấp dẫn, trừ khi có ưu đãi. Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn, còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp áp dụng khi hiệu quả của dựa án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽ lớn hơn chi phí đã bỏ ra. Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ đầu tư nội bộ thì doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn. 2.2.3. Lãi suất tiền vay Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tư cách là chi phí sử dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu tài chính của dự án. Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất phản ánh giá của khoản tiền vay mượn đó. Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư và ngược lại. Cần phân biệt các loại lãi suất: lãi suất cơ bản (do ngân hàng nhà nước quy định, các tổ chức tài chính không được cho vay với lãi suất lớn hơn 150% so với lãi suất cơ bản); lãi suất cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng, cho vay đầu tư tài chính, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu. Sự chênh lệch giữa các loại lãi suất góp phần điều tiết sự phân bổ vốn trong nền kinh tế. Lãi suất danh nghĩa phụ thuộc trước hết vào cung – cầu vốn vay trên thị trường. Cung vốn chính là tổng tiết kiệm quốc dân, được xác định bằng tổng thu nhập quốc dân trừ đi tiêu dùng. Lãi suất được điều chỉnh để tạo ra sự điều tiết của ngân hàng nhà nước thông qua chính sách tiền tệ như lãi suất cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước, nếu tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài thì chính phủ phải đi vay để bù đắp thâm hụt, hơn nữa thâm hụt ngân sách còn làm cho tiết kiệm quốc gia giảm khiến cho cung vốn vay giảm đẩy lái suất tăng lên làm cho cầu đầu tư giảm xuống. Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào tỉ lệ lạm phát thông qua biểu thưc sau: +Nếu tỷ lệ lạm phát π >=10% :  +Nếu tỷ lệ lạm phát π <=10%: r =i – π Trong đó : r là lãi suất thực tế; i là lãi suất danh nghĩa; π là tỷ lệ lạm phát; Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IRR) của dự án lớn hơn lãi suất thực tế. Do đó khi lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn, nhu cầu đầu tư sẽ giảm. Đồ thị: Tuy nhiên lãi suất thấp hơn thì sẽ có nhiều dự án có IRR thấp được triển khai, tức là các dự án ít hiệu quả, độ rủi ro cao. Khi đó nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh do tổng đầu tư tăng nhưng kết cục có thể dẫn đến lạm phát cao, chính phủ buộc phải thực thi các biện pháp kiểm soát tiền tệ, các dự án có hiệu quả thấp sẽ bị lỗ nếu tiếp tục vay vốn, nhiều dự án sẽ bị phá sản, nền kinh tế lại rơi vào suy thoái. Ngoài ra nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất thế giới thì có thể vốn đầu tư trong nước sẽ chảy ra nước ngoài do đó không làm tăng tổng đầu tư trong nước. Trên thực tế có trường hợp doanh nghiệp vẫn tăng qui mô vốn đầu tư khi lãi suất cho vay ở mức cao. Đó là những trường hợp mà doanh nghiệp nhận thấy được rằng mở rộng qui mô sản xuất sẽ thu được lợi nhuận cao hoặc những hoạt động kinh doanh mạo hiểm với mức độ rủi ro cao hoặc những doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng ít vốn vay hơn nên tác động của lãi suất đến quyết định đầu tư là không lớn dẫn đến họ vẫn quyết định đầu tư. Và cũng có những trường hợp khi lãi suất cho vay thấp nhưng doanh nghiệp vẫn không tăng qui mô vốn đầu tư vì họ cho rằng mở rộng qui mô vốn đầu tư không làm tăng lợi nhuận cũng như việc tăng qui mô cũng làm tăng độ rủi ro lên. Do đó việc lãi suất tăng cao hay giảm xuống luôn luôn gây bất lợi cho nền kinh tế cho nên việc điều hành chính sách của nhà nước cũng như ngân hang sao cho lãi suất giữ ở mức ổn định vừa kích thích đầu tư vừa kiềm chế được lạm phát, phát triển nền kinh tế. 2.2.4. Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia Đây là một chỉ tiêu vĩ mô ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều yếu tố khác. - Nhu cầu về sản lượng sản phẩm hay việc thay đổi sản lượng là nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm qui mô vốn đầu tư. Ví dụ: Khi GDP tăng nhanh sẽ làm tăng thu nhập của người dân, do đó vừa kích thích tiêu dùng lại vừa làm tăng tiết kiệm. Khi tiêu dùng tăng thì tổng cầu cũng tăng; tiết kiệm tăng thì cung vốn vay tăng làm giảm lãi suất, kích thích đầu tư ( Do AD = C +I + G + NX - M) Hơn nữa, khi toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo ra tâm lí hướng về đầu tư. Quá trình này sẽ tạo ra hiệu ứng “số nhân”, tức là: một sự tăng thêm ban đầu trong sản lượng sẽ làm đầu tư và sản lượng tiếp tục tăng thêm nhiều lần. - Tốc độ tăng sản lượng và tốc độ tăng vốn đầu tư không giống nhau, vấn đề này được đề cập trong lí thuyết gia tốc vốn đầu tư . Theo lý thuyết này, để sản xuất ra một đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượng vốn đầu tư nhất định. Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thể được biểu diễn theo công thức: x = K/Y (*) Trong đó: K: vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu; Y: sản lượng tại thời kì nghiên cứu; x: