Khóa luận Nghiên cứu hiện trạng phân bố của quần thể dừa nước tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An

Trải dài trên nhiều vĩ tuyến và có khí hậu thay đổi từ Bắc đến Nam, hệ sinh thái rừng Việt Nam, nhất là rừng ngập mặn (RNM) có tính đa dạng sinh học rất cao. Rừng ngập mặn là hệ sinh thái có năng suất cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với các tác động của con người và thiên nhiên. RNM không những cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ, than, củi, mà còn là nơi sống và ươm giống của nhiều loài hải sản, chim nước. Ngoài ra, RNM còn có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ biển, bờ sông điều hòa khí hậu, hạn chế xói lỡ, mở rộng diện tích lục địa, bảo vệ nơi sống của người dân ven biển trước sự tàn phá của gió mùa, bão, nước biển dâng. Tuy nhiên, chiến tranh và sức ép dân số đã làm cho những thảm thực vật RNM ở Việt Nam suy thoái nghiêm trọng. Ở Quảng Nam hệ sinh thái dừa nước có vai trò quan trọng đối với môi trường và sinh vật. Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng ngập mặn ở ven biển Cẩm Thanh ( Hội An) mất dần do việc khai thác nguyên liệu dừa nước một cách ồ ạt để phát triển làng nghề và đào ao nuôi tôm, cua, cá, đã tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm nước mặn vào đất liền diễn ra rất nhanh, thúc đẩy quá trình xói lỡ, gây ô nhiễm đất và nguồn nước [11]. Đặc biệt, trong bối cảnh sự biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra nhanh chóng trên quy mô toàn cầu, trong khi Việt Nam được dự báo là một trong 5 quốc gia trên thế giới sẽ hứng chịu hậu quả nặng nề nhất do thảm họa này gây ra với những tác nhân được cho là chủ yếu đến từ phía biển. Cũng theo các chuyên gia về môi trường, rừng ngập mặn đóng một vai trò tích cực trong việc góp phần giảm thiểu BĐKH cũng như những thiệt hại do BĐKH có thể gây ra, đồng thời tạo ra điều kiện tốt cho việc thích ứng với BĐKH, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên em chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng phân bố của quần thể dừa nước tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An” nhằm nắm được các quy luật phát triển của các quần xã sinh vật đồng thời chủ động điều khiển sự diễn thế theo hướng có lợi cho con người. Có biện pháp khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên từ rừng dừa nước.

doc43 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 07/06/2013 | Lượt xem: 1862 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Nghiên cứu hiện trạng phân bố của quần thể dừa nước tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐỨC TRÍ KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG ––––@&?———— NGÔ THỊ TRÀ MY NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI Xà CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÀ NẴNG, 2011 TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐỨC TRÍ KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG ––––@&?———— NGÔ THỊ TRÀ MY NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI Xà CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG Người hướng dẫn khoa học: NGUYỄN THỊ GIA THẠNH ĐÀ NẴNG, 2011 LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập tại trường em đã tiếp thu rất nhiều kiến thức và khóa luận này là thành quả của quá trình học tập và rèn luyện dưới sự dày công dạy bảo của Quý Thầy Cô Trường Cao đẳng Đức Trí. Em xin gởi đến Quý Thầy Cô lời cảm ơn chân thành, đặc biệt em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Gia Thạnh đã giúp em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn các chú trong Hội Nông Dân xã Cẩm Thanh đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm đề tài. Với thời gian thực tập hạn hẹp và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên không tránh khỏi những thiếu xót, em kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của Quý Thầy cô. Cuối cùng em vô cùng cảm ơn gia đình đã động viên và tạo điều kiện hết sức để em hoàn thành khóa luận này. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn và kính chúc Quý Thầy cô sức khỏe và thành đạt. Đà Nẵng, ngày 14 tháng 5 năm 2011 Sinh viên thực hiện Ngô Thị Trà My DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tên gốc RNM Rừng ngập mặn UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc UBND Uỷ ban nhân dân DN Dừa nước ĐNN Đất ngập nước BĐKH Biến đổi khí hậu ĐDSH Đa dạng sinh học DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1. Phân bố dân cư theo đơn vị thôn Bảng 3.1. Biến động diện tích rừng Dừa nước ở xã Cẩm Thanh theo thời gian Bảng 3.2. Độ mặn ở một số điểm DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1. Biểu đồ diễn biến diện tích dừa nước từ năm 1980 – 2010 Hình 3.2 . Ranh giới hành chính xã Cẩm Thanh ở hạ lưu sông Thu Bồn và vị trí phân bố của dừa nước. Hình 3.3. Hoa và quả Dừa nước Hình 3.4 . Chuyển diện tích rừng Dừa nước thành ruộng nuôi tôm Hình 3.5. Khai thác thủy sản và rong câu từ rừng Dừa nước Hình 3.6. Vật liệu xây dựng làm từ lá dừa nước Hình 3.7. Nhà du lịch được làm từ Dừa nước Hình 3.8. Khai thác hàu trong rừng Dừa nước Hình 3.9. Vai trò môi trường của rừng Dừa nước đối với các rạn san hô ở Cù Lao Chàm MỞ ĐẦU Trải dài trên nhiều vĩ tuyến và có khí hậu thay đổi từ Bắc đến Nam, hệ sinh thái rừng Việt Nam, nhất là rừng ngập mặn (RNM) có tính đa dạng sinh học rất cao. Rừng ngập mặn là hệ sinh thái có năng suất cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với các tác động của con người và thiên nhiên. RNM không những cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ, than, củi,… mà còn là nơi sống và ươm giống của nhiều loài hải sản, chim nước. Ngoài ra, RNM còn có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ biển, bờ sông điều hòa khí hậu, hạn chế xói lỡ, mở rộng diện tích lục địa,…bảo vệ nơi sống của người dân ven biển trước sự tàn phá của gió mùa, bão, nước biển dâng. Tuy nhiên, chiến tranh và sức ép dân số đã làm cho những thảm thực vật RNM ở Việt Nam suy thoái nghiêm trọng. Ở Quảng Nam hệ sinh thái dừa nước có vai trò quan trọng đối với môi trường và sinh vật. Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng ngập mặn ở ven biển Cẩm Thanh ( Hội An) mất dần do việc khai thác nguyên liệu dừa nước một cách ồ ạt để phát triển làng nghề và đào ao nuôi tôm, cua, cá, đã tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm nước mặn vào đất liền diễn ra rất nhanh, thúc đẩy quá trình xói lỡ, gây ô nhiễm đất và nguồn nước [11]. Đặc biệt, trong bối cảnh sự biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra nhanh chóng trên quy mô toàn cầu, trong khi Việt Nam được dự báo là một trong 5 quốc gia trên thế giới sẽ hứng chịu hậu quả nặng nề nhất do thảm họa này gây ra với những tác nhân được cho là chủ yếu đến từ phía biển. Cũng theo các chuyên gia về môi trường, rừng ngập mặn đóng một vai trò tích cực trong việc góp phần giảm thiểu BĐKH cũng như những thiệt hại do BĐKH có thể gây ra, đồng thời tạo ra điều kiện tốt cho việc thích ứng với BĐKH, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên em chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng phân bố của quần thể dừa nước tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An” nhằm nắm được các quy luật phát triển của các quần xã sinh vật đồng thời chủ động điều khiển sự diễn thế theo hướng có lợi cho con người. Có biện pháp khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên từ rừng dừa nước. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Tổng quan về rừng ngập mặn 1.1.1. Khái niệm rừng ngập mặn Rừng ngập mặn là kiểu rừng phát triển trên vùng đất lầy, ngập nước mặn vùng cửa sông, ven biển, dọc theo các sông ngòi, kênh rạch nước lợ. RNM là một thuật ngữ mô tả hệ sinh thái thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tạo trên nền các thực vật vùng triều với tổ hợp động thực vật đặc trưng [3]. 1.1.2. Vai trò của rừng ngập mặn 1.1.2.1. Bảo tồn đa dạng sinh học cho đới biển ven bờ Hệ sinh thái RNM chứa đựng mức đa dạng sinh học rất cao. Nơi ở trong RNM phân hóa rất mạnh: trên không, mặt đất, trong nước với các dạng đáy cứng, đáy mềm, hang trong đất, những không gian chật hẹp trong bụi cây, bộ rễ, độ muối lại biến động thường xuyên. Sinh vật sống trong RNM không những có số lượng loài đông mà trong nội bộ mỗi loài còn có những biến dị phong phú dễ thích nghi với những nơi ở khác nhau, nguồn sống khác nhau và điều kiện sống biến đổi muôn màu. Bởi vậy rừng ngập mặn là nơi lưu trữ nguồn gen giàu có và có giá trị. Các khu RNM ở Châu Á bước đầu đã thống kê được 1918 loài sinh vật, trong đó vi khuẩn, tảo 100 loài, thực vật 208 loài, động vật không xương sống ở nước 491 loài, côn trùng và nhện 500 loài, động vật có xương sống 520 loài. RNM là nơi sống của nhiều loài tôm, cua, cá và cũng là bãi đẻ của chúng. Đối với nhiều loài động vật trên cạn mà cuộc sống gắn liền với bãi triều thì RNM là nơi tập trung để kiếm thức ăn. 1.1.2.2. Duy trì nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển các loài sinh vật RNM hàng năm cung cấp một sản lượng rơi rụng khá lớn để làm giàu cho môi trường đất rừng và vùng cửa sông ven biển. Ngoài các chất thải bã, xác chết của các loài động vật, lượng rơi rụng của bản thân cây rừng được đánh giá vào khoảng 8-20 tấn/ha, trong đó 79,7% là lá. Những sản phẩm này một phần có thể sử dụng trực tiếp bởi một số ít loài động vật, một phần nhỏ nằm dưới dạng chất hữu cơ hòa tan cung cấp cho một số loài dinh dưỡng bằng con đường thẩm thấu. Phần chủ yếu còn lại chuyển thành nguồn thức ăn phế liệu hay cặn vẩn để nuôi sống các loài động vật ăn mùn bã thực vật . 1.1.2.3. RNM là nơi nuôi dưỡng ấu trùng, ấu thể các hải sản RNM không những là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là nơi cư trú, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị, đặc biệt là các loài tôm sú, tôm biển xuất khẩu. Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua,… có một hoặc nhiều giai đoạn bắt buộc phải sống trong các vùng nước nông, cửa sông có RNM. Ví dụ điển hình là vòng đời của loài tôm thẻ (Penaeus merguiensis). Loài tôm này có tập tính đẻ ở biển, cách xa bờ chừng 12 km, do tác động của dòng nước và thay đổi của nước triều, sau khi trứng thụ tinh, ấu trùng chuyển vào vùng nước ven bờ, bơi dần vào cửa sông theo nước triều lên, thường tìm những vùng nước nông có giá bám như bụi cỏ, rễ cây,… sau đó đi sâu vào kênh rạch RNM. Chúng sinh trưởng và phát triển ở đó cho tới khi thành thục, thường từ 3 – 4 tháng. Ở giai đoạn trưởng thành thì chúng lại bắt đầu di cư ra biển để đẻ. RNM ở đây vừa là nơi bảo vệ vừa là nơi nuôi dưỡng con non. Với vai trò vừa là nơi bảo vệ, nuôi dưỡng con non, con giống vừa cung cấp thức ăn, RNM đóng góp một cách đáng kể vào sản lượng thủy sản. 1.1.2.4. Nơi bảo tồn nguồn gen của các loài động vật trên cạn RNM có vai trò quan trọng không kém gì rừng nội địa đồng thời là nơi lưu trữ những loài động vật quý hiếm mà trên cạn không có như cá sấu nước, hổ Bengal. Khu hệ động vật của RNM Việt Nam khá phong phú. Một vài nghiên cứu ở rừng cấm Năm Căn ( Cà Mau) số lượng ếch nhái có 6 loài, bò sát 18 loài, chim 41 loài, động vật có vú 15 loài trong đó có nhiều loài thú lớn như lợn rừng, vượn, hổ, nai và đông nhất và có giá trị là chim dao động từ 121 – 147 loài. Ở nhiều nơi trong rừng ngập mặn không nhiều loài nhưng số lượng rất đông, tạo nên nhiều sân chim nổi tiếng. Ở đây có rất nhiều loài chim quý hiếm của thế giới như già đẫy, hạc cổ trắng, cò thìa, nhiều loài chim di cư từ phương bắc và còn có các loài chim được ghi vào sách đỏ của thế giới. Ngoài các động vật trên thì RNM còn đa dạng và phong phú về các loài côn trùng. 1.1.2.5. Giảm mạnh độ cao của sóng khi triều cường Rừng ngập mặn trong trạng thái tốt sẽ làm giảm các lực tác động của bão và sóng thần, đồng thời cũng hấp thụ một phần lớn năng lượng của nước dâng và làm giảm thiểu thiệt hại do sóng thần gây ra. Ở các nước Ðông Nam Á, nhờ sự tồn tại của vành đai bảo vệ bờ bao gồm các rạn san hô và rừng ngập mặn, nên những trận sóng thần trong lịch sử đã không gây nên những thiệt hại lớn về người và của. Các trận sóng thần phải vượt qua rào chắn của các rạn san hô trước khi đạt tới bờ và tại đây chúng bị hấp thụ bởi một lớp dày đặc cây cối của rừng ngập mặn. Những hàng cây thấp, mềm mại với bộ cành và rễ kéo dài từ mặt biển xuống lớp bùn cát đáy biển sẽ hấp thụ năng lượng va đập ban đầu của sóng thần. Khi vượt qua lớp này, sóng đi tiếp vào sẽ bị cản trở và triệt tiêu bởi hàng cây ngập mặn cao hơn. Các nhà khoa học cho rằng sức phá hoại của sóng thần có độ cao 15m hầu như sẽ bị tiêu tán hết khi vượt qua đới bờ nguyên sinh phát triển bao gồm san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn. Những vành đai xanh bảo vệ này còn có một vai trò sinh tử trong giảm thiểu bồi lấp và xói lở bờ biển. 1.1.2.6. Bảo vệ đê và hạn chế xâm nhập mặn Hệ thống rễ dày đặc của các loài cây RNM có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất ven biển và vùng cửa sông. Chúng vừa ngăn chặn hiệu quả sự công phá bờ biển của sóng, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng, giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ nên bảo vệ được đất. Ví dụ: Ở huyện Thái Thụy – Thái Bình có hai tuyến đê số 7 dài 45,1 km, đê số 8 dài 41,5km bao quanh huyện. Hầu hết hai tuyến đê này được xây dựng từ lâu đời, việc đắp đê chủ yếu bằng lao động thủ công nhưng cơn bão số 6 và số 7 năm 2005 đúng lúc triều cường sóng lớn nhưng các tuyến đê ở Thái Thụy không bị xói lở đó là nhờ dải RNM với diện tích 4.564 ha rừng với độ rộng 800 đến 1.300 mét. Độ cao cây trung bình từ 2,5 đến 3 mét với các loài cây: sú vẹt, đước, trang. Khi RNM chưa bị phá thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm, phạm vi hẹp, vì khi thủy triều cao nước đã lan tỏa vào trong những khu RNM có hệ thống rễ cây dày đặc đã làm giảm tốc độ dòng chảy, tán cây hạn chế tốc độ gió. Nhưng hiện nay, hầu hết RNM ven biển đã bị phá để làm ruộng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đắp những dãy bờ lớn để làm đầm nuôi tôm quảng canh làm thu hẹp phạm vi phân bố của nước triều ở ven biển, cưả sông. Do đó, nước mặn theo dòng triều lên được gió mùa hỗ trợ đã vào sâu trong các dòng sông trong đất liền với tốc độ lớn, kèm theo sóng, gây ra xói lở bờ sông và các chân đê. Nước mặn còn thẩm thấu qua chân đê vào đồng ruộng, làm năng suất bị giảm, thiếu nước ngọt, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt. 1.1.2.7. Điều hòa khí hậu, tích tụ cacbon Rừng ngập mặn có vai trò điều hòa khí hậu, Theo Blasco (1975) nghiên cứu khí hậu và vi khí hậu rừng, đã có nhận xét: các quần xã RNM là một tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt. Hệ sinh thái RNM giúp cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, điều hoà khí hậu địa phương (nhiệt độ, lượng mưa) và giảm thiểu khí nhà kính. Theo Lê Xuân Tuấn và cộng sự, 2005, hàm lượng CO2 của nước ở trong rừng (7,38mg/l) thấp hơn nơi không có rừng (7,63mg/l). Lượng cacbon tích tụ trên bề mặt đến độ sâu 100cm khoảng từ 71- 82 tấn cacbon/ha. Nhờ các tán lá hút CO2 mạnh nên hàm lượng khí CO2 nơi có rừng giảm mạnh, qua đó làm cho pH của nước phù hợp với điều kiện sống của thủy sinh vật 1.1.3. Thành phần của rừng ngập mặn Theo Phan Nguyên Hồng (1999), khu hệ thực vật rừng ngập mặn Việt Nam bao gồm 47 họ thực vật. Số lượng loài biến động theo từng vùng khác nhau: vùng ven biển Bắc Bộ có 52 loài, vùng ven biển Trung Bộ có 69 loài, vùng ven biển Nam Bộ có 100 loài. Trong khu hệ thực vật rừng ngập mặn có 5 họ thực vật giữ vai trò quan trọng là họ Đước (Rhizophoraceae), họ Mắm (Avicemiaceae), họ Bần ( Sounerratiaceae), họ Đơn nem ( Myrsinaceae) và họ Dừa ( Palmae). Khu hệ động vật rừng ngập mặn bao gồm một tập hợp các loài động vật không xương sống và có xương sống có nguồn gốc từ môi trường đất liền, biển và nước ngọt. Ví dụ: Kết quả nghiên cứu ở rừng ngập mặn Cần Giờ ( Thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy có 22 loài động vật sống nổi trên mặt nước, 114 loài động vật đáy bao gồm 34 loài giun, 51 loài giáp sát, 29 loài thân mềm, 137 loài cá, 9 loài lưỡng cư, 31 loài bò sát, 130 loài chim, 19 loài động vật có vú ( theo Vũ Trung Tạn, 1994 ; Phạm Đình Trọng, 1995 ; Lê Đức Tuấn, 1997). Trong các loài động vật thì tôm là loài động vật có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với rừng ngập mặn. 1.1.4. Phân bố rừng ngập mặn 1.1.4.1. Phân bố rừng ngập mặn trên thế giới Trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở các vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới và một vài loài ở vùng á nhiệt đới. Theo đánh giá của Hutchings và Seaneg (1987) thì diện tích RNM trên thế giới là 15.429.000 ha, trong đó 6.246.000 ha nằm ở vùng Châu Á nhiệt đới và Châu Đại Dương, 5.781.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới và 3.402.000 ha thuộc châu Phi. Trên phạm vi toàn cầu, Wash (1974) cho rằng sự phân bố địa lý của RNM trên thế giới chia thành hai khu vực chính là khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương bao gồm Nam Nhật Bản, Philippin, Đông Nam Á, Ấn Độ, bờ biển Hồng Hải, Đông Phi, Úc, NewZealand, các đảo phía Nam Thái Bình Dương kéo dài tới quần đảo Xamoa và khu vực Tây Phi – Châu Mỹ bao gồm bờ biển Châu Phi ở Đại Tây Dương, quần đảo Galapagos và Châu Mỹ, khu vực Ấn Độ - Malaysia được xem là trung tâm phân bố các loài ngập mặn. Các vùng RNM phồn thịnh nhất ở Đông Nam Á bao gồm: Malaysia, Indonesia, Việt Nam. 1.1.4.2. Phân bố rừng ngập mặn ở Việt Nam Theo Phan Nguyên Hồng, hệ sinh thái rừng ngập mặn nước ta gồm có 77 loài cây ngập mặn thuộc 2 nhóm được phân chia theo các điều kiện môi trường và dạng sống khác nhau. Nhóm 1 có 35 loài cây ngập mặn thuộc 20 chi của 16 họ, nhóm này thường được gọi là cây ngập mặn “thực thụ”. Nhóm 2 có 42 loài thuộc 36 chi của 28 họ, nhóm này bao gồm các loài cây “gia nhập” . Sự phân bố địa lí rừng ngập mặn khác nhau giữ miền Bắc với miền Nam . Ở miền Nam có 69 loài trong khi ở miền Bắc chỉ có 34 loài. Sự phân bố, độ nhiều của các loài thực vật ngập mặn ven biển Việt Nam cho thấy phần lớn đều nằm ở ven biển Nam Bộ, rồi đến Bắc Bộ và miền Trung. Theo Phan Nguyên Hồng thì RNM Việt Nam được chia thành 4 khu vực bao gồm: Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ từ mũi Đồ Sơn đến cửa Lạch Trường Khu vực III: Ven biển miền Trung từ cửa Lạch Trường đến mũi Vùng Tàu Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến Hà Tiên 1.1.5. Tình hình RNM trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.5.1. Tình hình RNM trên thế giới Trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở các vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới và một vài loài ở vùng á nhiệt đới. Theo đánh giá của Hutchings và Seaneg (1987) thì diện tích RNM trên thế giới là 15.429.000 ha, trong đó 6.246.000 ha nằm ở vùng Châu Á nhiệt đới và Châu Đại Dương, 5.781.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới và 3.402.000 ha thuộc châu Phi. Tuy nhiên, tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu và thời gian công bố của từng nước mà diện tích rừng ngập mặn có nhiều sai khác. RNM đang đối mặt với với nhiều thách thức như diện tích rừng ngập mặn trên thế giới liên tục suy giảm do các yếu tố của thiên nhiên và con người. Theo một báo cáo mới của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) và Hội bảo tồn thiên nhiên, trên toàn thế giới, các cánh rừng ngập mặn đang biến mất với tốc độ nhanh chóng: kể từ năm 1980, 1/5 rừng ngập mặn trên thế giới bị chặt phá. Rừng ngập mặn được trồng ở các vùng biển nước mặn đang mất đi với tốc độ nhanh gấp 4 lần so với các loại rừng khác. Chúng đang bị phá hủy chủ yếu cho mục đích nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp và phát triển bờ biển trên toàn thế giới. Theo báo cáo, thậm chí các rừng ngập mặn còn sót lại cũng đang bị suy thoái [10]. 