Đề tài Thực trạng du lịch đền chùa ở Hà Nội mở rộng

Du lịch đã ra đời từ rất lâu. Trong đó loại hình du lịch đền chùa cũng đã tồn tại trong đời sống tâm linh của người Việt Nam từ rất xa xưa. Tuy nhiên, trước đây, người ta chỉ quan niệm, đi đền chùa là để cầu may, cầu lộc. là để thoả mãn đời sống tâm linh của mình. Trong thời gian gần đây, đền chùa mới được coi là một điểm du lịch, việc đi đền đi chùa không còn là thuần tuý chỉ là khấn vái, cầu may mà còn đồng nghĩa với việc đi du lịch. Do vậy, tuy du lịch đền chùa không còn là mới nhưng hiện nay nó mới thực sự mang dáng dấp của một ngành du lịch, mới được quan tâm phát triển và trùng tu tôn tạo. Đặc biệt, cùng với việc mở rộng địa giới hành chính Hà Nội, vấn đề cải tạo đền chùa ra sao, quy hoạch như thế nào cho hợp lý. cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Vì vậy, với bài thảo luận mang chủ đề: “Định hướng phát triển loại hình du lịch đền chùa tại Hà Nội mở rộng”, nhóm em muốn đưa một cái nhìn mới về loại hình du lịch đền chùa đồng thời cũng xin góp một số ý kiến để phát triển loại hình này hơn nữa. Do việc tìm hiểu còn hạn chế, bài viết còn nhiều sơ suất, rất mong được cô góp ý để đề tài thảo luận thêm hoàn chỉnh.

doc24 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 20/05/2013 | Lượt xem: 3171 | Lượt tải: 24download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng du lịch đền chùa ở Hà Nội mở rộng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
STT Tên Phân công công việc Phân loại Ghi chú 1. Phạm Thanh Hương 2. Đoàn Thị Phương Anh 3. Vũ thị Vân Anh 4. Đàm Thị Bích 5. Phạm Thị Chi 6. Phạm Văn Chinh 7. Nguyễn Đức Chiến 8. Phùng Gia Chiến 9. Nguyễn Cao Cường LỜI MỞ ĐẦU Du lịch đã ra đời từ rất lâu. Trong đó loại hình du lịch đền chùa cũng đã tồn tại trong đời sống tâm linh của người Việt Nam từ rất xa xưa. Tuy nhiên, trước đây, người ta chỉ quan niệm, đi đền chùa là để cầu may, cầu lộc... là để thoả mãn đời sống tâm linh của mình. Trong thời gian gần đây, đền chùa mới được coi là một điểm du lịch, việc đi đền đi chùa không còn là thuần tuý chỉ là khấn vái, cầu may mà còn đồng nghĩa với việc đi du lịch. Do vậy, tuy du lịch đền chùa không còn là mới nhưng hiện nay nó mới thực sự mang dáng dấp của một ngành du lịch, mới được quan tâm phát triển và trùng tu tôn tạo. Đặc biệt, cùng với việc mở rộng địa giới hành chính Hà Nội, vấn đề cải tạo đền chùa ra sao, quy hoạch như thế nào cho hợp lý... cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Vì vậy, với bài thảo luận mang chủ đề: “Định hướng phát triển loại hình du lịch đền chùa tại Hà Nội mở rộng”, nhóm em muốn đưa một cái nhìn mới về loại hình du lịch đền chùa đồng thời cũng xin góp một số ý kiến để phát triển loại hình này hơn nữa. Do việc tìm hiểu còn hạn chế, bài viết còn nhiều sơ suất, rất mong được cô góp ý để đề tài thảo luận thêm hoàn chỉnh. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN . Khái niệm chung. Du lịch là một hoạt động của nhóm người hay cá nhânnào đó phụ thuộc vào chuyến đi. Dưới góc độ một nhà kinh tế học thì khái niệm du lịch phân ra thành hai loại: - Tư cách là người đi du lịch thì du lịch và việc tiêu dùng trực tiếp các dịch vụ hàng hoá của một cá nhân khi việc tiêu dùng có liên quan tới việc đi lại và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên để nghỉ ngơi, tìm hiểu nền văn hóa và các nhu cầu khác. - Với tư cách là nhà tổ chức doanh nghiệp thì du lịch là việc sản xuất ra các hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp