Đề tài Tìm hiểu 3 vụ việc có tranh chấp về quyền thừa kế quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên địa bàn thành phố Hà Nội

Ngày nay, vấn đề tranh chấp đất đai không chỉ diễn ra đơn thuần là các mối quan hệ bình thường mà nó còn diễn ra với những người có quan hệ huyết thống, thậm chí xu hướng tranh chấp của mối quan hệ này ngày càng phổ biến. Thực tế, đất đai thường là của chung do người đời trước để lại và sau khi chết đi việc phân chia sẽ trở nên khó khăn nếu như không giải quyết nội bộ hoà giải với nhau được. Sẽ gây không ít khó khăn cho pháp luật hiện hành vì mỗi gia đình mỗi hoàn cảnh. Hà nội luôn là một điểm nóng về vấn đề nhà đất và kéo theo điều đó là rất nhiều tranh chấp lien quan đến vấn đề này. Không phải các vụ việc đều được giải quyết ổn thỏa và hợp lí. Để tìm hiểu them về vấn đề này tại chính nơi đang học tập – Thành phố Hà Nội nhóm chúng tôi xin chọn đề tài: “Tìm hiểu 3 vụ việc có tranh chấp về quyền thừa kế quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên địa bàn thành phố Hà Nội”.

doc17 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 28/05/2013 | Lượt xem: 1375 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tìm hiểu 3 vụ việc có tranh chấp về quyền thừa kế quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên địa bàn thành phố Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ………………………………………………………………. 1. Khái quát chung …………………………………………………………… 1. 1     Quyền thừa kế……………………………........................................ 1. 2.      Di sản thừa kế ………………………………….............................. 1.3 Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị …………….. 2.     Một số bản án và nhận xét quyết định của tòa án ……………………. Vụ việc thứ nhất ………………………………….................................. 2.1.1 Nội dung vụ việc …………………………………………..................... 2.1.2 Tòa xét xử ……………………………………………………………. 2.1.3 Nhận xét của nhóm về cách giải quyết của toàn án ……………….. 2.2 Vụ việc thứ hai ………………………………………............................. 2.2.1 Nội dung vụ việc ………………………………………………………. 2.2.2 Quyết định phúc thẩm của Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội Nhận xét quyết định của Tòa án ……………………………............. 2.3 Vụ việc thứ ba ………………………………………….......................... 2.3.1 Nội dung vụ việc ………………………………………………………. 2.3.2 Giải quyết của toàn án ………………………………………………… 2.3.3 Nhận xét quyết định của toàn án ……………………………………… 3. Một số ý kiến của nhóm về quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng KẾT BÀI ………………………………………………………………………. Lời mở đầu Ngày nay, vấn đề tranh chấp đất đai không chỉ diễn ra đơn thuần là các mối quan hệ bình thường mà nó còn diễn ra với những người có quan hệ huyết thống, thậm chí xu hướng tranh chấp của mối quan hệ này ngày càng phổ biến. Thực tế, đất đai thường là của chung do người đời trước để lại và sau khi chết đi việc phân chia sẽ trở nên khó khăn nếu như không giải quyết nội bộ hoà giải với nhau được. Sẽ gây không ít khó khăn cho pháp luật hiện hành vì mỗi gia đình mỗi hoàn cảnh. Hà nội luôn là một điểm nóng về vấn đề nhà đất và kéo theo điều đó là rất nhiều tranh chấp lien quan đến vấn đề này. Không phải các vụ việc đều được giải quyết ổn thỏa và hợp lí. Để tìm hiểu them về vấn đề này tại chính nơi đang học tập – Thành phố Hà Nội nhóm chúng tôi xin chọn đề tài: “Tìm hiểu 3 vụ việc có tranh chấp về quyền thừa kế quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên địa bàn thành phố Hà Nội”. 1. Khái quát chung 1. 1     Quyền thừa kế. Cơ sở pháp lí của quyền thừa kế được xác định tại các văn bản  pháp luật quan trọng như: khoản 1 điều 36 pháp lệnh thừa kế năm 1990, điều 31 luật hôn nhân và gia đình năm 2000, điều 634, điều 648 BLDS năm 1995; điều 631, điều 645 BLDS năm 2005. Nội dung quyền thừa kế bao gồm quyền để lại di sản cho người thừa kế, quyền được hưởng di sản thừa kế, quyền yêu cầu chia di sản thừa kế… Người có tài sản có quyền để lại tài sản thuộc sở hữu của mình bằng cách để lại cho người khác thông qua việc lập di chúc. Người thừa kế có thể hưởng thừa kế trên cơ sở di chúc hoặc theo quy định của pháp luật ( trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp…) 1. 2      Di sản thừa kế Thừa kế là việc chuyển tài sản của người chết cho những người khác ( cá nhân đang còn sống hoặc pháp nhân đang còn tồn tại) theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Trong các loại tài sản để lại thừa kế thì bất động sản được quan tâm đến nhiều nhất mà đặc biệt là nhà ở và quyền sử dụng đất. Quyền thừa kế gắn liền với quyền sở hữu tài sản của cá nhân nhưng, tuy nhiên quyền sử dụng đất đai thuộc sở hữu toàn dân cũng được thừa kế theo quy định của pháp luật. Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế  nhưng vì đây là một loại tài sản đặc biệt nên theo quy định của pháp luật đất đai thì người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền thừa kế khi có các điều kiện như: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án và trong thời hạn sử dụng đất. Theo BLDS năm 2005 chỉ quy định về di sản thừa kế nói chung còn di sản là quyền sử dụng đất được quy định cụ thể trong luật đất đai năm 2003. 1.3 Về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị Ở chương đầu nghị định số 60 của chính phủ ngày 5/7/1994 những quy định chung về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại đô thị quy định: Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất hợp pháp. Nhà ở, đất ở thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này bao gồm: 1. Nhà ở của một hộ gia đình hoặc của nhiều hộ gia đình trong cùng một ngôi nhà; 2. Đất ở tại nội thành, nội thị xã, thị trấn là đất dùng để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ nhu cầu ở và khuôn viên nếu có, phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Nhà ở được phân chia theo ba hình thức sở hữu:1. Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước; 2. Nhà ở thuộc sở hữu của các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế; 3. Nhà ở thuộc sở hữu tư nhân. Tất cả nhà ở và đất ở đều phải được đăng ký. Chủ sở hữu hợp pháp được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo Nghị định này thay thế các loại giấy tờ pháp lý về sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở được cấp từ trước ngày ban hành Nghị định này. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà ở mà Nhà nước đang quản lý do trước đây thực hiện chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa về nhà đất. Nhà nước không thừa nhân việc đòi lại đất ở mà trước đây Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng do việc thực hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2.     