1.1.5.2. Tình hình RNM ở Việt Nam Rừng ngập mặn ( RNM) tại Việt Nam được nghiên cứu từ rất lâu. Trước chiến tranh Việt Nam có khoảng 400.000 hecta, ngày nay còn khoảng 200.000 hecta do rừng mới được trồng [2]. Theo Phan Nguyên Hồng thì rừng ngập mặn ở Việt Nam suy giảm diện tích do những nguyên nhân sau: chiến tranh hóa học, khai thác quá mức, nuôi tôm quảng canh,… Diện tích RNM ở Nam Bộ bị rải chất diệt cỏ trong chiến tranh là 159.200 ha. Sau 20 năm phần lớn diện tích đã phục hồi, nhưng ở nhiều nơi sau khi rừng tái sinh, nhân dân địa phương lại tiếp tục chặt phá để làm đầm nuôi tôm. Theo thống kê của công ty Seaprodex (1987) từ 1981-1987 diện tích làm đầm nuôi tôm nước lợ từ 50000 ha đã lên 120.000 ha. Minh Hải tỉnh có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất cũng là nơi rừng ngập mặn bị phá hủy nhiều nhất. Trong vòng 8 năm từ 1983-1995 Minh Hải đã mất đi 66.253 ha rừng do việc làm đầm nuôi tôm, bình quân mỗi năm mất 8280 ha. 1.1.6. Nguyên nhân suy thoái rừng ngập mặn RNM Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng. Dưới đây là một số nguyên nhân chính. 1.1.6.1. Chiến tranh hóa học Ở Việt Nam, RNM là những căn cứ quan trọng của hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chính vì thế, mà quân đội Mỹ đã dùng bom đạn và chất độc hóa học, chất diệt cỏ và chất làm rụng lá cây với liều lượng cao để hủy diệt rừng. Theo kết quả điều tra của viện điều tra quy hoạch rừng, đối chiếu với kết quả điều tra của một số địa phương, bước đầu tính ra được diện tích RNM Nam Bộ bị rải chất diệt cỏ là 159.200 ha. 1.1.6.2. Khai thác quá mức Miền Nam sau chiến tranh nhân dân ven biển trở về quê cũ cùng với sự di dân ồ ạt từ nhiều nơi khác đến vùng RNM cùng với nhu cầu về xây dựng, củi, than đun nấu tăng. Mặt khác, việc khai thác của ngành lâm nghiệp tăng hàng năm. Có một thời gian nhân dân đua nhau làm các lò than gia đình đem ra các tỉnh khác bán đã phá hủy các khu rừng quí giá kể cả rừng mới trồng sau chiến tranh. 1.1.6.3. Phá RNM để làm đầm nuôi tôm quảng canh Do nhu cầu về tôm xuất khẩu lớn vào những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, ở hầu hết vùng ven biển, cửa sông nước ta, nhân dân và các cơ quan đã phá những khu rừng ngập mặn xanh tốt để làm đầm nuôi tôm quảng canh thô sơ. Ở nhiều địa phương RNM đã biến mất còn lại các đầm tôm và đất hoang hóa. 1.1.6.4. Phá RNM lấy đất sản xuất nông nghiệp Do tăng dân số quá nhanh, thiếu lương thực nên nhiều địa phương đã phá RNM để lấy đất sản xuất nông nghiệp hậu quả là thiếu nước ngọt, năng suất cây trồng thấp hoặc không thu hoạch được. Ví dụ: Vào đầu những năm 1960, tỉnh Quảng Ninh có chủ trương phá hơn 2.000 ha RNM tự nhiên ( ở xã Hải Lạng – Tiên Yên) đắp đê sản xuất nông nghiệp nhưng không có nước tưới buộc phải bỏ hoang sau chuyển sang nuôi thủy sản cũng không thành công. 1.1.6.5. Phá rừng ngập mặn làm đồng muối Do dân số tăng nhanh, thiếu việc làm nhân dân một số nơi đã phá RNM để làm ruộng muối, kể cả rừng phòng hộ như Thụy Nguyên, Kiến Thụy( Hải Phòng), Vĩnh Châu ( Sóc Trăng). Ở Minh Hải có 9,067 ha ruộng muối trải dài trên 59 km bờ biển, phần lớn là do phá rừng mắm phòng hộ ven biển để làm muối. Tuy nhiên, đất ngập mặn là đất rất mịn, các hạt sét cỡ 0,062 mm chiếm 50 – 70% do đó mà khả năng thẩm thấu, bốc hơi nước kém. Mặt khác, trầm tích có lượng sulphua cao, lớp mặt thường là 1,5 -2 %, lớp xám xanh ở dưới 2,5 -3,5%. Đây là nguyên nhân cản trở quá trình hình thành muối. Do nước triều ở các vùng RNM chứa nhiều phù sa, độ đục lớn nên chất lượng muối kém. Hậu quả là một số cơ sở sản xuất muối đã thất bại. 1.1.6.6. Khai thác khoáng sản Khi khai th