kinh doanh du lịch nhằm đảm cảo việc đi lại, lưu trú, ăn uống, giả trí cho khách du lịch với mục đích thoả mãn đầy đủ nhất nhu cầu vật chất tinh thần đó. Khái niệm loại hình du lịch. Loại hình du lịch biểu hiện những nét đặc trưng của một nhóm khách du lịch. Tất cả khách du lịch đều không giống nhau do vậy cũng tồn tại nhiều loại hình du lịch khac nhau. 1.1.2Khái niệm loại hình du lịch đền chùa. Thoả mãn nhu cầu tín ngưõng cũng như nhu cầu tham quan của khách du lịch, nó thể hiện qua các cuộc thăm viếng tới các đền chùa, đây là loại hình du lịch khá lâu đời nhưng lại là loại hình du lịch khá mới tại Hà Nội mở rộng. 1.2 Phân loại các loại hình du lịch 1.2.1 Căn cứ vào mục đích chuyến đi Mục đích chuyến đi là động lực thúc đẩy hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người. Theo tiến sĩ Harssel có mười loại hình du lịch phổ biến theo cách phân chia này : Du lịch thiên nhiên: Hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức phong cảnh đẹp và đời sống động thực vật hoang dã. Du lịch văn hóa : thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật… của điểm đến. Họ sẽ viếng thăm các viện bảo tàng, nghỉ tại các quán trọ đồng quê, tham dự các lễ hội truyền thống và các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian của địa phương. Du lịch xã hội: hấp dẫn những người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với những người khác là quan trọng nhất. Du lịch hoạt động: Thu hút du khách bằng một hoạt động được xác định trước và thách thức phải hoàn thành trong chuyến đi, trong kì nghỉ của họ. Một số du khách muốn thực hành và hoàn thiện vốn ngoại ngữ của mình khi đi du lịch nước ngoài, một số lại muốn thám hiểm khám phá cấu tạo địa chất của một khu vực nhất định. Du lịch giải trí: Nảy sinh từ nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Loại hình này thu hút những người mà lý do chủ yếu của họ đối với một chuyến đi nghỉ là sự hưởng thụ và tận hưởng kỳ nghỉ. Du lịch thể thao: Thu hút những người ham mê thể thao để nâng cao thể chất, sức khỏe. Tham gia chơi các môn thể thao như: quần vợt, đánh gôn, bóng chuyền bãi biển, lướt sóng ….. Du lịch chuyên đề: Liên quan đến một nhóm nhỏ, ít người đi du lịch với cùng một mục đích chung hoặc mối quan tâm đặc biệt nào đó chỉ đối với riêng họ, thu hút những người kinh doanh, sinh viên thực tập, nghiên cứu. Du lịch tôn giáo: Thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo phái khác nhau. Đây là loại hình du lịch lâu đời nhất và vẫn còn phổ biến đến ngày nay. Du lịch sức khỏe: hấp dẫn những người tìm kiếm cơ hội cải thiện điều kiện thể chất của mình. Nơi điển hình là các khu an dưỡng, nghỉ mát ở vùng núi cao hoặc ven biển,các điểm có suối nước nóng hoặc nước khoáng. Du lịch dân tộc học: Đặc trưng hóa cho những người quay trở về nơi quê cha đất tổ tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của quê hương, dòng dõi gia đình hoặc tìm kiếm khôi phục các truyền thống văn hóa bản địa. Có tác giả phân loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi làm hai nhóm chính: Nhóm có mục đích du lịch thuần túy: bao gồm các loại hình du lịch tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá. Nhóm có mục đích kết hợp du lịch: bao gồm các loại hình du lịch tín ngưỡng, học tập nghiên cứu, hội họp, kinh doanh…. 