Một số bản án và nhận xét quyết định của tòa án Vụ việc thứ nhất 2.1.1 Nội dung vụ việc Nguyên đơn : bà Trương Thị Bản, sinh năm 1926, trú tại số 27, phô Lê Lợi, thị xã Hà Đông, tình Hà Tây. Bị đơn: Ông Trương Gia Hải, sinh năm 1943, trú tại số nhà 27, phường Hoàng Văn Thụ, quân Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nôij. Người có liên quan: Bà Trương Thị Nhân, sinh năm 1948, trú tại số 19, phường Giáp Bát, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Nội dung: Khối tài sản gồm một ngôi nhà ngói 5 gian gắn liền quyền sử dụng diện tích đất 415,62 m2 và diện tích 1010 m2 đất tại xóm Sở, Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội, là tổ tiên để lại cho cụ Xứng. Cụ Trương Gia Xứng có hai vợ. Vợ cả là bà Kim Thị Chính sinh được con là bà Bản, vợ hai là cụ Nguyễn Thị Xuyến sinh được hai người con là ông Trương Gia Hải và bà Trương Thị Nhân. Cụ Xứng chết năm 1952, cụ Xuyến chết năm 1965, cụ Chính chết năm 1985, đều không để lại di chúc. Bà Bản xin được thừa kế căn nhà ngói năm gian gắn với quyền sử dụng 415,69m2 đất đi kèm, còn 1010m2 đất cũng là di sản do bố mẹ để lại nhưng ông Hải đã bán từ năm 1968 nên bà không yêu cầu chia. Ông Hải không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà Bản vì cho rằng : từ năm 1951 cụ Xứng đã mua nhà đất tại thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây để chung sống với mẹ con bà Bản, còn nhà đất hiện nay tại xóm Sở mà ông đang quản lí là cụ Xứng đã để hẳn cho mẹ con ông. Năm 1952 cụ Xứng chết, năm 1965 cụ Xuyến chết (mẹ ông Hải) đứng tên kê khai đất trong bản đồ địa chính xã Mai Dịch. Năm 1986, ông đã kê khai và đứng tên trong bản đồ địa chính của xã diện tích nhà đất trên cho đến nay. Bà Nhân cũng cho rằng, đất tại xóm Sở cụ Xứng đã cho cụ Xuyến và các con của cụ Xuyến. Nay bà đồng ý để lại toàn bộ nhà đất cho ông Hải để thờ cúng tổ tiên. 2.1.2 Tòa xét xử Tòa án sơ thẩm. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 4/6/1996, tòa án nhân dân huyện Từ Liêm quyết định: Xác nhận ngôi nhà ngói 5gian diện tích 55,5m2 cùng các công trình phụ nằm trên diện tích đất 423m2 đất là di sản thừa kế của 3 cụ : cụ Xứng, cụ Chính, cụ Xuyến. Trích công sức duy trì tài sản cho ông Hải là 5% Bác yêu cầu của bà Bản xin nhận thừa kế bằng hiện vật Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Bản khiếu nai. Tòa án phúc thẩm. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 223/DSPT ngày 22/8/1996, tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội quyết định: Chấp nhận yêu cầu xin thừa kế nhà đất tại xóm Sở, Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội của bà Trương Thị Bản. Xác nhận thửa đất gắn liền có diện tích 415,69m2 và giá trị ngôi nhà ngói cổ 5 gian có tổng giá trị là 211.820.000 đồng tại xóm Sở, Mai Dịch, nay là số 49, ngõ 23, ngách 58, Mai Dịch, Cầu Giấy thuộc quyền sử hữu sử dụng hợp pháp của Trương Gia Xứng, Kim Thị Chính và Nguyễn Thị Xuyến. Xác nhận cụ Xứng chết năm 1952, cụ Xuyến chết năm 1965, cụ Chính chết năm 1989 đều không để lại di chúc, di sản thừa kế chia theo pháp luật. Trích 74.138.750 đồng, tương đương với 35% tổng giá trị di sản để thanh toán công sức tu tạo, duy trì khối tài sản cho cụ Xuyến và ông Hải. Xác nhận di sản thừa kế sau khi trừ đi công sức của cụ Xuyến và ông Hải, di sản còn lại có giá trị là 137.686.250 đồng. Xác nhận thanh toán tài sản vợ chồng giữa cụ Xứng, cụ Xuyến, cụ Chính mỗi người có giá trị 45.895.416 đồng. Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trương Gia Xứng gồm 5 người : cụ Chính, cụ Xuyến, bà Bản, ông Hải, bà Nhân. Mỗi kỉ phần thừa kế có giá trị là 9.179.083.2 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nhân, giao toàn bộ kỉ phần thừa kế cho ông Hải. Xác nhân ông Hải được hưởng 55.074.499 đồng thừa kế của cụ Xuyến cộng với 18.358.166 đồng thừa kế của cụ Xứng công với 74.138.750 đồng công sức tôn tạo duy trì. Tổng bằng 147.571.415 đồng. Xác nhận bà Bản được hưởng 55.074.499 đồng (thừa kế của cụ Chính) cộng 9.179.038 đồng ( thừa kế của cụ Xứng) = 64.253.582 đồng. Giao