1.2.2 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: Có các loại hình du lịch sau: Du lịch quốc tế liên quan đến các chuyến đi vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ biên giới quốc gia của khách du lịch. Loại hình du lịch này tạo ra dòng chảy ngoại tệ giữa các quốc gia, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của quốc gia. Được phân chia làm hai loại nhỏ: Du lịch quốc tế đến là chuyến viếng thăm của những người từ quốc gia khác Du lịch ra nước ngoài là chuyến đi của cư dân trong nước đến một nước khác. Du lịch trong nước là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ Du lịch nội địa bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến Du lịch quốc gia bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài. 1.2.3 Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với điểm đến của du lịch Có các loại hình du lịch sau: Du lịch thám hiểm: bao gồm các nhà nghiên cứu, học giả, người leo núi và những nhà thám hiểm đi theo các nhóm với số lượng nhỏ. Họ hoàn toàn chấp nhận các điều kiện địa phương và hầu như không tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ du lịch. Loại hình này ảnh hưởng không đáng kể tới văn hóa xã hội kinh tế và môi trường của điểm đến. Du lịch thượng lưu: Chuyến đi của tầng lớp thượng lưu đến những nơi độc đáo để giải trí, tìm kiếm sự mới lạ. Số lượng khách của nhóm này tương đối ít, có nhu cầu về những sản phẩm chất lượng cao và không đàn hồi theo giá. Du lịch khác thường: bao gồm những du khách không giàu có như tầng lớp thượng lưu, họ thích đến những nơi xa xôi hoang dã, quan tâm đến những nền văn hóa sơ khai hoặc tìm kiếm những phần bổ sung thêm trong một tour tiêu chuẩn. Du lịch đại chúng tiền khởi: Một dòng khách du lịch ổn định đi theo nhóm nhỏ hoặc cá nhân đến những nơi an toàn, phổ biến, khí hậu phù hợp. Đây là sự mở đầu và phát sinh hình thức du lịch đại chúng sau này. Du lịch đại chúng: Một lượng lớn khách du lịch tạo thành dòng chảy liên tục tràn ngập các khu nghỉ mát nổi tiếng ở châu âu hoặc Hawaii vào các mùa du lịch. Loại hình du lịch này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển du lịch ở các quốc gia gửi khách lẫn các quốc gia đón khách các điểm đến du lịch. Du lịch thuê bao: Đây là loại hình du lịch phát triển rộng rãi, thị trường phát triển đến các tầng lớp có thu nhập trung bình và thấp nên có dung lượng lớn. nó hoàn toàn phụ thuộc vào các hoạt động thương mại trong kinh doanh du lịch. 1.3 Sự biến đổi các loại hình du lịch. Ý nghĩa của các động cơ và loại hình du lịch có sự khác nhau và biến đổi theo thời gian. Với từng thời kỳ khác nhau thì loại hình du lịch có sự thay đổi khác nhau. Loại hình du lịch thay đổi theo các thời kỳ sau. Trước thế kỷ XVIII, rất ít khách du lịch vì mục đích giải trí, đa số họ đi vì mục đích thương mại, hành hương hoặc các mục đích tín ngưỡng học tập và chữa bệnh.Ở La Mã cổ đại và trung đại, du lịch giải trí hạn chế trong các chuyến tham quan trong ngày với khoảng cách ngắn để tham dự các hoạt động như hội chợ, kễ hội thể thao hoặc giải trí tiêu khiển. vì vậy nhu cầu giải trí và tiêu khiển thường ở mức độ ít và sơ khai. Trong thế kỷ XVIII, các chuyến đi du lịch hảo hạng ở Châu Âu trở nên thịnh hành và mốt. Khách tham gia vào vhuyến đi này thuộc tầng lớp thượng lơu va trẻ tuổinhằm mục đích giáo dục và giải trí. Tuy nhiên phần chủ yếu trong du lịch này vẫn là mục đích thương mại.Chủ yếu những chuyến đi này thường được nhà nước hoặc các nàh buôn lớn đài thọ nhằm giảm bớt sự rủi ro mạo hiểm trong buôn bán thương mại. Du lịch chữa bệnh hoặc vì các lý do sức khoẻ đến giai đoạn này thì phổ biến trong giới quý tôc, hoàng gia. Đến thế kỷ XIX, việc phân phối thu nhập cho nhu cầu du lịch với tư cách “nhu cầu cuối cùng” và việc mua sắm các sản phẩm để phục vụ nhu cầu cá nhân của con người được diễn ra một cách thận trọng. Sự phát triển kinh tế từ sau cuộc cách mạng công nghiệp tạo điều kiện cho du lịch đại chúng phát triển cả về cung và cầu. Sự phát triển của công nghiệp làm cho nhiều đại gia đình bị chia nhỏ tới song ở các khu vục trung tâm làm cho hu cầu thăm quê hương tăng lên. Loại hình du lịch này vẫn phát triển và trở thành bộ phận quan trọng với du lịch quốc tế tại nhiều quốc gia. Đầu thế kỷ XX, du lịch nghỉ ngơi và giải trí đại chúng trở thành bộ phận lớn nhất của du lịch toàn cầu. Tầu hoả và máy bay là những phương tiện vận chuỷen chủ yếu, đồng thời sơ hữu cá nhân các phương tện đường bộ như ôtô, xe máy làm tăng khả năng du lịch theo nhóm nhỏ. Một số phương tiện vạn chuyển cổ điển trước đây trở thành sự hấp dẫn với du khách. Nửa cuối thế kỷ XX có một số thay đổi quan trọng và đáng chú ý. + Do sự phát triển về số lượng và đa dạng hoá các công ty theo vị trí, sự bùng nổ về hiệp hội giữa các nước và quốc tế đã làm tăngkhả nhanh nhu cầu về hội họp,loại hình du lịch hội họp trở nên phát triển nhanh nhất trong 30 năm trở lại đây. + Khả năng thương mại của các nhà cung ứng du lịch ngày càng tăng lên đã tạo ra loại hình du lịch có định hướng cung Theo thống kê của tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) trên phạm vi toàn cầu có 40-45% là du lịch nghỉ dưỡng, 40% du lịch công việc, 8% du lịch thăm than nhân bạn bè kết hợp với kỳ nghỉ hay đi công việc, 5-10% là loại hình du lịch khác. Sang thế kỷ XXI, sự phát triển của nền sản xuất xã hội, sự hội nhập quốc tế đã thúc đảy và phát triển nhiều loại hình du lịch mới như: du lịch thể thao,mua sắm và một số loại hình du lịch khác.Bên cạnh đó, các loại hình du lịch đặc biệt mới xuất hiện với số người tham gia ít như du lịch mặt trăng, vũ trụ, du lịch đại dương...dần dần trở nên phổ biến. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH ĐỀN CHÙA Ở HÀ NỘI MỞ RỘNG 2.1. Thực trạng chung Lễ hội ở nước ta thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế... Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân. Bởi phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như: thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Định), thi bắn nỏ, ném còn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc) v.v...ở các lễ hội của bà con dân tộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu được coi như tiêu biểu nhất. Trong lễ hội này, ngoài nghi lễ đâm trâu hiến tế hấp dẫn, ly kỳ còn có trò múa khiên, ném lao, đấu gậy. Các trò vui chơi giải trí ở lễ hội còn bao gồm những hoạt động văn hoá, xã hội khác như thi hát Quan họ, thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu... Đặc biệt nhất là thi đánh đu, không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà còn là một trò vui chơi dân dã trong những ngày Tết ở khắp các làng xã. Ngày xuân, người ta thường đi chơi đông hơn bình thường. Kẻ đi xa, người đi gần, trang phục lộng lẫy, hân hoan phấn khởi làm cho không khí đầu xuân càng thêm rạo rực. Có lẽ ai cũng muốn dành ít thời gian để vãn cảnh thiên nhiên đất trời, tận hưởng bầu không khí trong lành với mùa xuân tươi đẹp. Họ đến với các di tích lịch sử, danh thắng, đền, chùa để tham dự các lễ hội truyền thống. Chỉ tính riêng tháng Giêng cũng đã có biết bao nhiêu lễ hội tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc, những người có công chống giặc ngoại xâm như: Hội Đống Đa, kỷ niệm