cho ông Hải được sử dụng toàn bộ 415.69 m2 đất và vật liệu nhà ngói 5 gian cũ và có trách nhiệm thanh toán cho bà Bản 64.253.582 đồng. 2.1.3 Nhận xét của nhóm về cách giải quyết của toàn án Tòa sơ thẩm. Theo ý kiến của nhóm, cách giải quyết của Tòa sơ thẩm là chưa chính xác, còn nhiều thiếu xót vì chỉ đưa ra những quyết dịnh chung không cụ thể. Tòa chỉ khẳng đinh rằng 5 gian nhà ngói 55,5 m2 và diện tích đất bằng 423m2 là di sản thừa kế của 3 cụ: cụ Xứng, cụ Xuyến, cụ Chính mà không rõ ra các phần, các quyền tài sản mà những người liện quan được hưởng thừa kế. Tòa quyết định 5% tổng giá trị tài sản cho ông Hải để bù vào công sức duy trì tài sản mà lẽ ra ông Hải là người thuộc diện được hưởng thừa kế và được hưởng theo pháp luật khi bố mẹ ông chết mà không để lại di chúc. Tòa phúc thẩm. Tòa phúc thẩm đã xác định diện tích thửa đất 415,69 m2 và ngôi nhà ngói cổ xóm Sở, Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của 3 cụ: Xứng, Xuyến, Chính là hợp lí. Vì ngôi nhà này có trong thời kì hôn nhân, cả ba cụ từng sống chung tại đó. Vì thế khi ba cụ mất thì di sản thừa kế của ba cụ chính là mảnh đất có diện tích 415,69m2 và ngôi nhà ngói cũ. Cả ba cụ mất và đều không để lại di chúc cho nên theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 675, BLDS thì di sản của cụ sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Từ năm 1951 cụ Xứng đã mua nhà đất tại thị xã hà Đông, tỉnh Hà Tây để chung sống với mẹ con bà Bản nên ngôi nhà và diện tích đất tại xóm Sở, Từ Liêm, Hà Nội do ông Hải và bà Xuyến quản lý. Trong quá trình sinh sống ông Hải và cụ Xuyến đã nhiều lần tu sửa lại ngôi nhà. Cho nên trước khi xác định di sản thừa kế thì cần phải xác định số tiền trả cho ông Hải và cụ Xuyến. Do vậy quyết định của tòa án trích 35% tổng giá trị tài sản để thanh toán công sức tu tạo, duy trì tài sản cho ông hải và bà Xuyến là đúng. Căn cứ vàu điểm a khoản 1 điều 676 BLDS thì hàng thừa kế tứ nhất của cụ Xứng gồm 5 người là cụ Chính, cụ Xuyến, bà Bản, bà Nhân và ông Hải. Năm người này được hưởng những phần thừa kế như nhau. Di sản thừa kế của cụ Chính là 45.895.416 đồng ( sau khi chia tài sản chung với hai cụ Xuyến và Chính). Nay chia đều di sản này làm 5 phần nên mỗi người sẽ được hưởng 9.179.803 đồng cụ Xứng để lại. Đánh giá và xác định phần di sản mà ông Hải được hưởng: ông Hải được hưởng toàn bộ phần di sản của cụ Xuyến vì bà Nhân khước từ không nhận. Di sản của cụ Xuyến gồm có 45.895.416 đồng được hưởng từ tài sản chung và 9.179.803 đồng cụ Xứng để lại. Ngoài ra ông Hải còn được hưởng 9.179.803 đồng của cụ Xứng để lại và 9.179.803 của bà nhân được hưởng của cụ Xứng. Hưởng thêm 74.138.750 đồng tiền tôn tạo duy trì. Vật tổng số tiền mà ông Hải nhân đươc là 147.571.415 đồng. Đánh giá và xác định phần di sản mà bà Bản được hưởng: bà Bản sẽ được hưởng toàn bộ tài sản của cụ Chính bao gồm: 45.895.416 đồng được hưởng từ tài sản chung và 9.179.803 đồng hưởng thùa kế từ cụ Xứng. Ngoài ra bản thân bà Bản được hưởng 9.179.803 đồng thừa kế từ di sản của cụ Xứng. Vậy tổng số tiền mà bà Bản được hưởng là 64.253.582 đồng. Từ những phân tích trên của nhóm, hoàn toàn phù hợp với quyết đinh của tòa án. Vì vậy nhóm đồng ý với cách giải quyết phúc thẩm của tòa án. 2.2 Vụ việc thứ hai 2.2.1 Nội dung vụ việc Nguyên đơn: 1. Cụ Cao Thị Tính - sinh năm 1926 2. Bà Nguyễn Thị Lan Phương - sinh năm 1958 3. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - sinh năm 1963 Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Định - sinh năm 1948. Cụ Tính và cụ Hình kết hôn năm 1945. Năm 2007, cụ Hình chết. Cụ Tính và cụ Hình sinh được 4 người con gồm: Ông Nguyễn Xuân Định; Ông Nguyễn Quốc Trấn (Chấn) Bị bệnh tâm thần từ nhỏ. Bà Nguyễn Thị Lan Phương. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai. Ngoài ra cụ Tính và cụ Hình không có con riêng hay con nuôi nào khác. Các đương sự đều xác nhận cụ Tính và cụ Hình có khối tài sản chung gồm: một nhà ba tầng một tum xây năm 2006 nằm trên thửa đất diện tích đất 70m2 tọa lạc tại C27, tổ 58, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Tổng cộng giá trị nhà đất là 6.223.338.000 đồng. Khi cụ Hình chết được 100 ngày thì ông Định công bố bản di chúc trước sự chứng kiến của mọi người. Nội dung di chúc là giao quyền thừa kế cho cụ Tính và ông Định nhà đất và các tài sản khác để làm nơi thờ cúng. Khi đó các đồng nguyên đơn cho rằng di chúc cụ Hình đã lập có vấn đề về nội dung và hình thức nên các nguyên đơn đã đề nghị Tòa án hủy di chúc và chia di sản thừa kế theo pháp luật, và yêu cầu được hưởng di sản theo pháp luật, tức là di sản của cụ Hình sẽ được chia đều cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hình gồm cụ Tính, bà Phương, bà Mai, ông Trấn (Chấn), ông Định. Các đồng nguyên đơn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hình. Theo đó, các đồng nguyên đơn yêu cầu được hưởng thừa kế bằng tiền, đề nghị Tòa án chia riêng kỷ phần thừa kế đối với từng nguyên đơn rồi mới cộng chung phần thừa kế của các nguyên đơn. 2.2.2 Giải quyết của tòa án Quyết định phúc thẩm của Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội: Đối với yêu cầu xin hủy di chúc và đề nghị chia di sản theo pháp luật do cụ Nguyễn Văn Hình lập ngày 24/6/2007 của các nguyên đơn. Xét thấy: Về hình thức của di chúc thì di chúc của cụ Nguyễn Văn Hình lập ngày 24/6/2005: Được lập bằng văn bản với nội dung đầy đủ rõ ràng; Di chúc có hai người làm chứng là ông Phạm Văn Sinh và bà Nguyễn Thu Hường, cán bộ tư pháp UBND phường Dịch Vọng Hậu là ông Nguyễn Kim Cương cùng xác nhận cụ Hình trực tiếp nghe đọc lại toàn bộ bản di chúc và ký tên vào bản di chúc trong tình trạng hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo và ký trước mặt mọi người; Nội dung bản di chúc là ý nguyện của cụ Nguyễn Văn Hình; Đến nay các đương sự đều thừa nhận chữ ký trong bản di chúc đúng là chữ ký của cụ Hình. Việc ông Lê Quang Lợi – Phó Chủ tịch UBND phường Dịch Vọng chứng thực bản di chúc của cụ Nguyễn Văn Hình có vi phạm quy định về thủ tục chứng thực nhưng điều đó không làm ảnh hưởng đến tính xác thực, tính hợp pháp về mặt hình thức của di chúc theo quy định pháp luật. Như vậy, theo quy định tại các Điều 649, 650, 652, 653, 654, 656, 657 BLDS thì di chúc của cụ Hình lập ngày 24/6/2007 phù hợp với các quy định của pháp luật về mặt hình thức. Tòa giữ nguyên phần định đoạt tài sản cho ông Định và cụ Tính trong di chúc của cụ Hình. Về nội dung di chúc của cụ Nguyễn Văn Hình lập ngày 24/6/2007, xét thấy nhà đất tại C27 tổ 57 phường Dịch Vọng Hậu là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cụ Tính và cụ Hình mỗi người được quyền sở hữu một nửa giá trị nhà đất nêu trên. Tuy nhiên, tại di chúc lập ngày 24/6/2007, cụ hình đã tự ý định đoạt toàn bộ giá trị nhà đất tại C27 tổ 58 phường Dịch Vọng Hậu là vượt quá phần quyền đối với tài sản của mình và tước đi quyền sở hữu đối với tài sản của cụ Tính. Do đó Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các bị đơn. Hủy một phần bản di chúc lập ngày 24/6/2007 của cụ Hình về phần định đoạt đối với quyền sở hữu của cụ Tính tại diện tích nhà đất ở C27 tổ 58 phường Dịch Vọng Hậu. Xác định phần di