chiến thắng của vị anh hùnh dân tộc Nguyễn Huệ và tưởng niệm các chiến sĩ vong trận trong đại chiến thắng Đống Đa vào ngày 5-1. Hội đền An Dương Vương (Cổ Loa Hà Nội) ngày 6-1 tưởng niệm Thục Phán người có công dựng nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa; Hội đền Cửa Suốt (Quảng Ninh) tưởng niệm Trần Quốc Toản có công đánh đuổi giặc Nguyên, hội đền Hạ Lôi (Mê Linh) tưởng niệm Hai Bà Trưng, hội "Cơm hòm" ở Phổ Yên, Thái Nguyên ngày 6 tháng Giêng kỷ niệm người đàn bà vô danh thời Hậu Lê có công bày mưu đánh giặcMinh... Cũng vào thời điểm này, du khách bốn phương về hội Hoa Vị Khê (Nam Định) từ ngày 20 đến ngày 30 tháng Giêng để chiêm ngưỡng hoa, cây cảnh của làng nghề truyền thống Vị Khê, hội du xuân lễ bái cầu mong một năm mới thịnh vượng ở núi Bà Đen (Tây Ninh). Đặc biệt vào mùa này, du khách đổ lên núi Yên Tử dự lễ hội chùa, vãn cảnh hùng vĩ của đất nước và thử thách lòng thành của mình. Đến Hòa Bình để được xem hội Chơi hang, hội Xên bản, Xên mường của người Thái; lên Sơn La cùng thả hồn vào những cánh rừng ban trắng trong ngày hội hoa ban, đi chơi núi, du thuyền độc mộc trên thắng cảnh hồ Ba Bể. Ngoài ra, người Tày, Nùng Tây Bắc còn có hội Lồng Tồng, người Dao có hội Tết Nhảy, người Mông có hội Sắc bùa, hội chơi núi chơi xuân, người Khơ me Nam Bộ có hội mừng năm Mới... Sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc nhưng cũng vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, du lịch đền chùa hiện nay gặp phải rất nhiều vấn đề tiêu cực. Đó là do cơ sở vật chất, quy hoạch lễ hội, hay cả vì ý thức của những người tham gia lễ hội... Vì hầu hết những ngôi chùa đều đã được xây dựng từ rất lâu nên đã dần bị xuống cấp và cần được tu bổ, nhưng trong quá trình tu bổ các nhà quản lý đã không chú trọng đến những kiểu cấu trúc đặc trưng của ngôi chùa mà chỉ tiến hành cải tạo những phần hư hỏng nên đã đánh mất đi những dấu ấn về kiến trúc và vẻ đẹp cổ kính của những nôi chùa hàng ngàn năm tuổi. Ở một số ngôi chùa còn xảy ra tình trạng là người ta tiến hành xây dựng những ngôi chùa giả bên cạnh những ngôi chùa hàng ngàn năm nhằm thu tiền du khách, điều này đã làm ảnh hưởng xấu đến những điểm đến du lịch tín ngưỡng này. Công tác quản lý vẫn còn nhiều vấn đề, khi mà những người quản lý dường như đã không thể kiểm soát hoặc bỏ ngơ cho những hộ kinh doanh và những người dân địa phương tự ý trong việc trèo kéo khách thăm quan, tăng giá những mặt hàng thiết yếu. Điều này cũng sẽ gây những ảnh hưởng rất xấu đến cảnh quan của những ngôi chùa. Ngoài ra phải kể đến ý thức người đi lễ chùa ngày càng kém đi. Không ít lễ hội - diễn ra từ Bắc chí Nam đang bị "biến tướng", đánh mất ý nghĩa ban đầu, trở thành một nơi nhếch nhác, hỗn loạn để "buôn thánh bán thần", kiếm chác lợi nhuận... Người ta có thể dễ dàng bắt gặp nạn chèo kéo du khách đổi tiền lẻ cúng bái ở đền Hùng (nơi đặt đền thờ Quốc tổ), chùa Tây phương, chùa Thầy (Hà Nội), rồi chùa Đồng (Yên Tử)... Tiền lẻ được rải vô tội vạ khắp đình chùa miếu mạo ấy, thậm chí được nhét lung tung vào các pho tượng thánh, la hán, bồ tát... Đặc biệt, ở đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), nạn sắp lễ bằng tiền đã là một công nghệ. Đường dẫn vào đền dày đặc các bảng quảng cáo đổi tiền, bán phẩm vật dâng cúng. Chưa hết, đường lên động Hương Tích cũng bị vây bủa bởi nạn chém chặt khi du khách buộc phải thuê chiếu nghỉ tạm trên đường đi. Rừng trúc ở Yên Tử bị "tàn sát dã man" để lấy măng bán cho khách thập phương. Vậy đó! Nơi linh thiêng đã bị "thương mại hóa" thành nơi bán mua ồn ào, bát nháo, lừa lọc, chửi bới... lẫn nhau. Những năm gần đây đầu xuân có nhiều lễ hội ở làng, đình, chùa, đền... rất đông. Tuy nhiên, việc tổ chức lễ hội chủ yếu là do hội làng, hội đình, hoặc một nhóm người đứng ra tổ chức, mà ít có sự tham gia của Nhà nước, hay chính quyền địa phương. Do việc tổ chức tự phát như vậy nên một số nơi, lễ hội còn lộn xộn, tốn kém, hoặc thậm chí còn mang màu sắc mê tín, dị đoan (lên đồng, bói tóan, đốt vàng mã...). Bên cạnh đó, nhân dịp những ngày lễ hội, không ít những đối tượng thanh, thiếu niên (nhất là ở các vùng nông thôn) còn sa vào món cờ bạc, đỏ đen, gây mất trật tự, an toàn xã hội... Cuộc sống đã ngày càng gấp gáp hơn, không ít người đã coi những cuộc chơi xuân là những chuyến đi cầu lộc may mắn cho cả một nǎm làm ǎn sắp tới, do vậy ở những đền, chùa có tiếng như Đền bà Chúa Kho (Bắc Ninh), Chùa Hương (Hà Tây), Phủ Tây Hồ (Hà Nội), Bia Bà... bên cạnh những gương mặt thanh thản hiếm hoi là những bà, những anh, những chị nét mặt đầy toan tính và hy vọng với những mâm lễ đầy tiền, vàng lễ, bia 333, thuốc lá 555, thậm chí có cả những chai rượu ngoại thay thế cho loại rượu trắng quê mùa... Rõ ràng những vấn đề trên là những vấn đề đáng báo động của việc du lịch đền chùa. Thực trạng này là chung cho cả nước, vậy thực trạng việc du lịch đền chùa ở miền Bắc, cụ thể là Hà Nội mở rộng thì có những vấn đề gì? 2.2. Thực trạng du lịch đền chùa tại Hà Nội mở rộng 2.2.1. Thực trạng một số đền chùa nổi tiếng ở Hà Nội mở rộng Xã hội ngày càng phát triển. Con người có nhu cầu ngày càng cao hơn về mọi lĩnh vực. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, dân chúng ngày càng quan tâm hơn đến việc đi lễ đầu năm, cầu tài cầu lộc. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, các đền chùa nổi tiếng không ít đồng nghĩa với việc lượng người thường xuyên đi chùa chiền cũng tăng lên. Có thể kể ra những đền chùa rất nổi tiếng ở Hà Nội, đặc biệt việc sáp nhập hoàn toàn Hà Tây cũ cũng đã đưa thêm danh sách nhiều chùa chiền vào địa bàn Hà Nội như: Chùa Hà, chùa Trấn Quốc, chùa Quán Sứ, phủ Tây Hồ, chùa Tây Phương, chùa Hương... Đây có thể nói là tín hiệu mừng tuy nhiên cũng không ít những vấn đề bất cập, những nỗi lo làm cho người đi lễ chưa chắc đã thảnh thơi. Từ nội thành… Nằm ở khu vực trung tâm buôn bán sầm uất của 36 phố phường của kinh đô Thăng Long xưa, chùa Vĩnh Trù ra đời khoảng thế kỷ XIX. Năm 1950, chùa được trùng tu lớn, xây thêm nhà giữa và nhà khách phía ngoài. Chùa vẫn còn giữ lại một số di vật: sắc phong, ngai thờ bài vị, tượng Phật, câu đối… và những đồ đồng có giá trị nghệ thuật cao. Trong chiến chống thực dân Pháp, chùa Vĩnh Trù được chọn làm cơ sở của cuộc chiến đấu và cũng là địa điểm cứu thương bệnh binh… Chùa Vĩnh Trù đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (trước đây) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa và là một điểm đến trong tuyến tham quan du lịch khu phố cổ Hà Nội. Hiện nay, khuôn viên của chùa bị một số người dân chiếm dụng làm nơi giữ xe, bán hoa, quán cơm, thậm chí mở cả…quán thịt chó…gây nên cảnh nhếch nhác, mất vẻ tôn nghiêm chốn linh thiêng. Tình trạng trên diễn ra đã khá lâu và người dân xung quanh chùa đã nhiều lần phản ánh nhưng chính quyền sở tại vẫn chưa tìm ra biện pháp hữu hiệu để can thiệp. Chùa Bộc nằm trên phố chùa Bộc sầm uất cũng trong cảnh tương tự. Chùa Bộc vốn được dựng để thờ Phật, nhưng vì chùa tọa lạc sát một chiến trường của nghĩa
Luận văn liên quan