sản của cụ Hình là ½ diện tích nhà đất ở C27 tổ 58 phường Dịch Vọng Hậu. Các phần còn lại của bản di chúc có hiệu lực thi hành. Xét thấy, cụ Nguyễn Văn Hình và cụ Cao Thị Tính có một người con trai là ông Nguyễn Quốc Trấn (Chấn) bị tâm thần phân liệt, được Tòa án tuyên bố mất khả năng lao động, từ nhỏ phải sống phụ thuộc vào bố mẹ. Theo quy định tại Điều 669 BLDS thì ông Trấn (Chấn) là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nên ông Trấn (Chấn) được hưởng thừa kế bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Hình là 259.305.000 đồng nhưng do ông Trấn (Chấn) bị bệnh tâm thần nên phần tài sản nói trên do cụ Tính quản lý. Tóm lại, những người được hưởng di sản thừa kế của cụ Hình là cụ Tính, ông Định và ông Trấn (Chấn). Đồng nguyên đơn không được hưởng di sản thừa kế theo di chúc cũng như theo Điều 669 BLDS vì họ đều là những người thành niên và có khả năng lao động. 2.2.3 Nhận xét quyết định của Tòa án Thứ nhất, không hủy toàn bộ mà chỉ vô hiệu một phần di chúc của cụ Hình là hoàn toàn chính xác. Theo quy định tại khoản 1 Điều 652 của BLDS thì: “Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật”. Nội dung của di chúc cụ Hình đã tự ý định đoạt cả phần tài sản của cụ Tính mà không được sự đồng ý của cụ Tính, vậy nên nội dung của di chúc đã trái pháp luật và phần định đoạt tài sản đó buộc phải bị vô hiệu. Di chúc có thể bị vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì phần đó không có hiệu lực pháp luật. Theo đó, phần định đoạt tài sản trong di chúc của cụ Hình bị vô hiệu nhưng cụ Hình vẫn còn một nửa phần tài sản để định đoạt nên di chúc của cụ không thể bị vô hiệu hoàn toàn.        Thứ hai, về việc hủy một phần di chúc của cụ Hình lập ngày 24/6/2007 về phần tài sản là giá trị quyền sử dụng đất tại C27, tổ 58, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật. Bởi lẽ đó là tài sản chung của cụ Hình và cụ Tính nên cụ Hình chỉ có quyền định đoạt đối với phần tài sản của mình, đó là ½ giá trị nhà đất ấy. Thứ ba, quyết định chia di sản thừa kế cho ông Trấn (Chấn) là hoàn toàn đúng với pháp luật. Vì ông Trấn (Chấn) là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Ông thuộc vào khoản 2 Điều 669 là “con đã thành niên mà không có khả năng lao động”  nên được hưởng 2/3 di sản chia theo pháp luật. Tuy nhiên do ông Trấn (Chấn) bị tâm thần từ nhỏ nên phần tài sản được thừa kế sẽ do cụ Tính quản lý. Theo điểm b khoản 2 Điều 675 quy định thì thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp “phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật”. Có cách hiểu điều luật này cụ thể như sau, có người sẽ hiểu là “phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật” thì sẽ không có hiệu lực đối với toàn bộ phần ấy. Tức là nếu hiểu theo cách đó thì trong trường hợp này sẽ được giải quyết như sau: Như vậy theo điểm b khoản 2 Điều 675, phần di chúc của cụ Hình về giá trị nhà đất của cụ Hình và cụ Tính không có hiệu lực pháp luật thì phần tài sản ấy sẽ không được chia theo di chúc. Vì đã không có hiệu lực pháp luật thì không có hiệu lực toàn bộ đối với phần đó của di chúc. Như vậy thì phần di sản của cụ Hình còn lại là sẽ được chia theo pháp luật thì sẽ được chia năm cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Đây là một cách hiểu hoàn toàn sai, không thoát ý của điều luật. Theo cách hiểu này thì vô tình đã ghép cụm “hiệu lực pháp luật” với từ “di sản”. Đây chính là sai lầm. Chỉ có di chúc mới có khái niệm “hiệu lực pháp luật” đi kèm. Do đó không thể hiểu theo cách này. 2.3 Vụ việc thứ ba 2.3.1 Nội dung
Luận văn liên quan